24/05/2020 8:58:56 CH - Về một tài liệu chép tay

18/05/2020 3:58:03 CH - Việc “đại nghĩa”

Bản đồ đất - hành trình vun đắp đam mê
Cập nhật lúc: 10:57, Thứ Hai, 27/04/2020 (GMT+7)

Là một trong những tác giả có nhiều đóng góp vào công trình “Điều tra, phân loại và lập bản đồ đất Việt Nam” được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000, với KS Đỗ Đình Thuận (nguyên Vụ phó Vụ Kế hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), đó là giai đoạn vun đắp sự đam mê, lòng yêu nghề và giúp ông nhận ra “Đất cũng có sự sống, có tâm hồn”.

Cơ duyên với đất

Ngày còn học tại trường Phổ thông 3, Hà Nội (nay là trường THPT Việt - Đức), Đỗ Đình Thuận luôn mơ ước được trở thành sinh viên ngành Hóa thực phẩm, trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Nhưng rồi, chi đoàn, chi bộ Nhà trường động viên, kêu gọi học sinh, nhất là các đoàn viên thanh niên, thi vào ngành sư phạm, nông lâm. Sau nhiều trăn trở, Đình Thuận quyết định nộp đơn xin vào học tại Học viện Nông Lâm[1], khoa Trồng trọt, năm 1959. Trường mới chuyển về Trâu Quỳ (Gia Lâm), cơ sở vật chất nghèo nàn, lớp học là lán trại dựng tạm trên khu đất trũng, ngập nước. Dù theo học ngành không đúng sở thích, nhưng sinh viên Đỗ Đình Thuận hăng say học tập.

Năm 1960, trước yêu cầu về nhân lực phục vụ kế hoạch phát triển mới của đất nước, đặc biệt là cán bộ ngành nông nghiệp, chương trình đào tạo của Học viện Nông Lâm đã rút ngắn từ 5 năm xuống còn 3,5 năm. Kết thúc năm thứ nhất, khoa Trồng trọt được chia thành ba chuyên ngành: Cây trồng, Thổ nhưỡng nông hóa, Bảo vệ thực vật. Lãnh đạo khoa Trồng trọt đã kết hợp với ban cán sự lớp lựa chọn 22 sinh viên học tốt các môn cơ bản để học chuyên sâu về thổ nhưỡng nông hóa; 22 sinh viên học về bảo vệ thực vật; số sinh viên còn lại theo chuyên ngành cây trồng. Đỗ Đình Thuận được sắp xếp học chuyên ngành Thổ nhưỡng nông hóa. Đầu năm 1963, Đỗ Đình Thuận cùng 17 sinh viên cùng khóa tốt nghiệp kỹ sư thổ nhưỡng nông hóa và được cử về công tác tại Vụ Quản lý ruộng đất (Bộ Nông nghiệp). Các kỹ sư trẻ được giao nhiệm vụ thực hiện việc điều tra lập bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ trung bình ở các tỉnh đồng bằng và trung du miền Bắc Việt Nam. Và họ háo hức chuẩn bị cho những chuyến đi thực địa. Đỗ Đình Thuận được phân công khảo sát, lập bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Thái Nguyên tỷ lệ 1/50.000. Hành trang của cán bộ thổ nhưỡng đi khảo sát thực địa gồm nhiều dụng cụ, trong đó bắt buộc phải có: Mũ, nón, áo mưa, bản đồ, túi đựng mẫu đất, hộp đựng tiêu bản, hòm đựng thuốc thử… Bộ Nông nghiệp liên hệ với Cục Đo đạc và Bản đồ nhà nước, đề nghị được cung cấp bản đồ địa hình (do máy bay quân sự thực hiện) để phục vụ cho quá trình xây dựng bản đồ thổ nhưỡng. Trước khi đi khảo sát, chúng tôi, mỗi nhóm được phát một tờ bản đồ địa hình, ai cũng cất giữ cẩn thận, vì nếu mất sẽ bị kỷ luật rất nặng[2], ông tâm sự.

Kỹ sư Đỗ Đình Thuận bắt đầu khảo sát trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, sau đó di chuyển địa điểm, tiếp tục khảo sát các huyện khác trong tỉnh. Theo ông, một cán bộ thổ nhưỡng khi đi thực địa không chỉ nắm vững các kiến thức chuyên môn và kỹ năng về điều tra lập bản đồ đất, mà phải điều tra nắm vững lịch sử địa chất, khí hậu thủy văn, chế độ canh tác, phân bón, sử dụng đất, năng suất các loại cây trồng… ở khu vực điều tra. Trong quá trình khảo sát, phải liên tục so sánh, đối chiếu, chỉ ra những thay đổi trong tính chất đất, sau đó cùng cán bộ địa phương đưa ra khuyến cáo để người nông dân canh tác đạt năng suất cao.

Hồi đó, cán bộ thổ nhưỡng đi khảo sát thực địa còn phải mang theo gạo và tiền mua thực phẩm (theo tiêu chuẩn 18 kg gạo/tháng/người và 3 đồng/bữa) gửi nhà dân nhờ nấu ăn giúp. Có lần, KS Thuận và một cán bộ ty Nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên đi khảo sát tại xã Giang Tiên, huyện Phú Lương. Vội đi, hai người không kịp mua gạo mang theo, chỉ mang theo tem phiếu. Đến xã Giang Tiên lúc 5 giờ chiều, họ tìm vào nhà Chủ tịch xã xin tá túc. Trong khi chờ ông chủ tịch đi làm về, hai cán bộ trẻ đưa tem phiếu nhờ vợ chủ tịch xã nấu cơm nhưng bà không vui lòng giúp đỡ. Rất may sau đó, ông chủ tịch về kịp, đồng ý tạo điều kiện cho hai người ăn nghỉ.

 

 
 Kỹ sư Đỗ Đình Thuận, 2015

Thời gian này, KS Đỗ Đình Thuận còn được giao nhiệm vụ kiểm tra, hiệu đính bản đồ chung của toàn tỉnh theo các quy chuẩn quốc gia. Năm 1965, bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Thái Nguyên tỷ lệ 1/50.000 hoàn thành, là căn cứ khoa học cho việc chỉ đạo, định hướng của ngành Nông nghiệp về quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ, cải thiện độ màu mỡ, phì nhiêu của đất đai, phục vụ thâm canh tăng năng suất cây trồng trong nông nghiệp. Ngoài ra, còn phục vụ các ngành kinh tế khác (giao thông, thủy lợi, xây dựng, phát triển nhà ở...) trong tỉnh Thái Nguyên sử dụng đất hợp lý và hiệu quả.

Năm 1965, KS Đỗ Đình Thuận được Vụ Quản lý ruộng đất (Bộ Nông nghiệp) giao nhiệm vụ phụ trách kiểm tra, giám sát công tác lập bản đồ thổ nhưỡng, kiểm tra và hiệu đính bản đồ đất của các tỉnh đồng bằng và trung du miền Bắc. Ông trực tiếp gặp gỡ, làm việc với các cán bộ thổ nhưỡng, kiểm tra phẫu diện đất mang về. Với chức trách của Vụ Quản lý ruộng đất, ông cũng phải cùng cán bộ địa phương đi thực địa, lấy mẫu ở vùng ranh giới giữa hai loại đất khác nhau, để kiểm tra, đối chiếu với bản mô tả, phát hiện sai sót và kịp thời điều chỉnh lại. Năm 1968, hầu hết các tỉnh ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ đã hoàn thành việc xây dựng bản đồ thổ nhưỡng. Trong điều kiện chiến tranh khó khăn, thiếu thốn trang thiết bị, nhưng bằng sự quyết tâm, say mê, cán bộ của ngành Thổ nhưỡng hoàn thành một khối lượng lớn công việc trong công tác điều tra xây dựng bản đồ, góp phần phục vụ kịp thời cho việc phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và quốc phòng.

Viết tiếp niềm đam mê về đất

Trong những năm tháng sung sức của tuổi đời và tuổi nghề, với niềm đam mê nghiên cứu và đóng góp, KS Đỗ Đình Thuận được giao chủ biên hoặc đồng tác giả một số bản đồ chuyên ngành thổ nhưỡng - nông hóa như Tổng hợp xây dựng bản đồ thổ nhưỡng vùng đồng bằng và trung du miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/200.000 (1965); Bản đồ đất cần cải tạo miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 (1968); Bản đồ Lân tổng số đất trồng lúa miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 (1969);...

Năm 1973, KS Đỗ Đình Thuận và các cộng sự đã đề xuất với Ủy ban Nông nghiệp Trung ương thành lập Ban biên tập bản đồ đất Việt Nam, do TS Lê Duy Thước[3] làm Trưởng ban, ông là thư ký khoa học. Năm 1975, đất nước thống nhất, với niềm đam mê nghề vẫn đang cháy bỏng và khát khao có được một bản đồ đất trải rộng trên cả dải đất hình chữ S, Ban biên tập bản đồ đất đề xuất kế hoạch lập bản đồ thổ nhưỡng các tỉnh phía Nam. Chấp thuận đề xuất trên, Ủy ban Nông nghiệp Trung ương cho triển khai kế hoạch điều tra, phân loại, thành lập bản đồ thổ nhưỡng các tỉnh phía Nam, song song với chương trình lập bản đồ thổ nhưỡng các tỉnh miền núi phía Bắc đang tiến hành.

Tháng 10-1975, Bộ Nông nghiệp cử đoàn cán bộ hỗn hợp do Ban biên tập bản đồ đất Việt Nam chủ trì đi khảo sát đất ở miền Nam. Đỗ Đình Thuận tham gia nhóm gồm 5 kỹ sư  Thổ nhưỡng do TS Trần Khải[4] làm trưởng nhóm khảo sát đất ở các tỉnh Bắc Tây Nguyên. Sau chiến tranh, Tây Nguyên đón tiếp đoàn bằng khung cảnh hoang tàn; phương tiện, vũ khí chiến tranh la liệt, rải rác khắp nơi. Rất may, đi đến đâu đoàn cũng được các tỉnh, các đơn vị quân đội của Đoàn 773 tạo điều kiện ăn ở, sinh hoạt và được bố trí bảo vệ để phòng Fulro tấn công. Mỗi khi đoàn tiến hành đi khảo sát đều được Đoàn 773 thông báo về tình hình hoạt động của Fulro và cử 2 vệ binh đi bảo vệ. Lần đi khảo sát vùng đất xám ven sông Sa Thày, tỉnh Kon Tum, đích thân Sư đoàn trưởng E42 dẫn đường nhóm công tác đi vào buổi trưa, vì theo vị Sư trưởng thời điểm này Fulro không dám hoạt động.

Chuyến khảo sát ở Đăk Uy (Kon Tum) không thể hủy bỏ hoặc thay đổi kế hoạch đi khảo sát, mặc dù đoàn nghe tin đêm trước Fulro đã về thị trấn Diên Bình tuyển quân. Mọi người lên đường trong tâm thế phải cảnh giác, đề phòng cao. Khi đi khảo sát đất nâu tím trên bazan ở một cánh rừng gần thị trấn Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, mọi người đang hăm hở đào phẫu diện đất, bỗng có một người đàn ông từ trong rừng đi ra, cả đoàn sững lại, nhìn nhau cảnh giác. Chỉ đến khi ông ta tỏ ra thân thiện, bắt tay hỏi chuyện: “Các bác đào huyệt chôn ai đó” thì cả đoàn mới thở phào nhẹ nhõm. Rồi cả những lần chạm phải bom mìn, như ông kể: Lần khảo sát ở Kon Tum, chúng tôi cuốc đất sửa lại vách taluy của một quả đồi ven quốc lộ 14. Khi đang cuốc ở lưng chừng đồi bất ngờ bị một đồng nghiệp trong đoàn giật tay, thảng thốt nói: Anh không để ý à, anh cuốc thêm nhát nữa là trúng một quả mìn. Nhìn lại, tôi mới hoảng hồn[5]. Tất cả những gian khó, hiểm nguy đó chẳng thể làm giảm đi tinh thần của cả đoàn. Ngược lại, họ hăng say làm việc, niềm hạnh phúc lại vỡ òa mỗi lần tìm được loại đất mới: Tôi sung sướng, nâng niu như con đẻ của mình[6], KS Đỗ Đình Thuận bộc bạch.

Sau hơn 3 tuần gian khổ khảo sát đất ở ba tỉnh Bắc Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, KS Đỗ Đình Thuận cùng cả nhóm đã hội quân với nhóm khảo sát đất vùng Nam Tây Nguyên do KS Cao Liêm[7] làm nhóm trưởng tại thành phố Đà Lạt. Sau đó, hai nhóm cùng về Sài Gòn để sơ kết công tác với nhóm khảo sát vùng Nam Bộ do TS Lê Duy Thước là trưởng đoàn, kiêm trưởng nhóm.

Mọi người đi thực địa trong hoàn cảnh trang thiết bị thiếu thốn, nhiều lần phải đội mưa làm việc, có tấm nilon nào cũng dùng để che cho tài liệu, mẫu đất và các sản phẩm thực địa. Trong buổi báo cáo sơ kết đợt một về công tác điều tra lập bản đồ đất tỉnh Hậu Giang với Ủy ban nhân dân tỉnh và Ty Nông nghiệp (năm 1976), trưởng đoàn KS Đỗ Đình Thuận có trình bày là khi đi thực địa cán bộ khảo sát gặp mưa rào, ai có tấm ni lông thì lấy ra để che cho bản đồ, mẫu đất và vật tư, còn người bị ướt thì lại khô. Sau khi nghe, ông Mười Dài - Bí thư tỉnh ủy Hậu Giang đã yêu cầu phải cấp đầy đủ trang bị bảo hộ lao động ngay cho toàn đoàn. Ngay hôm sau, lãnh đạo tỉnh đã chỉ thị cấp cho mỗi cán bộ đi điều tra đất một tấm nilon loại tốt và cấp vải may cho mỗi người một bộ quần áo.

Trong thời gian khảo sát, điều tra đất ở miền Nam, ông và đồng nghiệp mới thấm thía cụm từ “được dân nuôi”. Trong lần về khảo sát đất ở Kế Sách, tỉnh Hậu Giang (sau này là huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng), đoàn được lãnh đạo huyện và người dân tiếp đón nhiệt thành. Sau buổi giới thiệu ở Ủy ban huyện, đoàn cán bộ được người dân dùng phương tiện cá nhân như xe máy, xuồng máy đón về các thôn, xã và bố trí ăn ở trong những gia đình tương đối có điều kiện, các hộ dân chịu trách nhiệm  toàn bộ chi phí sinh hoạt cho đoàn . Có lẽ, trong gian lao, vất vả, tình cảm của người dân địa phương phần nào giúp các ông vượt lên, say mê làm việc. Cũng như tỉnh Hậu Giang, năm 1977, trong quá trình ông làm trưởng đoàn đưa cán bộ của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đi điều tra, xây dựng bản đồ đất ở thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/25.000 hay bản đồ đất tỉnh Đồng Nai tỷ lệ 1/100.000, lãnh đạo địa phương đều tạo mọi điều kiện thuận lợi hỗ trợ đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đầu năm 1976, bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỉ lệ 1/500.000  được chính thức xuất bản. Kỹ sư Đỗ Đình Thuận và các cán bộ tiếp tục được Bộ Nông nghiệp cử quay trở lại miền Nam để kiểm tra, thẩm định và thống nhất bản đồ đất các tỉnh theo hệ thống quy chuẩn của bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc, tiến tới thống nhất thành bản đồ đất Việt Nam. Trong lần thứ hai trở lại miền Nam, KS Đỗ Đình Thuận nhớ nhất kỷ niệm lấy đất than bùn ở rừng U Minh. Tháng 4- 1977, ông cùng đoàn vào trung tâm rừng U Minh Hạ để lấy mẫu đất than bùn. Tuy nhiên, từ tháng 2, rừng vẫn đang bị cháy, chưa dập tắt được. Lãnh đạo tỉnh cử ngay một người địa phương, thông thạo đường xá để đưa đoàn cán bộ vào rừng. Trước khi đi, người dẫn đường căn dặn: Đi thế này thì đến tối mới về đến nhà, không về giữa trưa đâu. Vì thế, các bác phải ăn sáng thật no, lấy sức lên đường. Trên đường đi, tôi bước đâu thì mọi người bước theo đó, nếu bước chệch ra bị thụt xuống than bùn cháy ngầm là mất chân[8]. Trở về sau chuyến đi, ngoài đồ đạc, cả đoàn phải gánh thêm 20kg mẫu đất than bùn và một can nước dớn lấy trong phẫu diện đất than bùn theo yêu cầu của cán bộ xã để làm nước uống. Khi đó, tỉnh Minh Hải (sau tách ra là tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu) đang mùa khô, nhân dân phải đi mua nước ngọt về để ăn, nên mọi người phải dùng nước mặn để rửa chân tay. Sau một chuyến đi dài mệt mỏi, tay chân nhớp nháp vì rửa bằng nước mặn, nhiều chỗ còn lấm lem, nhưng ai cũng cảm thấy sung sướng vì lấy được mẫu đất than bùn - một loại đất rất khó kiếm lúc bấy giờ.

 

 

Kỹ sư Đỗ Đình Thuận (thứ 2, từ phải) cùng lãnh đạo Viện Thổ nhưỡng Nông hóa
 trao tặng Bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1000.000 cho Trung tâm DSCNKHVN, 2019.
Bản đồ này là kết quả của Công trình được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000

Năm 1977, đoàn cán bộ thổ nhưỡng hoàn thành bản đồ thổ nhưỡng miền Nam Việt Nam. Năm 1978, bản đồ đất Việt Nam thống nhất tỷ lệ 1/1000.000 ra đời, trên cơ sở tổng hợp bản đồ thổ nhưỡng hai miền Bắc Nam. Bản đồ có ý nghĩa to lớn, góp phần phục vụ cho việc phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; phân vùng, quy hoạch các ngành kinh tế - xã hội ở các quy mô khác nhau.

Hành trình lập bản đồ đất trải qua biết bao gian khó, hiểm nguy, nhưng càng vun đắp thêm sự đam mê, lòng yêu nghề của KS Đỗ Đình Thuận. Với ông, mỗi lần đặt chân đến mảnh đất mới là cơ hội để phát hiện ra những điều mới mẻ, thú vị, tích lũy, đúc kết thêm những kiến thức, góp phần hoàn thiện ngành điều tra, phân loại và lập bản đồ đất của Việt Nam. Đặc biệt, trong những buổi làm việc với Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, KS Đỗ Đình Thuận luôn say sưa giới thiệu về Bảo tàng đất Việt Nam (hay Trung tâm thông tin tư liệu về đất Việt Nam) mà ông có nhiều tâm huyết và đóng góp về học thuật trong quá trình xây dựng.

Với những đóng góp của mình, KS Đỗ Đình Thuận cùng các nhà khoa học thực hiện công trình “Điều tra, phân loại và lập bản đồ đất Việt Nam” đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Nhà nước (1983), Giải thưởng Hồ Chí Minh (2000) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình Atlas quốc gia Việt Nam (2005).

Trong suốt cuộc đời làm nghề, KS Đỗ Đình Thuận luôn muốn gửi gắm tâm huyết, say mê của mình vào đất, gắn bó nghiên cứu về đất và coi đó như là máu thịt đời mình. Bởi với ông:

“Tổ quốc là đất nước

Yêu đất là phục vụ Tổ quốc”

 

Tạ Anh

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam


[1] Nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam

[2] Ghi âm KS Đỗ Đình Thuận, ngày 25-9-2015, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm DSCNKHVN.

[3] GS.TS Lê Duy Thước, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam).

[4] TS Trần Khải, nguyên Chủ tịch Hội khoa học đất Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, nguyên Phó chủ nhiệm thường trực của Ủy ban Kế hoạch nhà nước.

[5] Ghi âm KS Đỗ Đình Thuận, ngày 30-7-2015, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm DSCNKHVN.

[6] Ghi âm KS Đỗ Đình Thuận, ngày 25-12-2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm DSCNKHVN.

[7] GS.TS Cao Liêm, nguyên Chủ nhiệm khoa Thổ nhưỡng Nông hóa và quản lý ruộng đất, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam).

[8] Ghi âm KS Đỗ Đình Thuận, ngày 25-12-2019, tài liệu đã dẫn.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: