Đại sứ cho khát vọng của phụ nữ Việt Nam
10:41 07/03/20

Đến với nghiên cứu về phụ nữ bởi chữ “duyên”, nhưng GS.TS Lê Thị Quý* đã gắn bó, trăn trở, tâm huyết cả đời với số phận của những người phụ nữ yếu thế. Bằng những cống hiến miệt mài vì quyền của phụ nữ, bà được mệnh danh là “Đại sứ cho khát vọng của phụ nữ Việt” và được đề cử Giải Nobel hòa bình năm 2005.

Cơ duyên với nghiên cứu phụ nữ

Bà Lê Thị Quý sinh năm 1950, trong gia đình nhà Nho tại vùng đất Kinh Bắc xưa. Năm 1967, tốt nghiệp khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, bà xung phong làm phóng viên chiến trường. Đất nước thống nhất, vợ chồng bà vào công tác tại Viện Khoa học xã hội miền Nam, thành phố Hồ Chí Minh, là một viện nghiên cứu do chính người cha  GS Đặng Vũ Khiêu[1] được Ủy ban khoa học Xã hội Việt Nam cử vào xây dựng. Ở môi trường công tác này, bà có điều kiện được tiếp xúc và làm việc với những người tham gia phong trào công nhân và các chiến sĩ cộng sản từng hoạt động bí mật. Cùng với nguồn tài liệu phong phú, bà nghiên cứu và xuất bản cuốn “Nghiệp đoàn Sài Gòn và phong trào công nhân miền Nam Việt Nam (thời kỳ 1954-1975)”.

Năm 1983, nền kinh tế đất nước sa sút, ách tắc, nên đời sống người lao động nói chung gặp nhiều khó khăn, trong đó có gia đình bà. Mặc dù chồng bà - ông Đặng Cảnh Khanh[2] đang làm nghiên cứu sinh ở Bulgary, một mình chăm sóc, nuôi dạy con nhỏ, nhưng với quyết tâm: Chỉ có một con đường đi lên là học[3], bà đăng ký và đỗ kỳ thi tuyển nghiên cứu sinh. Năm 1984, bà được đi học tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Trong hoàn cảnh chồng một nơi, con một nẻo, bà đã từng buồn rầu, khóc rất nhiều vì thương con. Nhưng rồi bà lấy đó làm động lực cố gắng và đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ chuyên ngành lịch sử năm 1989.

Trở về nước, TS Lê Thị Quý được phân công làm Thư kí tòa soạn Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ (thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam). Bà rất bận rộn vì đảm nhận tất cả công việc: trị sự, phân phối, xin giấy phép, soạn bài, biên tập…. Thời điểm này, các tài liệu về nữ quyền bắt đầu ồ ạt về Việt Nam. Bà có cơ hội tiếp cận nhiều tài liệu, hứng thú tìm đọc về vấn đề này và bà sung sướng xác định đây chính là con đường bà sẽ gắn bó, theo đuổi nghiên cứu cả cuộc đời. Bà còn nhớ, trong một buổi họp về vấn đề công đoàn và công nhân, nhà văn Xuân Cang (khi đó là thành viên Ban thư ký Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam) ngỏ ý mời bà về làm Viện trưởng Viện Công nhân. Không đắn đo suy nghĩ, bà liền trả lời: Em xin từ chối, vì em đã quyết định chọn nghiệp nghiên cứu về phụ nữ và xác định cả đời gắn bó với nó nên em sẽ không đi đâu nữa[4]. Mặc dù, vấn đề công nhân là chuyên môn gắn bó với bà khi theo học ngành Lịch sử. Nhưng với bà, vấn đề về phụ nữ quá hay và hấp dẫn, gần gũi với bản thân, nên đã thôi thúc bà toàn tâm trong các dự án nghiên cứu.

 
 GS.TS Lê Thị Quý, 2018

Đấu tranh, để tiên phong nghiên cứu

Đầu những năm 90, Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ có xu hướng nghiên cứu những vấn đề tích cực trong phong trào phụ nữ, như phụ nữ nông dân, phụ nữ công nhân, phụ nữ trí thức… TS Lê Thị Quý lại chọn cho riêng mình hướng nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới. Bà đau đáu với câu hỏi luôn thường trực trong bà: Số phận của những người phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, mại dâm, buôn bán người,… rồi sẽ ra sao? Đất nước bắt đầu chặng đường đổi mới, đây là vấn đề khá nhạy cảm, nên khi bà đặt vấn đề nghiên cứu với Ban lãnh đạo Trung tâm thì lập tức bị phản đối. Thậm chí, nhiều người cho rằng những nghiên cứu mà bà đề xuất mang tính “nói xấu chế độ”. Trong một hội nghị khoa học của Trung tâm, bà thẳng thắn nêu ra quan điểm của mình: Trung tâm của chúng ta nghiên cứu về phụ nữ, mà không bảo vệ được những người phụ nữ trong tình cảnh như thế thì chúng ta có nên làm nghiên cứu nữa không[5]. Bà bảo, trong khoa học bà vẫn dám đương đầu như thế! Nhưng nay nhớ lại bà cũng thấy mình hơi liều.

 Không nhận được sự ủng hộ của đồng nghiệp, TS Lê Thị Quý vẫn âm thầm thực hiện mục tiêu nghiên cứu của mình. Hàng ngày, sau giờ làm việc bà đạp xe đi thu thập số liệu, đến các cơ quan công an, trung tâm phục hồi nhân phẩm phụ nữ mại dâm để trò chuyện, tìm hiểu. Bà vẫn lao vào nghiên cứu bằng cái tâm, trong khi những bài viết của bà không có nơi nào dám đăng tải. Cũng đầu những năm 90, đại dịch AIDS bùng nổ, PGS.TS Lê Diên Hồng – Chủ tịch Ủy ban phòng chống AIDS quốc gia mời Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ góp một bài nghiên cứu trong hội nghị phòng và chống mại dâm. Thời điểm đó, bà là người duy nhất nghiên cứu về vấn đề này, nên nhận được tin bà mừng rỡ vì tâm huyết nghiên cứu bấy lâu đã có lối đi: Bấy giờ HIV/AIDS là bệnh tật, vấn đề đau khổ của các nước, nhưng đối với tôi nó đã mở ra và giúp tôi được công khai hóa những nghiên cứu của riêng mình[6]. Qua những lần gặp và trò chuyện trực tiếp với những người phụ nữ hành nghề mại dâm, bà thấu hiểu họ và công bố bài nghiên cứu đầu tiên “Các khía cạnh kinh tế, tâm lý xã hội của nạn mại dâm”, trên Tạp chí Khoa học và Phụ nữ. Bà chia sẻ: Sau khi đăng bài, làn sóng dư luận ầm ầm nổi lên, một bài viết “láo” đầu tiên được công khai[7]. Các quan điểm bà phân tích trong bài viết được PGS Lê Diên Hồng rất ủng hộ: Quan điểm này rất đúng cháu ạ![8]

Năm 1996, một số nhà khoa học của Hà Lan, Campuchia, Thái Lan triển khai Dự án “Phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em ở khu vực Đông Nam Á”, bà Lê Thị Quý được mời làm Chủ nhiệm đề tài “Phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới ở Việt Nam”. Bà kể, khi thực hiện đề tài này bà gặp vô vàn trắc trở, bởi lãnh đạo Trung tâm không ủng hộ, cuối cùng bà phải nhờ đến sự giúp đỡ của Viện Nghiên cứu thanh niên (khi đó chồng bà là Viện trưởng) thực hiện đề tài. Khó khăn chưa dừng lại ở đó, khi triển khai đề tài ở thành phố Hồ Chí Minh, đến đâu đoàn của bà cũng bị từ chối hợp tác, đến mức bà xấu hổ với chuyên gia quốc tế và cảm thấy rất khổ tâm. Cuối cùng, đoàn may mắn được bà Lê Thị Thu - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, nhận lời giúp thực hiện đề tài.

Ở phía Bắc, hàng tuần, TS Lê Thị Quý cùng đoàn nghiên cứu không quản ngại gian lao, vất vả đi đến ba tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương và Lạng Sơn xây dựng mô hình nghiên cứu. Ở Lạng Sơn, bà đau đớn khi chứng kiến cảnh những người phụ nữ bị bán sang Trung Quốc, khi trốn về bị cộng đồng khinh bỉ, xua đuổi, hạ nhục và sống tạm bợ ở các lều bạt. Ban đầu, đoàn nghiên cứu phải làm công tác tuyên truyền về nạn buôn bán người, giải thích cho chính quyền, người dân hiểu về hoàn cảnh của những nạn nhân. Dần dần, bà đã giúp cộng đồng hiểu, thấu cảm và chia sẻ với những người phụ nữ bất hạnh này.

Năm 2000, đề tài được hoàn thành, TS Lê Thị Quý xuất bản công trình “Các vấn đề về buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới”. Cuốn sách phát hành hơn 2000 cuốn và bán hết ngay sau đó. Theo bà, đề tài thành công được ngoài sự giúp đỡ của chuyên gia quốc tế, một số cơ quan Việt Nam, bà còn nhận được sự ủng hộ của các nạn nhân khi họ coi bà như một người bạn và họ đã chia sẻ những câu chuyện rất chân thực, rất cảm động.

Ủng hộ nghiên cứu của TS Lê Thị Quý, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức hội thảo ba miền về vấn nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em. Vấn đề này được nêu ra, dậy sóng và chính thức được “open” (mở ra). Bà tâm sự: Tôi phải chịu biết bao cay đắng để là người nổ phát súng đầu tiên về vấn đề này. Tôi cũng sung sướng, hạnh phúc khi nó đã được mở ra trước muôn vàn khó khăn[9]. Kết quả đề tài, một mặt góp phần thay đổi đời sống của các nạn nhân, mặt khác đã góp phần thay đổi cách nhìn, nhận thức của cộng đồng xã hội về nạn buôn bán người, đồng thời là cơ sở để nhà nước nghiên cứu trong quá trình xây dựng các chính sách phù hợp.

GS.TS Lê Thị Quý (phải) chia sẻ câu chuyện làm khoa học với cán bộ  

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, 2018

Là người đầu tiên nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình, với công trình “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” xuất bản năm 1994, năm 2003, GS Lê Thị Quý được Tổ chức Dân số thế giới mời phác thảo, xây dựng mô hình về chống bạo lực gia đình. Khi bắt đầu nghiên cứu thực tế, xây dựng mô hình, bà luôn tự hỏi: Làm thế nào để cứu nạn nhân, bởi lẽ người phụ nữ không có nơi nào để trốn chạy. Về nhà bố mẹ đẻ thì bị trả lại, sang nhà hàng xóm thì bị chồng tới lôi về. Họ có thể bị đánh cho tới chết[10]. Sau những ngày sống cùng người dân địa phương trong địa bàn nghiên cứu, bà nhận ra rằng phải dùng sức mạnh cộng đồng để giải quyết các vấn đề gia đình sống trong cộng đồng. Bà đã đề xuất xây dựng mô hình nhà tạm lánh tại cộng đồng với cái tên “Địa chỉ tin cậy”, nhằm xây dựng những xóm làng bình yên cho phụ nữ và trẻ em. Bà kêu gọi thành lập ban quản lý dự án tại các địa phương, lập đội can thiệp nhanh với thành viên là cán bộ chính quyền, công an, pháp lý và tổ chức xã hội… để tuyên truyền, tập huấn về bạo lực gia đình và bình đẳng giới. Mô hình này được triển khai ở Thái Bình, Nam Định rất thành công, đem lại nhiều kết quả thiết thực. Từ hiệu quả mô hình đó, cuộc đấu tranh với bạo lực gia đình đã tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức của người dân và đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Tại các vùng dự án, bạo lực giảm tới gần 90%, chấm dứt 100% các vụ gây thương tích cho nạn nhân[11].

Ngoài sự nghiệp nghiên cứu, GS Lê Thị Quý còn là giảng viên truyền lửa đam mê cho nhiều thế hệ học trò, từ năm 1992 bà đã tham giảng dạy về giới và gia đình tại trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) và nhiều trường đại học khác. Bà từng được Đại học Clark (Mỹ) mời giảng dạy theo chương trình Fullbright Scholaship.

Là người tiên phong dám dấn thân vào những vấn đề gai góc trong xã hội, góp phần đặt nền móng cho mô hình phòng chống bạo lực gia đình; gióng hồi chuông  trong nghiên cứu về phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, kiên trì đấu tranh vì quyền bình đẳng của phụ nữ, GS.TS Lê Thị Quý xứng đáng được cộng đồng tôn vinh. Năm 2005, bà là một trong 1000 phụ nữ trên thế giới được đề cử Nobel hòa bình. Bà tâm sự: Để có những thành công này, tôi luôn quyết liệt với vấn đề tôi nhận định là đúng. Với cá tính mạnh mẽ, giúp tôi vươn lên được hoàn cảnh, sức ép của xã hội. Đặc biệt, tôi thành công là bởi tôi đam mê, yêu thích vấn đề phụ nữ và tôi luôn thấu hiểu, đồng cảm với họ[12].

Tạ Anh

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

__________________________

* GS.TS Lê Thị Quý, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu giới và phát triển.

[1] GS Đặng Vũ Khiêu, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam).

[2] GS.TS Đặng Cảnh Khanh, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Thanh niên; Phó giám đốc Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam.

[3] Tài liệu ghi âm GS.TS Lê Thị Quý, 9-7-2013, lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[4] Tài liệu ghi âm GS.TS Lê Thị Quý, 7-10-2019, lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[5] Tài liệu ghi âm GS.TS Lê Thị Quý, 7-10-2019, đã dẫn.

[6] Tài liệu ghi âm GS.TS Lê Thị Quý, 7-10-2019, đã dẫn.

[7] Tài liệu ghi âm GS.TS Lê Thị Quý, 7-10-2019, đã dẫn.

[8] Tài liệu ghi âm GS.TS Lê Thị Quý, 7-10-2019, đã dẫn.

[9] Tài liệu ghi âm GS.TS Lê Thị Quý, 7-10-2019, đã dẫn.

[10] Tuệ Minh, “GS.TS Lê Thị Quý: nhà khoa học của nữ quyền”, 25-5-2016, http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/gsts-le-thi-quy-nha-khoa-hoc-cua-nu-quyen/2016051802321420p1c160.htm

[11] Bùi Trí Lâm, “Người phụ nữ Việt Nam được đề cử giải Nobel hòa bình”, báo An ninh thế giới, số 1.495, tr.5.

[12] Tài liệu ghi âm GS.TS Lê Thị Quý, 7-10-2019, đã dẫn.