24/05/2020 8:58:56 CH - Về một tài liệu chép tay

18/05/2020 3:58:03 CH - Việc “đại nghĩa”

07/05/2020 6:24:46 CH - Hai niềm đam mê hòa quyện

Sinh viên y khoa tham gia chiến dịch Điện Biên
Cập nhật lúc: 20:20, Thứ Năm, 07/05/2020 (GMT+7)

Đầu năm 1951, do nhu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, sinh viên khóa Y1950 trường Đại học Y Dược khoa được Cục Quân y điều động nhập ngũ với chức trách là quân y sĩ tập sự. Lúc ấy, họ đâu biết rằng mình sẽ được tham gia vào một sự kiện trọng đại kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc – Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chúng tôi xin ghi lại câu chuyện rất ấn tượng của GS Tạ Long* về những ngày gian khổ hào hùng ấy.

Sinh viên Tạ Long vẫn nhớ đinh ninh lời dặn của thầy Tôn Thất Tùng[1]: Mặt trận đang cần các em, rời khỏi trường từ nay các em sẽ tự học trong thực tế, lấy đau khổ của bệnh nhân làm thầy[2]. Được biên chế vào Đội điều trị 8, thuộc Đại đoàn 308 (sau là Sư đoàn), quân y sĩ tập sự Tạ Long đã cùng đồng đội tham gia các chiến dịch Nghĩa Lộ, Sầm Nưa (Lào). Kết thúc chiến dịch Sầm Nưa (5-1953), ông trở về tập kết ở Thái Nguyên để chuẩn bị cho chiến dịch mới. Ngày 28-11-1953, ông được lệnh chuẩn bị hành quân. Công tác chuẩn bị trước khi lên đường khá kĩ càng, với thuốc men, quân trang và lương thực khá hơn trước, có nilon che mưa và bi đông đựng nước. Mỗi cá nhân được lệnh chỉ mang theo tư trang gọn nhẹ nhất. Với Tạ Long, vật bất ly thân của ông là những trang tài liệu chép tay - cẩm nang xử trí vết thương trong hoàn cảnh độc lập tác chiến.

 

Đó là cuộc hành quân bí mật, trong đơn vị không ai biết sẽ đi đâu, ông Tạ Long hy vọng sẽ đánh về Hà Nội và cuộc kháng chiến mau chóng kết thúc. Nhưng đoàn vượt sông Lô sang Yên Bái thì ông biết đơn vị sẽ chiến đấu ở chiến trường Tây Bắc. Đoàn tiến dần về phía Mộc Châu, Thuận Châu, Sơn La, đến khi vượt đèo Pha Đin (dài 32km) tới Tuần Giáo ông mới biết tin quân đội ta sẽ đánh Điện Biên Phủ. Sáng sớm ngày 6-1-1954, mọi người nghe tiếng súng nổ ngày một gần hơn. Ông Tạ Long cùng một vài đồng đội được lệnh tiến lên trước để triển khai phòng mổ. Do địa hình rừng núi nên ông không thể biết cụ thể phòng mổ nằm ở vị trí nào, chỉ biết địa điểm đó gần Điện Biên Phủ. Phòng mổ được dựng bởi những chiếc dù đơn giản. Xế chiều có tiếng súng tiểu liên nổ gần phòng mổ, ông nghĩ có lẽ là bị tập kích. Một lúc sau thấy im ắng. Xẩm tối, 17 thương binh đầu tiên ở Điện Biên Phủ được chuyển về, họ cho biết quân đội ta đã nổ súng tiêu diệt toàn bộ nhóm biệt kích của Pháp đi qua gần vị trí Phòng mổ. Cả đội thở phào nhẹ nhõm. Ông Đặng Hiếu Trưng (Đội trưởng Đội điều trị 8) mổ những ca nặng, ông Tạ Long phụ hoặc mổ những ca nhẹ. Quần áo vô trùng không đủ thay, đến quá nửa đêm, ở mỗi ca mổ, các ông phải mặc những bộ mới giặt và luộc vẫn còn ướt nguyên. Rửa tay rồi ngâm thuốc sát trùng liên tục do không có găng tay, khiến tay các ông nhăn nheo. Đến khoảng 3-4 giờ sáng, ai nấy bụng đều đói meo mà không có gì ăn.

Khoảng giữa tháng 1-1954, Đội điều trị 8 được lệnh di chuyển gấp bám sát các đơn vị bộ đội đang tiến đến tuyến phòng thủ của địch. Nhóm Tạ Long gồm 5 y tá và 3 cấp dưỡng, 2 dân công được lệnh đi theo một hướng khác để đón thương bệnh binh. Điểm đến của nhóm là trạm Cổ Chay, có nhiệm vụ đón nhận tất cả thương binh phía bắc Điện Biên Phủ. Tới trạm, mọi người sửa lại lán cũ nằm trong khe núi làm phòng mổ và nơi điều trị thương bệnh binh. Thời gian đầu, lượng thương bệnh binh về trạm chưa nhiều nên nhóm quân y tranh thủ thời gian làm thêm lán. Rồi thương binh về trạm lên tới 150-200 người, nhiều thương bệnh binh nặng, sốt rét, nhiều vết thương phải xử trí, chăm sóc thay băng hàng ngày... Công việc trở nên quá tải, buổi sáng, sau khi thăm khám các thương bệnh binh nặng, ông vào phòng mổ... Sau bữa ăn trưa vội vàng, các chiến sĩ áo trắng lại tiếp tục khám, phân loại thương bệnh binh nặng nhẹ, lên phác đồ điều trị… Nhiều hôm, đến tối mịt cả trạm mới ăn bữa cơm chiều.

Sau hơn nửa tháng làm việc ở trạm Cổ Chay, trạm lại được lệnh chuyển thương bệnh binh về Đội điều trị 5 do ông Trần Mạnh Chu phụ trách. Đội chuyển thương phải vượt đường núi trong 3 ngày, với hai đội dân công tham gia chuyển 20 cáng thương bệnh binh nặng, một số thương bệnh binh phải chống gậy hoặc phải dìu mới đi được. Đường rừng mới mở, còn bí mật nên ông Long quyết định di chuyển ban ngày. Ngày đầu tiên rất vất vả, tới chiều tối kiểm tra lại thì thấy cáng nằm rải rác khắp mấy quả đồi, do người khiêng cáng, thương bệnh binh khỏe yếu khác nhau, họ nghỉ lại bất kỳ ở đâu. Tổ cấp dưỡng đi trước nấu ăn rồi chia nhau đi phân phối cho từng cáng. Nhân viên chuyên môn đi tiêm, thay băng... Vì vậy, mọi người chạy đi chạy lại đến nửa đêm mới tạm ổn. Quân y sĩ Tạ Long đi thăm khám từng cáng, tận mắt chứng kiến tình cảm đặc biệt giữa các thương bệnh binh với anh chị em dân công, ông nảy ra sáng kiến là phân phối đủ lương thực, đường sữa, thuốc thang... theo tiêu chuẩn cho mỗi cáng và nhờ anh chị em dân công lo liệu nấu nướng dọc đường nếu không về kịp điểm tập kết - gọi là "gia đình cáng". Các thương bệnh binh được dân công chăm sóc tận tình nên họ rất hài lòng. Nhờ vậy mọi việc thuận lợi với cả đội. Đêm thứ hai, khi đã thu xếp xong mọi việc, chuẩn bị đi ngủ, ông Tạ Long được ông Bùi Đại[3] thông báo đi gặp Cục trưởng Cục Quân y Vũ Văn Cẩn. Ông báo cáo sơ lược diễn biến hai ngày vận chuyển vừa qua, đặc biệt là mô hình "gia đình cáng" và được ông Cẩn khen ngợi. Sáng kiến của ông được phổ biến trong các đơn vị tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, "mỗi cáng là một gia đình" trở thành câu khẩu hiệu rất quan trọng[4].

Sau khi bàn giao thương bệnh binh cho Đội điều trị 5, đội của ông Tạ Long trở về Cổ Chay thì được biết Đội điều trị 8 đang hành quân sang Lào, nên các ông phải đuổi theo đơn vị. Chặng đường sang Lào rất khó khăn do địa hình hiểm trở lại thiếu nước uống. Khi đến Huối Hùn (Nậm Bạc, Luông Pha Bang, Lào), do đơn vị đang quay về nên ông nhận lệnh trở về trước để triển khai trạm ở phía tây, nằm ven bờ sông Mã. Nhưng rồi ông không liên lạc được với Đội điều trị 8 nên trạm chủ động tự thu dung hết thương binh ở phía tây. Tại đây, ông gặp một trường hợp “oái oăm” là thương binh bị nhiễm trùng ở mắt, phải mổ. Ông phân vân vì chưa có kiến thức về mắt và cũng không có tài liệu. May mắn là ông Nguyễn Huy Phan[5] (sinh viên năm thứ năm) đi qua trạm, ông mời ông Phan mổ cho thương binh ấy. Nhờ việc phụ ông Phan mổ mắt mà ông học được kỹ thuật mổ khoét mắt. Đó là trường hợp “trái khoáy” đầu tiên và duy nhất cho đến nay ông gặp phải.

Do không thể liên hệ với Đội điều trị 8  nên không có nguồn cung cấp trang thiết bị cho trạm. Trạm chỉ còn ít bông băng và thuốc penicilin. Đặc biệt là không có nước cất trong khi không có dụng cụ, phương tiện để tự pha chế. Do vậy không thể truyền dịch cho những thương bệnh binh nặng cần cấp cứu gấp. Một bệnh binh bị áp xe nặng ở đùi và mông gây nhiễm trùng toàn thân, đến mức anh rơi vào trạng thái nhận thức lơ mơ mà trạm vẫn chưa tìm được cách xử trí. Dường như, thương binh ấy không còn sức lực để chịu đựng được ca mổ, buộc phải truyền dịch vào mạch máu để thương binh hồi tỉnh lại trước khi mổ. Trong tình thế nguy cấp, ông Tạ Long có sáng kiến pha chế nước cất bằng kỹ thuật chưng cất rượu của đồng bào địa phương. Ông và ông Trịnh Đình Tường (sinh viên ngành Dược) cùng triển khai. Không có phương tiện, hai ông dùng những vật dụng có sẵn, một bên là bi đông, một bên là vỏ chai dịch, dây dẫn là dây truyền dịch ngâm trong máng nước suối giúp nước ngưng tụ và chảy sang bên kia. Khi những giọt nước cất đầu tiên nhỏ xuống, hai ông hết sức vui mừng, tin là sẽ có nước cất để dùng. Sau vài ngày, hai ông có được mấy lít nước cất. Khi có nước cất, ông Tạ Long quyết định truyền dịch cho thương binh bị áp xe. Thận trọng, ông đích thân ngồi bên cạnh trông nom thương binh suốt đêm phòng khi xảy ra vấn đề có thể kịp thời xử lý. May mắn là thương binh ấy dần tỉnh lại, ông hỏi chuyện và được biết hai người là đồng hương (Phú Thọ). Thương binh ấy vui mừng và tin rằng có người đồng hương cứu chữa, chắc chắn mình sẽ sống. Chiều hôm sau, ông Tạ Long quyết định rạch tháo mủ ở mông và đùi cho thương binh này. Mấy hôm sau, anh ấy đỡ và được chuyển về Sơn La.

Cuối tháng 4-1954, trạm được lệnh chuyển toàn bộ thương bệnh binh về một đội điều trị của Cục Quân y ở Sơn La. Với kinh nghiệm đã có, ông tổ chức các "gia đình cáng", mỗi tổ 10 đến 12 người, mang theo gạo, người cáng, người dìu thương bệnh binh, dừng lại chỗ nào nấu nướng là do nhóm quyết định. Về Sơn La, đội của ông được lệnh quay về Điện Biên. May mắn dọc đường, cả đội được đi nhờ xe tải chở gạo. Trên đường, nghe tin quân ta đang đánh lớn, mọi người náo nức tin rằng sắp thắng lớn nên gương mặt ai cũng rạng rỡ. Khoảng 4h chiều ngày 7-5-1954, xe chở gạo tới ngã ba Tuần Giáo. Chưa kịp đi tiếp thì nghe tin chiến thắng, quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã đầu hàng. Anh đội trưởng đội xe quyết định lái xe đi về phía vành đai Điện Biên Phủ, tới một ngã ba thì nghe tiếng hoan hô rầm trời và nhìn thấy một đoàn dài tù binh Pháp đã hạ vũ khí, giơ cờ trắng xin hàng, họ đi thất thểu, người ốm o, rách rưới, râu ria xồm xoàm. Các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam áp tải dẫn đường đi hai bên. Chứng kiến cảnh tượng ấy khiến ông Tạ Long thực sự xúc động. Mọi người sung sướng hoan hô, reo hò "toàn thắng rồi”[6].

 

Ngay sau đó, các đơn vị quân y được giao nhiệm vụ ở lại Mường Thanh và Hồng Cúm chăm sóc cho thương bệnh binh Pháp để chờ tổ chức trao trả họ về các trại tù hàng binh. Quân y sĩ Tạ Long trở về đội Đội điều trị 8, lúc này đội đang triển khai nhiệm vụ thành lập bệnh viện dã chiến để thu nhận, cứu chữa tù thương. Ban của quân y sĩ Tạ Long được phân công phụ trách khu phía tây cánh đồng Mường Thanh, triển khai các lều dù để đưa các tù thương từ các hầm hào lên. Marie - một tù binh là bác sĩ, mang quân hàm Trung úy dẫn ông đi thăm một số hầm có tù thương. Sau mấy ngày mưa lớn, các hầm đều ngập nước. Nhiều tù thương râu ria xồm xoàm, cởi trần hoặc chỉ có quần lót, đói khát, không được thay băng nhiều ngày nên mùi hôi hám xông lên. Đi cùng với ông và BS Marie còn có một nữ tù - y tá Geneviève De Gallard (27-28 tuổi). Ông giao tiếp với họ bằng tiếng Pháp. Đến hầm nào ông giải thích chính sách khoan hồng, không ngược đãi của chính phủ kháng chiến với họ, họ sẽ được nhanh chóng đưa lên mặt đất, được chăm sóc vết thương và cho ăn uống đầy đủ. Nghe vậy, họ ồ lên cảm ơn và xin mau chóng được ra khỏi hầm. Ông nhanh chóng phân loại những tù thương nặng cho chuyển ngay lên mặt đất. Bác sĩ Marie không khỏi ngạc nhiên khi thấy các nữ dân công hỏa tuyến vui vẻ chuyển tù thương lên khỏi hầm, giúp họ rửa ráy, thay quần áo, cho ăn uống... không nề hà vết bẩn hay mùi hôi tanh từ các vết thương lâu ngày không được thay băng. Bác sĩ Marie hỏi ông Tạ Long họ là ai? tại sao bệnh viện của ông lại có những người con gái tốt như thế? Quân y sĩ Tạ Long không tìm được từ nào trong tiếng Pháp có đầy đủ ý nghĩa để giải thích công việc của họ. Ông đành chọn cách giải thích dài dòng cho BS Marie hiểu, rằng họ là những người dân thường, sống trong các bản làng ở mọi miền của tổ quốc, khi có chiến trận, họ không nề hà khó khăn gian khổ mà xung phong đi giúp bộ đội đánh giặc. Đó là sức mạnh của chiến tranh nhân dân, tạo nên thắng lợi to lớn của toàn dân tộc.

 

Sinh viên Tạ Long (ôm sách trước ngực) cùng Đội điều trị 8 và một số dân công hỏa tuyến trên chiếc xe tăng Pháp bị phá hỏng tại Điện Biên Phủ, giữa tháng 5-1954.

 

Ngày 8-5-1954, ông Tạ Long cùng một số bác sĩ tù binh Pháp và nữ tá Geneviève de Gallard được mời lên Ban chỉ huy Đội điều trị 8. Các ông được nghe công bố lệnh ân xá của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho y tá Geneviève de Gallard - nữ tù binh duy nhất ở Điện Biên Phủ. Geneviève de Gallard vô cùng xúc động và vui sướng! Những tù binh quân y Pháp có mặt cũng rất xúc động và cảm phục tấm lòng nhân ái cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Tạ Long bắt tay chúc mừng nữ y tá và chúc cô lên đường may mắn, sớm đoàn tụ với gia đình.

 

Sau đó, Ban do ông Tạ Long phụ trách được tăng cường thêm một số bác sĩ phẫu thuật và y tá phòng mổ là tù binh để tham gia xử trí những tù thương khẩn cấp. Theo thoả thuận, các máy bay Pháp định kỳ đến nhận tù thương nặng chở về Lào và tiếp tế thuốc men, máu và dịch truyền... Trong gần 1 tháng, xấp xỉ một nghìn tù thương Pháp đã được xử lý điều trị và di chuyển theo thỏa thuận. Đêm mít tinh lớn tổng kết chiến thắng ở cánh đồng Mường Thanh, khi nghe bài Quốc ca vang lên, quân y sĩ Tạ Long không thể cầm được nước mắt xúc động, tự hào.

 

 

Lê Thị Hằng (ghi lại)

 

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 



[*] Sau này là Giáo sư, tiến sĩ, Chủ nhiệm khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; Chủ tịch Hội Khoa học Tiệu hóa Việt Nam.

[1] GS Tôn Thất Tùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nguyên Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức), nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại khoa – Trường Đại học Y Hà Nội.

[2] Ghi âm phỏng vấn GS Tạ Long, 16-5-2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[3] Sau này là Thiếu tướng, GS.TSKH, Viện trưởng Viện Quân y 103 kiêm Hiệu phó Học viện Quân y, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Y học Quân sự, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

[4] Ngọc Quang, "GS Bùi Đại: Giải phóng Điện Biên, mỗi cáng là một gia đình", Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, 6-5-2014.

[5] GS Nguyễn Huy Phan sau là Phó viện trưởng Viện Quân y 108, Chủ tịch Hội Phẫu thuật nụ cười Việt Nam.

[6] Ghi âm phỏng vấn GS Tạ Long, 16-5-2019, tài liệu đã dẫn.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: