02/08/2020 9:08:35 CH - Theo đuổi đam mê

25/07/2020 3:34:16 CH - Phần thưởng cao quý

22/07/2020 10:04:50 SA - Hành trình tin yêu

21/07/2020 11:14:41 SA - Chuyện ông “Trùm chèo”

Nhớ về một nhà trí thức nổi tiếng - Giáo sư Hồ Đắc Di
Cập nhật lúc: 14:36, Thứ Hai, 11/05/2020 (GMT+7)

Giáo sư Hồ Đắc Di (1900-1984) là Hiệu trưởng đầu tiên Trường Đại học Y của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giữ cương vị này đến năm 1973. Bên cạnh những đóng góp chuyên môn y học hoặc trên cương vị quản lý, tổ chức xây dựng và phát triển trường Y trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Giáo sư còn được biết đến là một trí thức thế hệ vàng Việt Nam, người có những quan điểm sâu sắc về y học và văn hóa Việt Nam.

Hồ Đắc Di sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc gốc ở Huế, có nhiều người làm quan trong triều Nguyễn. Ông nội là Hồ Đắc Tuấn, từng được phong tước Hầu, bà nội ông là Công nữ Thức Huấn - con gái Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Cụ thân sinh của Hồ Đắc Di là Khánh Mỹ quận công Hồ Đắc Trung, làm quan đến chức Tổng đốc Nam Ngãi, Thượng thư các Bộ Học, Lễ, Công; Đông các điện Đại học sĩ, sung Cơ mật đại thần. Những anh em của ông cũng đều là những trí thức, giữ các vị trí quan trọng cả dưới triều đình nhà Nguyễn lẫn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Mặc dù xuất thân và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho học nhưng ngay từ khi còn nhỏ, Hồ Đắc Di đã được gia đình hướng con đường học tập theo văn hóa phương Tây. Giữa lúc thời cuộc nhiễu nhương, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa Đông-Tây diễn ra mạnh mẽ thì việc hướng theo Tây học có lẽ là một sự lựa chọn hợp thời và có thể đem lại một tương lai tươi sáng hơn. Với điều kiện của một gia đình quan lại, Hồ Đắc Di được gửi ra Hà Nội và học tại trường Lycée Albert Sarraut. Từ năm 1918 đến 1930, những năm diễn ra nhiều biến động của lịch sử và phong trào yêu nước ở Việt Nam, Hồ Đắc Di du học tại Pháp. Ông học trung học ở Bordeaux, sau đó theo học về y khoa tại trường Đại học Tổng hợp Paris.

Sau hơn chục năm du học ở xứ người, Hồ Đắc Di trở về nước với tư cách là một trí thức Tây học cùng những tư tưởng mới mẻ, nguyện đem sở học của mình ra để phục vụ nhân dân lầm than. Nhưng sau cao trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp tăng cường đàn áp các phong trào yêu nước, xiết chặt các hoạt động văn hóa, tư tưởng. Hồ Đắc Di về Huế và làm việc như một bác sĩ thực tập và chịu sự khinh mạt từ người Pháp. Một thời gian sau ông được điều chuyển vào Quy Nhơn công tác. Năm 1932, ông được mời ra công tác tại trường Đại học Y và Bệnh viện Phủ Doãn. Tại đó, ông đã dũng cảm nói lên quan điểm cá nhân và đấu tranh đòi được hành nghề giải phẫu. Với sự cương quyết và tấm lòng trong sáng, ông trở thành người Việt Nam đầu tiên được chính quyền thực dân Pháp cho làm bác sĩ phẫu thuật.

Chứng kiến cảnh lầm than của nhân dân Việt Nam, sự coi thường của người Pháp đối với người bản xứ, Hồ Đắc Di cảm thấy tủi nhục mà không biết làm cách nào. Trong lúc ấy, một bộ phận lớn trí thức cũng chỉ dám bày tỏ tiếng nói yêu nước một cách kín đáo thông qua các bài viết, nghiên cứu đăng tải trên các tờ báo, tạp chí. Khi thời cơ đến, đại bộ phận trí thức hướng theo lá cờ của Việt Minh để làm cuộc Cách mạng lớn nhất, lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ kéo dài thế kỷ.

GS Hồ Đắc Di phát biểu tại lễ tổng kết năm học của trường Đại học Y, 1952. Từ trái qua phải: GS Hồ Đắc Di (đứng), Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, GS Tôn Thất Tùng

GS Hồ Đắc Di phát biểu tại Lễ tổng kết năm học của trường Đại học Y, 1952.

Từ trái qua phải: GS Hồ Đắc Di (đứng), Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, GS Tôn Thất Tùng

Trong và sau Cách mạng tháng Tám, dưới ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, thấm nhuần văn hóa truyền thống dân tộc và đặc biệt là tinh thần yêu nước luôn đau đáu trong tâm can nên những trí thức như Hồ Đắc Di đã sẵn sàng tham gia cách mạng và kháng chiến một cách vô tư nhất. Tài năng của những trí thức này đã được nhìn nhận một cách trân trọng, xác đáng nhất khi những chức vụ quan trọng trong Chính phủ và các bộ máy của các ngành, các cấp đều do họ nắm giữ.

GS Hồ Đắc Di khẳng định rằng hoạt động của nhóm Việt Nam yêu nước do Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã gây tác động mạnh mẽ đối với Việt kiều ở Pháp. Tám yêu sách của Nguyễn Ái Quốc đưa ra tại Hội nghị Versailles gây tiếng vang lớn. Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã thức tỉnh lòng yêu nước trong nhiều tầng lớp Việt kiều. Đến những ngày Cách mạng tháng Tám thì ảnh hưởng ấy càng lớn lao. Bác sĩ Hồ Đắc Di viết: “Nghe ba chữ Nguyễn Ái Quốc tôi rất xúc động. Thì ra, Người mà mình vẫn hằng nghe tiếng, vẫn được nghe bạn bè hỏi đến, người đó đã cất tiếng nói đanh thép đòi quyền lợi chính đáng của đất nước Việt Nam, làm cho bất cứ người Việt Nam nào cũng cảm thấy tự hào ấy chính là người ngồi trước mặt tôi kia. Thời ấy, một số anh em sinh viên chúng tôi tham gia bán báo Người cùng khổ và Việt Nam hồn cho thợ thuyền ở khu La tinh. Bấy giờ lính thợ Việt Nam ở Paris cũng nhiều, anh em rất quen biết hai tờ báo trên và tên ông Nguyễn Ái Quốc”[1].

GS Hồ Đắc Di tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang.
GS Hồ Đắc Di tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, bác sĩ Hồ Đắc Di được Chính phủ giao nhiều nhiệm vụ quan trọng như: Tổng thanh tra Y tế, Tổng Giám đốc Đại học vụ, Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy. Những ngày độc lập ngắn chẳng tày gang, khi ngay sau đó thực dân Pháp nổ sung ở Nam bộ (23-9), đánh dấu cho sự xâm lược trở lại nước ta. Các trí thức dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ mới lại bắt đầu bước vào những tháng ngày gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (12-1946), cùng với GS Tôn Thất Tùng, GS Hồ Đắc Di đã tổ chức các hoạt động cứu chữa cho thương binh và nhân dân, đào tạo cán bộ y tế trong những điều kiện khắc nghiệt, đồng thời đặt quyết tâm phải duy trì trường Y, phục vụ cho cuộc kháng chiến. Những năm tháng ở Việt Bắc là những tháng ngày gian khó, nhưng nhờ quyết tâm và lòng yêu nước sáng trong, GS Hồ Đắc Di cùng với học trò – GS Tôn Thất Tùng trở thành linh hồn của trường Đại học Y, đào tạo nhiều cán bộ y tế, phục vụ trực tiếp cho cuộc kháng chiến, góp phần đưa lại thắng lợi của dân tộc ta vào năm 1954.

Thầy trò trường Y đến bến đò Quẵng (Tuyên Quang) vào một buổi chiều cuối tháng 5-1947, nơi mà theo mô tả của bác sĩ Hồ Đắc Di là: “Rừng núi hoang vu, nhìn quanh chỉ thấy một màu lá xanh, tưởng chừng chỗ nào cũng đầy rẫy những ổ muỗi, thú rừng. Mùi lá mục ẩm ướt dưới chân, trên cây cỏ, hàng đàn vắt vươn vòi chực hút máu càng làm tôi ngần ngại”[2]. Nếu là trước khi theo kháng chiến, làm việc dưới chính quyền Pháp, hầu hết các bác sĩ được làm việc trong bệnh viện có tương đối đầy đủ trang thiết bị, cuộc sống công chức khá đầy đủ thì nay trước hoàn cảnh muôn vàn khó khăn, người trí thức không khỏi băn khoăn. Tâm sự của bác sĩ Hồ Đắc Di trong lúc ấy là đại diện cho suy nghĩ của nhiều trí thức đi theo kháng chiến: “Trước mặt tôi là con ngòi Quẵng, nước lũ đục ngầu, vỗ vào hai bờ đá réo ào ào. Cả một vùng hoang vu chỉ thấy trơ trọi một mái nhà. Còn người địa phương lúc ấy cũng chỉ thấy một mình người lái đò. Tôi nhìn vợ con, nhìn núi rừng, lòng buồn man mát. Tôi đã quyết định ra đi theo kháng chiến, theo tiếng gọi của lương tâm; nhưng thực ra ra đi trong lòng cũng chưa hoàn toàn yên tĩnh. Nhìn sông nước mênh mang trước mặt, tôi cảm thấy mung lung, ái ngại”[3].

Thầy trò trường Y chia nhau ở nhà dân, một số người ở nhà bè, lán nứa do chính tay mình dựng lên. Một thời gian ngắn sau, họ đã có một cơ ngơi tạm ổn. Ở đó có phòng mổ trên nhà sàn, xung quanh được vây bằng màn trắng sạch sẽ, có giảng đường mái tranh vách nứa, phòng xét nghiệm đơn sơ… Khi ấy cả trường Đại học Y chỉ có hai giáo sư là bác sĩ Hồ Đắc Di và bác sĩ Tôn Thất Tùng, sau này có thêm bác sĩ Đặng Văn Ngữ ở Nhật về (sau năm 1950), một số y tá và 11 sinh viên (mà khi đó gọi là sinh viên xung phong).

Ngày 6 tháng 10 năm 1947, trường Đại học Y của nước Việt Nam khai giảng khóa đầu tiên tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, với 2 giáo sư và 11 sinh viên, với chương trình giảng dạy bằng tiếng Việt. Hồ Đắc Di được cử giữ chức Hiệu trưởng đầu tiên. Ông nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiện này: “Nó xác nhận quyết tâm không gì lay chuyển của chính phủ muốn giữ nguyên nhiệm vụ thiêng liêng và cổ truyền của trường đại học là đào tạo những người có văn hóa và có học thức, nghĩa là những cán bộ kỹ thuật và những con người tự do”[4].

Trường đại học không chỉ là nơi đào tạo những cán bộ phục vụ trực tiếp cho kháng chiến, cho tương lai của đất nước, mà còn là nơi khơi dậy, cổ vũ tinh thần yêu nước của thanh niên, trí thức trẻ tuổi. Bác sĩ Hồ Đắc Di cho rằng việc tập hợp sinh viên dưới mái trường đại học cũng là một dịp để thể hiện lòng yêu nước: “Tổ quốc lâm nguy cần sự tập hợp của mọi đứa con không phân biệt giai cấp, đảng phái hay tôn giáo vì mục đích chung. Sự đoàn kết thiêng liêng là yêu cầu tuyệt đối và sống còn, nếu không nước Việt Nam sẽ có nguy cơ vĩnh viễn xóa khỏi bản đồ thế giới. Trong cuộc đời người ta thường không có dịp để được hiến dâng và chết cho Tổ quốc. Thì đây! Thưa các bạn! Dịp ấy đây! Hãy chớp lấy thời cơ!”[5].

Trường Đại học Y vừa khai giảng được một ngày thì quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn, mở cuộc tấn công Việt Bắc. Một thời gian sau thì chúng đánh vào khu vực mà trường Y đóng ở Chiêm Hóa, thầy trò trường Y lại sơ tán vào núi rừng. Có lần, giặc Pháp còn đến tận trường Y, nơi ở của gia đình bác sĩ Tôn Thất Tùng, bác sĩ Hồ Đắc Di…, giặc Pháp đã dùng máy bay bà già, gọi loa để mời những trí thức như bác sĩ Hồ Đắc Di, bác sĩ Tôn Thất Tùng, TS Nguyễn Văn Huyên về Hà Nội để làm việc nhưng họ đều quyết tâm thà chết chứ không chịu theo Pháp. Bác sĩ Hồ Đắc Di viết về một lần như thế: “Nghe tiếng chúng, tôi rợn tóc gáy, tim đập tưởng như muốn vỡ ra. Tôi lo quá. Vợ tôi đưa mắt nhìn tôi. Chúng biết rõ chỗ chúng tôi nấp thật chăng? Trong cơn hoảng hốt, tôi đã nói nhỏ với vợ tôi một câu mà tôi còn nhớ mãi, một câu nói hết sức tỉnh táo: Chết thì chết chứ không để bọn Pháp bắt lại một lần nữa. Câu nói ngắn gọn trong giây phút căng thẳng đó không phải là ý nghĩ thoảng qua, mà là điều tôi đã nghiền ngẫm từ lâu, đã ăn sâu trong tiềm thức tôi”[6].

Suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, bác sĩ Hồ Đắc Di cùng các trí thức khác như Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Xuân Hợp… đã đào tạo ra bao lớp sinh viên y khoa, trực tiếp phục vụ cho cuộc kháng chiến và nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Cuộc kháng chiến gian khổ, ăn đói, ở rừng không thể làm nhụt ý chí của các trí thức vốn xuất thân dòng dõi quan lại. Động lực có gì khác ngoài lòng yêu nước nồng nàn và một tinh thần dấn thân. Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh GS Hồ Đắc Di, chúng ta luôn nhớ đến ông - người đại diện tiêu biểu cho thế hệ trí thức tinh hoa Việt Nam thế kỷ 20, một người dám từ bỏ tất cả danh lợi của cái tôi để sống và cống hiến cho cái ta chung.

 Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 


[1] Hồi ký của GS Hồ Đắc Di - Kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Thủ đô (1954-1975), Bản đánh máy năm 1975, Hà Nội, tr.4

[2] Hồi ký của GS Hồ Đắc Di - Kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Thủ đô (1954-1975), Bản đánh máy năm 1975, Hà Nội, tr.10

[3] Hồi ký của GS Hồ Đắc Di - Kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Thủ đô (1954-1975), Bản đánh máy năm 1975, Hà Nội, tr.10

[4] Bài phát biểu của Hiệu trưởng Hồ Đắc Di tại lễ khai giảng trường Đại học Y, 6-10-2947.

[5] Bài phát biểu của Hiệu trưởng Hồ Đắc Di tại lễ khai giảng trường Đại học Y, 6-10-2947.

[6] Những bài phát biểu của Giáo sư Hồ Đắc Di (giai đoạn 1945-1954) (1995), trường Đại học Y Hà Nội, tr.11.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: