03/09/2020 3:34:36 CH - Nhớ Giáo sư Lê Thi

GS.TSKH Lê Thế Trung – Người Anh hùng, vị tướng tài năng
Cập nhật lúc: 13:45, Thứ Năm, 16/04/2020 (GMT+7)

Xuất thân từ một y tá, GS.TSKH Lê Thế Trung luôn đề cao tinh thần tự học, phấn đấu và rồi trở thành một nhà khoa học hàng đầu của ngành Quân y, người sáng lập ra Viện Bỏng Quốc gia.

Trung tướng, GS.TS Nguyễn Tiến Bình (nguyên Giám đốc Học viện Quân y) từng nhận xét: “Có thể khẳng định rằng những thành tựu mà Học viện Quân y đạt được có một phần công sức đóng góp không nhỏ của GS.TSKH Lê Thế Trung”.

Vị tướng tài năng

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Thiếu tướng, GS.TSKH Lê Thế Trung là người học tập và trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp và có những đóng góp quan trọng cho ngành Quân y Việt Nam trong cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Sau khi đất nước thống nhất, ông tiếp tục thể hiện tinh thần xung phong của người lính cụ Hồ, không ngại gian khó để chiếm lĩnh chuyên môn, phục vụ quân đội, phục vụ nhân dân.

GS.TSKH Lê Thế Trung. 
 GS.TSKH Lê Thế Trung.

Nhắc đến GS Lê Thế Trung, nhiều người trong ngành nghĩ ngay đến vai trò của ông đối với ngành Bỏng Việt Nam. GS Lê Thế Trung là người sáng lập khoa Bỏng (1964), rồi là Viện trưởng đầu tiên của Viện Bỏng (1991-1994). Ông được y giới đánh giá là chuyên gia hàng đầu, người có công xây dựng Viện Bỏng Quốc gia như ngày nay. Từ những năm 60 của thế kỷ trước, ông đã nghiên cứu và cho xuất bản nhiều công trình liên quan đến bỏng, phục vụ cho việc học tập và điều trị, như: Những điều cần biết về bỏng (1965), Bỏng trong chiến tranh (1965), Bỏng và phẫu thuật tiếp da (1972), Nhiễm khuẩn mủ xanh trong bỏng (1976), Bỏng (Tài liệu giáo khoa dùng cho đào tạo bác sĩ, 1981), Bỏng (Cứu chữa kỳ đầu tại tuyến cơ sở và điều trị tại bệnh viện đa khoa,1989), Bỏng (Sách chuyên khảo sau đại học, 1991).

Thống kê một vài tài liệu do GS Lê Thế Trung viết mới thấy sự quan tâm đặc biệt của ông dành cho chuyên ngành bỏng. Để có những tài liệu chuyên môn được in ấn và phổ biến rộng rãi, ông đã nghiên cứu, tìm hiểu rất kỹ các bệnh nhân do mình phụ trách. Trong những ghi chép cũ của mình, ông đề cập đến rất nhiều bệnh nhân bị bỏng do bom Napan những năm 1965-1966. Những ghi chép khá tỉ mỉ qua từng ngày với tình trạng sức khỏe, mức độ tiến triển vết thương, các loại thuốc được sử dụng trong quá trình điều trị. Thế mới biết được quá trình lao động miệt mài, tỉ mỉ như thế nào của bác sĩ Lê Thế Trung.

Bác sĩ Lê Thế Trung tranh thủ học mọi lúc, mọi nơi, học từ sách vở, học từ các thầy giáo, học từ chính bệnh nhân của mình. Trong cuốn sổ có tên "Ngoại chung" gồm 692 trang, được viết từ năm 1967 đến 1982, ông còn ghi chép những kiến thức về Ngoại khoa từ trong những cuốn sách mà ông mượn được của GS Tôn Thất Tùng, GS Hồ Đắc Di; kiến thức ông tham khảo từ những tài liệu Ngoại khoa nước ngoài hoặc tích lũy và tổng hợp trong quá trình xử lý, mổ cho bệnh nhân. Từ một người có ít kinh nghiệm về Ngoại khoa nhưng lại chịu trách nhiệm quản lý về chuyên khoa này nên ông đã phải học tập, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và thận trọng. Ông từng chia sẻ: "Mình chịu trách nhiệm về nó mà không biết thì còn chỉ đạo được ai, học trò hỏi thì mình còn biết mà trả lời chứ". Do vậy, ông đã tự mầy mò, nghiên cứu để có thể chỉ đạo và giảng dạy cho các thế hệ học trò, bác sĩ của mình.

Từ năm 1986, bác sĩ Lê Thế Trung được cử làm Giám đốc Học viện Quân y. Trên cương vị mới, trách nhiệm của ông cũng ngày một lớn hơn. Kể từ đây, ông càng phát huy được vai trò, tài năng tổ chức, quản lý công việc. Từ đầu những năm 1990, GS Lê Thế Trung đã cùng các đồng nghiệp của Học viện Quân y và một số bệnh viện lớn (Việt Đức, Chợ Rẫy, Bệnh viện Nhi TƯ...) tích cực chuẩn bị cho “Chương trình nghiên cứu ghép thận”. Ông là một trong những người thực hiện ca ghép thận đầu tiên ở Việt Nam. Kể từ ca ghép thận đầu tiên thành công tại Học viện Quân y (4-6-1992) đến nay, Việt Nam đã có hàng trăm ca ghép thận và một số ca ghép gan, ghép tim thành công, mở ra những thành tựu mới trong y học.

 GS Lê Thế Trung (thứ 2 từ phải sang) và các bệnh nhân ghép thận đầu tiên.

 GS Lê Thế Trung (thứ 2 từ phải) và các bệnh nhân ghép thận đầu tiên.

(Nguồn: Internet)

Tháng 1-2004, GS Lê Thế Trung là đồng Trưởng ban Chỉ đạo ca ghép gan trên người đầu tiên ở Việt Nam. Tháng 10-2005, sau nhiều năm nghiên cứu ghép tạng trên thực nghiệm và trên lâm sàng cùng các đồng nghiệp và học trò, GS.TSKH Lê Thế Trung vinh dự là đồng tác giả của Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ cho cụm công trình Ghép tạng - công trình nghiên cứu khoa học mang tính cách mạng của nền y học hiện đại Việt Nam.

GS Lê Thế Trung cùng con trai nhận Giải thưởng Hồ Chính Minh năm 2005. 

GS Lê Thế Trung cùng con trai nhận Giải thưởng Hồ Chính Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2005. (Nguồn: Internet) 

Giáo sư Lê Thế Trung cũng là người khởi xướng, đề nghị xây dựng ngành Y học thảm hoạ. Đến nay vấn đề này đang được nhà nước và xã hội quan tâm. Như vậy, ông là người khởi đầu của ba chuyên ngành lớn của nền y học Việt Nam là chuyên ngành bỏng, ghép tạng và y học thảm họa. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để y giới Việt Nam coi ông là người anh hùng tiên phong trong nhiều lĩnh vực.

Từ Y tá đến một Tiến sĩ khoa học

Trong ba lô ra ngoài mặt trận của người lính Lê Thế Trung luôn có cuốn sổ ghi chép hoặc các cuốn từ điển nhỏ để học ngoại ngữ, hoặc ghi chép kiến thức chuyên môn từ sách vở, thực tiễn. Thời bình, khi làm việc tại cơ quan hay tại nhà riêng, ông cũng đều có sổ ghi chép bên cạnh. Dù khi còn trẻ, là một y tá hay khi đã là một người đứng đầu một cơ sở nghiên cứu, chữa bệnh, ông vẫn luôn giữ thói quen ấy. Đó phải chăng là thói quen của một người lính luôn đề cao tinh thần tự học, thói quen của một nhà khoa học thành công.

Giáo sư Lê Thế Trung sinh năm 1928 tại Thanh Trì, Hà Nội, vùng đất sản sinh ra không ít danh nhân của đất nước. Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, chàng thanh niên trẻ tuổi tham gia cướp chính quyền tại Hà Nội. Và chỉ ít lâu sau đó, tháng 4-1946, ông nhập ngũ, theo học lớp y tá của Cục Quân y. Định mệnh cuộc đời đã gắn bó ông với ngành y kể từ giây phút ngẫu nhiên ấy. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông là y tá thuộc Trung đoàn 148 Sơn La, là học viên trường Quân Y sĩ Việt Bắc (1949-1951). Giống như nhiều sinh viên y khoa bấy giờ, ông vừa đi chiến dịch vừa học, tranh thủ mọi lúc mọi nơi để học. Mặc dù chỉ là một y tá, nhưng từ năm 1951 đến 1954, ông được cấp trên giao cho nhiều trọng vụ, như Trưởng ban Quân y Trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Trong hành trang của y tá Lê Thế Trung luôn có những cuốn sổ tay rất dày, chữ ghi rất nhỏ kiến thức về ngoại khoa, kinh nghiệm xử lý các tình huống cấp cứu cho thương binh. Ông từng kể: "Tôi vừa đọc, vừa ghi chép lại, tài liệu qua các năm cứ dầy lên. Tài liệu học qua từng người thầy tôi cũng lưu giữ lại... Khi vừa kháng chiến xong, tôi nhận nhiệm vụ lên phân khu Tây Bắc. Với tinh thần học tập nên khi lên đó tôi mang theo toàn sách và ghi chép ra để học" .

Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, y tá Lê Thế Trung được cử lên Tây Bắc làm Chủ nhiệm Quân y, Trung đoàn 254, 53, Sư đoàn 350. Với tinh thần vươn lên và quyết tâm học tập không ngừng nghỉ. Từ năm 1956-1957, ông theo học lớp y sĩ cao cấp của trường Sĩ quan Quân y, rồi làm Phó chủ nhiệm Quân y Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Quân y 6. Từ năm 1958, ông công tác tại Viện Quân y 103 và gắn bó với nơi này cho đến hết cuộc đời mình.

Một dấu mốc quan trọng đối với y tá Lê Thế Trung là năm 1961 ông được cử sang Liên Xô để làm thực tập sinh. Năm 1964, bác sĩ Lê Thế Trung tốt nghiệp chuyên khoa Bỏng tại Học viện Quân y Ki-rôp. Ngay sau khi về nước, ông đề nghị xin được thành lập Khoa Bỏng thuộc Viện Quân y 103. Từ đó trở đi ông đã tích cực nghiên cứu qua thực tiễn, hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, để tổng kết, đúc rút những kinh nghiệm chữa bỏng, đáp ứng yêu cầu của đất nước có chiến tranh.

Hiếm có bác sĩ nào như bác sĩ Lê Thế Trung, lăn lộn trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trở về từ Liên Xô, ông được cử làm Chủ nhiệm Khoa ngoại Viện Quân y 103. Từ năm 1965 đến đầu 1966, ông công tác tại chiến trường Quân khu 5, rồi chiến dịch Khe Sanh.... Ở nơi chiến trường, ông vẫn tích cực ghi chép lại các trường hợp chấn thương, bị bỏng do bom napan để phục vụ công tác nghiên cứu, điều trị cho thương binh.

Ba lô và một số vật dụng của GS Lê Thế Trung mang theo nơi chiến trường.    

Ba lô và một số vật dụng của GS Lê Thế Trung mang theo nơi chiến trường.

 (Nguồn: Internet) 

Năm 1966 ông được đề bạt là Chuyên viên đầu ngành về Bỏng của Cục Quân y. Trên cương vị công tác mới, bác sĩ Lê Thế Trung nhận thấy cần phải nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Vừa công tác, ông vừa tự học tập, tìm tòi, nghiên cứu. Ông tìm đọc các loại sách chuyên khoa về bỏng và ghi chép lại. Với vốn ngoại ngữ tiếng Pháp (học từ hồi phổ thông), tiếng Nga và tiếng Anh nên ông đã đọc được nhiều tài liệu khác nhau. Các kiến thức cơ bản ông ghi chép lại vào một cuốn sổ để tiện tham khảo.

Năm 1972, bác sĩ Lê Thế Trung được cử đi làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô. Ông chọn đề tài “Nhiễm khuẩn mủ xanh trong bỏng” để thực hiện luận án Phó tiến sĩ. Đề tài xuất phát từ thực tế điều trị thương binh trên chiến trường. Thương binh bỏng bị nhiễm khuẩn mủ xanh, vết thương thường bị sưng rất to, đau nhức, có trường hợp phải cắt bỏ một phần thân thể hoặc tử vong. Kháng sinh điều trị thời đó ít tác dụng. Các bác sĩ thường vận dụng các loại thuốc nam gia truyền nhưng cũng không được phổ biến và hiệu quả. Chính vì lẽ đó, ông đã quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu với mong muốn tìm được giải pháp hữu hiệu nhất chữa cho thương binh qua kinh nghiệm và những kiến thức của các bạn Liên Xô. Để thực hiện đề tài này, ngoài những buổi lên lớp, đọc sách tại thư viện, ông không bỏ qua bất cứ một buổi thực hành và thí nghiệm nào. Ông còn cố gắng làm quen với người quản lý hồ sơ bệnh lịch của bệnh nhân trong bệnh viện, nơi ông thực tập để mượn, đọc, ghi chép và nghiên cứu. Tổng cộng, ông đã mượn, đọc và ghi chép 1083 bệnh lịch để hiểu các biến chứng của bệnh, đồng thời biết cách thức điều trị cho từng trường hợp cụ thể. Tất cả những gì cần thiết hoặc còn băn khoăn ông đều ghi chép lại cẩn thận. Những vấn đề thắc mắc sau này tự tìm được câu trả lời hoặc được các giáo sư giải đáp ông cũng ghi vào vở. Với lòng ham mê nghiên cứu, năm 1975, ông bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ y học. Đặc biệt, từ năm 1984 đến 1986, ông được cử sang Liên Xô làm thực tập sinh cao cấp. Với quyết tâm lớn nên trong lần trở lại Liên Xô lần thứ 3, ông đã hoàn thành luận án tiến sĩ (nay là tiến sĩ khoa học).

Từ một y tá vệ quốc đoàn, ba lô túi dết theo bộ đội đi chiến dịch, Lê Thế Trung - sau bao nhiêu năm miệt mài học tập, nghiên cứu đã trở thành một tiến sĩ y học, một nhà khoa học về bỏng hàng đầu Việt Nam. Ngành Quân y Việt Nam luôn tự hào với tên tuổi của vị Anh hùng Lê Thế Trung.

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam  


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin:
close

Thông báo