24/05/2020 8:58:56 CH - Về một tài liệu chép tay

18/05/2020 3:58:03 CH - Việc “đại nghĩa”

Trọn đời gắn bó với chuyên ngành Tổ chức và chỉ huy quân y
Cập nhật lúc: 16:43, Thứ Tư, 15/04/2020 (GMT+7)

Đến với ngành Quân y cần vụ (nay là Tổ chức và chỉ huy quân y) như một nhiệm vụ khó cưỡng, nhưng rồi ông Nguyễn Duy Tuân* đã cống hiến hết mình để xây dựng và rồi gắn bó trọn đời.

Năm 1947, Nguyễn Duy Tuân vào học trường Đại học Y Dược khoa (nay là trường Đại học Y Hà Nội) tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Chủ trương vừa học tập vừa phục vụ chiến trường là điểm đặc biệt trong đào tạo y khoa ở nước ta trong kháng chiến chống Pháp. Vì vậy, ngay từ khi mới vào trường, xác định sẽ đi chiến trường bất cứ lúc nào, các sinh viên trường Y nêu cao tinh thần tự học, đều chép lại hoặc tóm tắt nội dung sách để làm cẩm nang mang theo người. Năm 1949, sinh viên Nguyễn Duy Tuân tham gia các chiến dịch: Thập Vạn Đại Sơn, Trung Quốc (1949); chiến dịch Biên giới 1950, Hoàng Hoa Thám 1951, Quang Trung 1951 với hành trang không thể thiếu là kiến thức của hai năm học cùng một số sách chép tay. Từ 1952, ông là Trưởng ban Quân y Trung đoàn 48, Đại đoàn 320, tham gia cùng Trung đoàn trong tác chiến tại vùng địch hậu Nam Định, Thái Bình và các tỉnh vùng ven Ninh Bình, Hà Nam. Năm 1954, ông là Phó ban Quân y Đại đoàn 320, rồi Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn 320.

Năm 1955, trở về trường Đại học Y Dược ở Hà Nội, Nguyễn Duy Tuân phải tham dự ngay kỳ thi tốt nghiệp bác sĩ đa khoa, mặc dù chưa được bổ sung kiến thức còn thiếu trong thời gian đi chiến dịch. Do vậy, ông quyết tâm nỗ lực tự học để đáp ứng yêu cầu công việc. Bấy giờ, tiếng Nga được coi là ngoại ngữ quan trọng nhất, bởi Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng các ngành khoa học (trong đó có y học) bằng cách cử chuyên gia sang làm việc trực tiếp và trang bị tài liệu, máy móc. Trước xu thế của thời đại, BS Nguyễn Duy Tuân quyết tâm tự học tiếng Nga để có thể cập nhật được kiến thức y học mới qua tài liệu của Liên Xô. Ông lên cửa hàng sách ngoại văn ở phố Tràng Tiền nhưng chỉ tìm được cuốn Russian của Nina Potapova (sách dạy tiếng Nga qua tiếng Anh, xuất bản năm 1954 ở Moscow). Dù tiếng Anh chưa thực thành thạo nhưng ông vẫn mua và quyết tâm tự học.

GS.TS Nguyễn Duy Tuân

Cũng trong năm 1955, sau khi tốt nghiệp bác sĩ Nguyễn Duy Tuân tiếp tục về công tác tại Sư đoàn 320. Với vai trò là Chủ nhiệm Quân y sư đoàn, ông trực tiếp điều hành công tác quân y của Sư đoàn. Bấy giờ đơn vị đã về tiếp quản Hải Phòng và đóng quân ở trại Bouet (nay là trụ sở Bộ tư lệnh hải quân). Hàng ngày ông thường dành 1 tiếng buổi trưa và 1 tiếng buổi tối để tự học tiếng Nga. Sau này, trở về Hà Nội, ông mua được cuốn sách Le Russe là sách dạy tiếng Nga qua tiếng Pháp. Nhờ vốn tiếng Pháp tốt từ thời phổ thông nên việc học của ông thuận lợi hơn.

Tháng 6-1958, ông được điều về Cục quân y (thuộc Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng), làm Trưởng ban kế hoạch trong thời gian ngắn. Tháng 9-1958, ông được Cục Quân y điều sang làm giáo viên khoa Quân y cần vụ, trường Sĩ quan Quân y[1] - một ngành hoàn toàn mới, ông chưa từng được học. Ông cho biết, bấy giờ, không ai được chọn chuyên ngành mà hoàn toàn vui vẻ chấp hành sự phân công của Cục Quân y. Quân y cần vụ là môn dạy về tổ chức và bảo đảm quân y trong các loại hình chiến đấu, chiến dịch, cả thời chiến và thời bình. Đó là việc tổ chức và bảo đảm quân y trong các chiến dịch nhằm cứu chữa thương binh tốt nhất, từ khâu tiếp nhận, phân loại, sơ cứu, đưa thương binh về tuyến sau an toàn… - một công việc khó của công tác quân y trong chiến đấu.

Quân y cần vụ là một tổ bộ môn được thành lập năm 1957, do y sĩ Cung Bỉnh Trung phụ trách. Năm 1958, y sĩ Cung Bỉnh Trung được cử đi học đại học, bộ môn được nâng cấp thành khoa Quân y cần vụ, BS Nguyễn Thúc Mậu (được đào tạo ngành Tổ chức và Chiến thuật quân y ở Liên Xô), Trưởng phòng Huấn luyện Cục Quân y, về làm Chủ nhiệm khoa. Tuy nhiên ông Mậu phải kiêm nhiệm chức Phó Hiệu trưởng trường Sĩ quan quân y nên bận công tác quản lý. Do vậy, BS Nguyễn Duy Tuân được ông Nguyễn Thúc Mậu ủy nhiệm Phụ trách khoa[2]. Ông chia sẻ: "Khi dạy cho lớp quân y sĩ khóa 6 (vào trường năm 1959), tôi không có cách nào khác là dạy nguyên văn theo các tài liệu dịch từ tiếng Trung Quốc mà anh Nguyễn Thành Châm[2] mang về. Lúc này, vốn liếng ít ỏi về tiếng Nga bắt đầu phát huy tác dụng. Tôi mượn các vở ghi chép của anh Mậu mang từ Liên Xô về, vừa tập dịch, vừa xây dựng cho mình những hiểu biết lý luận ban đầu về môn Quân y cần vụ"[4].Việc dịch tài liệu cũng là để ông tiếp tục trau dồi vốn tiếng Nga, nhưng quá trình ấy thật gian nan. Ông nhớ lại: Một trang sách chuyên môn có khi phải tra đến 30 hoặc 40 từ. Hầu như từ nào cũng không biết, tra từ điển xong rồi lại quên. Bấy giờ chưa có nhiều từ điển như ngày nay nên tôi phải dựa vào cuốn từ điển Nga - Pháp để tra cứu [5]

May mắn là thời gian ấy, quân y Việt Nam nhận được sự giúp đỡ của chuyên gia Bungari, trong đó ông Spas Batchev[6] trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ xây dựng cơ sở ban đầu về nội dung môn học. Các buổi sáng, ông Batchev giảng lý thuyết môn học cho BS Nguyễn Duy Tuân và y sĩ Đặng Xuân Cảnh (trợ lý của BS Tuân). Nhưng đóng góp lớn nhất của ông Batchev cho bộ môn là phần thực hành - phần mà BS Nguyễn Duy Tuân chưa có chút kiến thức nào. Để khắc phục điều đó, BS Nguyễn Duy Tuân đến trường Trung cao quân sự (nay là Học viện quốc phòng) mượn bài tập về quân sự, như bài tập về trung đoàn bộ binh tiến công, trung đoàn bộ binh phòng ngự... Trên cơ sở đó ông Batchev giúp xây dựng các tập bài về chiến thuật quân y. Với quyết tâm học tập cao, Nguyễn Duy Tuân đã cùng ông Batchev đi trinh sát thực địa, xây dựng tập bài, kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu ở các tỉnh Hòa Bình, Thái Bình, Hải Dương, Quảng Bình... Ông Batchev hướng dẫn các ông tỉ mỉ từ khâu vẽ bản đồ, sử dụng bản đồ đến việc xây dựng tập bài, viết đáp án về quân y.

Để gắn lý thuyết với thực tiễn chiến đấu, ông Nguyễn Duy Tuân thường xuyên tham dự các cuộc diễn tập của các đơn vị thuộc các Sư đoàn 308, 320... Có cuộc diễn tập, ông chỉ thâm nhập để theo dõi học tập. Nhưng có cuộc diễn tập ông phải trực tiếp chỉ đạo. Đó là những bước khởi đầu của ông trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về lĩnh vực quân y cần vụ. Nhờ vậy, ông dần trưởng thành, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Diễn tập “Trạm quân y trung đoàn bộ binh” là công trình nghiên cứu cơ bản đầu tiên bộ môn thực hiện theo yêu cầu của Cục Quân y. Khi ấy, BS Nguyễn Duy Tuân chưa nắm được phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học quân sự và cũng không có tài liệu tham khảo. Nhưng căn cứ vào yêu cầu thực tế hết hợp với kinh nghiệm qua các lần tham dự diễn tập quân sự, ông cùng cán bộ của bộ môn đã thực hiện đề tài đạt kết quả tốt. Giáo sư Nguyễn Duy Tuân cho biết: Đề tài nghiên cứu tổ chức một trạm quân y trung đoàn cơ động trong chiến đấu để khi chiến tranh xảy ra, thương binh về là có thể cứu chữa và phẫu thuật tại chỗ ngay. Việc khó nhất của quân y là phải hành quân bám sát các đơn vị chiến đấu với đầy đủ dụng cụ, thuốc men sẵn sàng làm nhiệm vụ. Bộ môn đã nghiên cứu xây dựng, tổ chức lực lượng, phân công nhiệm vụ cho từng người với trang thiết bị đầy đủ trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Bộ môn kết hợp với Quân y Trung đoàn 52, Sư đoàn 320 để diễn tập. Sau đó, BS Nguyễn Duy Tuân trình bày nghiên cứu này trong một hội nghị khoa học do Cục quân y tổ chức. Đó thực sự là những bước đi đầu tiên nhưng rất quan trọng trên con đường nghiên cứu khoa học của ông. Ông chia sẻ: Những năm 1958-1962, biên chế của bộ môn chỉ có 1 bác sĩ, 3 quân y sĩ, 1 quân dược sĩ và 1 kỹ thuật viên nhưng bộ môn đã làm được nhiều việc, từ xây dựng bộ môn, biên soạn bài giảng, bài thực tập đến đi đơn vị chỉ đạo diễn tập và thực hiện đề tài nghiên cứu được giao. [7].

Cuối năm 1964, đầu năm 1965, ông Nguyễn Duy Tuân nhận quyết định biệt phái sang trường Đại học y Hà Nội phụ trách bộ môn Y học quân sự. Bộ môn có nhiệm vụ huấn luyện sinh viên những kiến thức cần thiết về y học quân sự, chuẩn bị cho các bác sĩ tương lai phục vụ trong quân đội khi có yêu cầu. Ông nhận nhiệm vụ mới cũng không hề dễ dàng, bộ môn chỉ có 5 người, gồm 3 sĩ quan biệt phái và 2 cán bộ của trường nhưng phải đảm nhiệm cho tất cả các khóa sinh viên học từ quân sự cơ bản, chiến thuật quân y đại đội và tiểu đoàn, y học quân sự đến chiến thuật quân y trung đoàn. Các cán bộ của bộ môn đã đoàn kết chặt chẽ để thực hiện nhiệm vụ, vừa đưa ra phương án học tập phù hợp, đối phó với không quân Mỹ đang mở rộng chiến tranh phá hoại.

Tháng 8-1965, ông là phái viên Cục Quân y đi công tác ở các chiến trường Khu 5 (B1) và Tây Nguyên (B3). Tháng 6-1966, trở về Bắc, ông công tác tại cơ quan Cục Quân y.

Tháng 11-1966, ông được Cục Quân y điều về làm Hiệu trưởng trường Trung cấp Quân y mới thành lập ở Sơn Tây. Trường có hai nhiệm vụ chính là đào tạo y sĩ và dược sĩ trung cấp; giúp Cục Quân y chỉ đạo công tác đào tạo trung học quân y trong toàn quân. Nhiệm vụ được giao không hề nhỏ nhưng nhân lực mới chỉ có hai người gồm Hiệu trưởng là Thiếu tá Nguyễn Duy Tuân và Chính ủy Trung tá Phạm Hương. Việc đầu tiên của các ông là tiếp nhận cán bộ (gồm các y tá, y sĩ ở các đơn vị do Cục Quân y điều động về), xây dựng bộ máy, xây dựng cơ sở vật chất, hậu cần... tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học sinh học tập tốt; xây dựng bài giảng, mục tiêu đào tạo, xây dựng hệ thống tài liệu giảng dạy, hệ thống huấn luyện tổng hợp dã ngoại... Nhà trường chú trọng tăng cường huấn luyện các môn quân sự và y học quân sự, đưa công tác huấn luyện sát thực tiễn chiến trường và chiến đấu. Từ các hình thức hành quân diễn tập tổng hợp của các trường quân sự và các đơn vị luyện quân đi B, ông Nguyễn Duy Tuân và cán bộ trường đã nghiên cứu, xây dựng hình thức: "Rèn luyện hành quân đường dài và thực tập dã ngoại” cho học viên quân y sĩ trong kháng chiến chống Mỹ. Hình thức đó giúp nâng cao năng lực thực hành, nhất là trong chiến đấu cho quân y sĩ. Sau khi kết thúc chiến tranh, hình thức ấy chuyển thành “huấn luyện tổng hợp dã ngoại". Từ năm 1967 đến hết năm 1981, nhà trường đã triển khai 27 đợt huấn luyện thực tập dã ngoại cho 53 lớp y sĩ với 4131 học viên tham gia. Giáo sư Nguyễn Duy Tuân chia sẻ: Đây là đơn vị tôi dừng chân lâu nhất và cũng là nơi tôi có nhiều cống hiến nhất cho ngành Quân y. Trong 17 năm làm Hiệu trưởng, tôi đã góp phần đào tạo được hàng nghìn y sĩ cung cấp cho các đơn vị, chiến trường[8].

Giữa năm 1980, trường Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y) chủ trương cho những cán bộ quân y đã làm việc lâu năm và có công trình khoa học được đăng ký làm luận án phó tiến sĩ. Ông Nguyễn Duy Tuân đăng ký trong đợt ấy. Trên cơ sở những nghiên cứu trong thời gian ở trường Trung cấp Quân y, ông Nguyễn Duy Tuân quyết định chọn đề tài luận án là “Góp phần nghiên cứu về huấn luyện tổng hợp dã ngoại trong công tác đào tạo quân y sĩ tại trường Trung học quân y I”. Ông Nguyễn Duy Tuân tìm tài liệu về vấn đề Huấn luyện tổng hợp dã ngoại cho luận án của mình ở Học viện Lục quân (Đà Lạt), trường Trung học Quân y 2 (TP HCM), thư viện Quốc gia, thư viện quân đội, thư viện trường Đại học quân y, Học viện Quân sự cao cấp... Luận án của ông được GS Nguyễn Thúc Mậu, PGS Bùi Thế Sinh và PGS.TS Lê Thế Trung góp ý, định hướng. Năm 1984, ông hoàn thành luận án, trong đó tổng kết những kết quả đã đạt được trong huấn luyện thực tập dã ngoại của trường trung học quân y 1 từ năm 1967 tới thời điểm bấy giờ. Trực tiếp nhất là kết quả của các đợt huấn luyện đã ngoại tổng hợp trong các năm 1980-1981. Luận án đánh giá vị trí của huấn luyện tổng hợp dã ngoại, nội dung tổ chức và phương pháp huấn luyện; phân tích những điều kiện chủ yếu nhằm bảo đảm huấn luyện đạt kết quả tốt. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc thực hiện cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo quân y sĩ, đáp ứng tốt những yêu cầu của chiến trường.

Mặc dù luận án của ông hoàn thành từ năm 1984, nhưng do đây là luận án đầu tiên thuộc chuyên ngành Tổ chức và chỉ huy quân y nên đã vướng phải một số vấn đề thủ tục. Phải đến tháng 10-1988, lễ bảo vệ luận án của ông mới được tổ chức tại trường Đại học Quân y. Hôm ấy, phản biện 2 là GS.TSKH Ngô Thế Phương (Vụ phó Vụ khoa học Bộ Y tế) nhận xét: "Đây là một bản luận án có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Nội dung phong phú cả về lý thuyết và thực hành. Ý nghĩa của nội dung huấn luyện tổng hợp dã ngoại trong việc đào tạo quân y sĩ tại trường Trung học quân y là một vấn đề thiết thực cần được tiếp tục khai thác, xây dựng thành một chương trình trong huấn luyện quân y sĩ..."[9].

Năm 1984, ông Nguyễn Duy Tuân thôi chức Hiệu trưởng trường Trung cấp Quân y và được điều về làm chuyên viên Cục Quân y cho đến khi nghỉ hưu, tháng 12-1997.

Trong 13 năm công tác ở Cục Quân y, GS Nguyễn Duy Tuân tham gia viết sách, góp phần xây dựng lý luận ngành Tổ chức và chỉ huy quân y. Có thể kể đến cuốn Tổ chức và Chiến thuật Quân y, đồng tác giả, Cục Quân y, 1984 và 1989; Công tác y tế Quân sự địa phương bảo đảm cho tác chiến của khu vực phòng thủ, tác giả, Cục Quân y, 1991; Tổ chức và chỉ huy Quân y, đồng tác giả, H - Quân đội nhân dân, 2006; Tổ chức và chỉ huy Quân y (Giáo trình giảng dạy Trung cấp Quân y) tác giả, H - Quân đội nhân dân, 2008…

Ngoài ra, GS Nguyễn Duy Tuân còn tham gia các công trình tổng kết chiến tranh, và vấn đề bảo đảm quân y. Nhiều công trình đến nay vẫn được đánh giá cao, như công trình “Tổng kết công tác quân y trong kháng chiến chống Mỹ”. Trong đó trình bày kết quả cứu chữa, điều trị từng loại vết thương ở các chiến trường, thống kê số thương binh, tử sĩ, tỉ lệ bổ sung chiến đấu… ở từng chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Cuốn Lịch sử kết hợp quân dân y Việt Nam (H - Y học, 2006) do GS Nguyễn Duy Tuân chủ biên là công trình có ý nghĩa lớn, ghi lại lịch sử kết hợp quân dân y qua các giai đoạn chiến tranh cũng như thời kỳ đổi mới, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm, tạo cơ sở cho bước phát triển mới, rộng khắp và vững chắc của kết hợp quân dân y[10]. Cuốn sách được Giải thưởng Sách hay năm 2007.

Với những đóng góp ấy, GS Nguyễn Duy Tuân được coi là chuyên viên đầu ngành Tổ chức và chỉ huy quân y Việt Nam. GS Nguyễn Duy Tuân luôn tâm niệm: Một bác sĩ quân y phải giỏi về chuyên môn kỹ thuật, nhưng cũng phải giỏi về tổ chức chỉ huy quân y, như vậy mới hoàn thành được nhiệm vụ trong chiến đấu. Đào tạo về chuyên môn kỹ thuật và tổ chức chỉ huy quân y đều rất khó, đòi hỏi người bác sĩ quân y phải nỗ lực học tập rất lớn. Nhìn lại 50 năm gắn bó với ngành quân y, GS Nguyễn Duy Tuân chia sẻ: Cuộc đời tôi là một quá trình liên tục khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ được giao. Đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy:

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên[11].

Lê Thị Hằng

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam



[*] GS.TS Nguyễn Duy Tuân, nguyên Hiệu trưởng trường Trung cấp Quân y, nay là trường Cao đẳng Quân y 1 thuộc Học viện Quân y.

[1] Cách gọi theo phiên âm tiếng Trung, nay là bộ môn Tổ chức và chỉ huy quân y, Học viện Quân y

[2] Do vậy, trong phần thông tin giới thiệu Khoa Chỉ huy, Tham mưu Quân y, Học viện Quân y viết: Thiếu tướng GS. BS. Nguyễn Thúc Mậu là Chủ nhiệm bộ môn thời - 1958 - 1968; Đại tá GS.TS. Nguyễn Duy Tuân là Chủ nhiệm bộ môn thời kỳ 1958 - 1964.

[3] BS Nguyễn Thành Châm từng học ngành Quân y cần vụ ở Trung Quốc; sau này là Đại tá, Chủ nhiệm khoa Sinh hóa của Học viện Quân y.

[4] Nguyễn Duy Tuân, hồi ký "Trưởng thành trong thử thách", bản in, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[5] Nguyễn Duy Tuân, hồi ký "Trưởng thành trong thử thách", bản in, tài liệu đã dẫn.

[6] GS Nguyễn Duy Tuân cho biết: Ông Spas Batchev từng tham gia cách mạng trong cuộc kháng chiến của Bungari chống phát xít Đức. Kết thúc chiến tranh ông theo học trường y, gia nhập quân đội rồi được phân làm giảng viên ở Học viện Quân y Sofia (Bungari).

[7] Nguyễn Duy Tuân, "Hồi ức về trường Trung cấp Quân y", bản in, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[8] PV GS.TS Nguyễn Duy Tuân, 23-8-2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[9] Nguyễn Duy Tuân, "Hồi ức về trường Trung cấp Quân y", bản in, tài liệu đã dẫn.

[10] Trích lời giới thiệu cuốn sách "Lịch sử kết hợp quân dân y".

[11] Thư GS.TS Nguyễn Duy Tuân gửi Nghiên cứu viên Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, ngày 4-9-2019.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: