03/09/2020 3:34:36 CH - Nhớ Giáo sư Lê Thi

Chuyến đi định mệnh
Cập nhật lúc: 16:04, Thứ Bảy, 04/04/2020 (GMT+7)

Đầu năm 1967, GS Đặng Văn Ngữ cùng đồng nghiệp tại Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng đã có chuyến công tác vào chiến trường miền Nam, tới những vùng đang bị bệnh sốt rét hoành hành, để nghiên cứu, chữa trị tại chỗ căn bệnh này. Không thể ngờ, đây lại là chuyến đi định mệnh với ông.

Trước Cách mạng tháng 8-1945, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã quan tâm đến công tác điều tra cơ bản về bệnh sốt rét, một trong số căn bệnh nguy hiểm tồn tại ở một đất nước nhiệt đới như Việt Nam. Khi còn học tập tại Nhật Bản (1943-1949), trong bức thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng năm 1949, ông đã đề cập đến vấn đề này: “…phong thổ nước ta là kiện tướng rất lợi hại, không khác gì vị tướng Tuyết đối với nước Nga. Vị tướng phong thổ đã dùng đạo binh “SỐT RÉT RỪNG” giúp ta đuổi bọn Pháp ra khỏi bờ cõi. Nhưng ta cũng nên nhớ rằng vị tướng ấy là vị tướng rất hay trở mặt nếu ta không biết dùng nó”.

Sau khi về nước, ông đã nghiên cứu và sản xuất thành công “nước lọc Penicillin” giúp điều trị vết thương cho thương bệnh binh trong Kháng chiến chống Pháp (và cả kháng chiến chống Mỹ sau này). Năm 1957, Viện Sốt rét1 được thành lập. Trở thành Viện trưởng đầu tiên, và là Chủ nhiệm Chương trình tiêu diệt bệnh sốt rét ở miền Bắc, GS Đặng Văn Ngữ đã chỉ đạo tiến hành khảo sát, điều tra toàn diện bệnh sốt rét trên miền Bắc. Đồng thời các Ủy ban tiêu diệt sốt rét từ cấp trung ương đến địa phương được thành lập để thực hiện cuộc điều tra bệnh sốt rét lớn chưa từng có. Tính đến năm 1960-1961 có trên 3000 điểm điều tra với 646.277 người được khám lách, 435.370 người được thử máu, 319.087 nhà được điều tra muỗi2… Nhiều đoàn cán bộ được cử đến các tỉnh vùng Tây Bắc, đến Thanh Hóa, Nghệ An… để nghiên cứu sâu tình hình dịch bệnh, từ vấn đề lâm sàng, sinh thái học đến các vấn đề kinh tế xã hội, môi trường; phân vùng sốt rét và tổ chức tiêu diệt sốt rét.

Dựa trên kết quả cuộc điều tra trên, GS Đặng Văn Ngữ đã cùng đồng nghiệp khái quát những yếu tố gây bệnh, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tiêu diệt sốt rét. Theo BS Nguyễn Tiến Bửu, nguyên Viện phó Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng đồng thời là thành viên Chương trình tiêu diệt bệnh sốt rét, đến năm 1964, tỷ lệ sốt rét ở các địa phương đã giảm trung bình 15-20 lần, có nơi tỷ lệ chỉ còn 0,01%. Trước đó có những vùng nông thôn, miền núi, có tới 90% dân số mắc bệnh.

 
Bản đồ phân vùng sốt rét Việt Nam (1958-1974) dựa theo 7 phân vùng sốt rét của GS Đặng Văn Ngữ (Trích báo cáo của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương)

Công cuộc chống sốt rét ở miền Bắc đã có kết quả rất đáng mừng, nhưng GS Đặng Văn Ngữ vẫn chưa thể an tâm, khi thực trạng ở nhiều vùng trên chiến trường miền Nam, rất nhiều người hy sinh không chỉ vì bom đạn mà còn vì bệnh sốt rét đang hoành hành dữ dội. Mô tả lại tâm trạng ông khi ấy, đồng nghiệp Đào Ngọc Phong đã sáng tác mấy câu thơ:

                                                                                    “Nhìn sông tuyến mắt quầng thâu đêm                                                                                                                                                        Anh cắn môi nhức nhối                                                                                                                                                                              Anh đứng đây - phơi mình bắt muỗi                                                                                                                                                             Bóng đè vách đá chênh vênh,                                                                                                                                                                      Lòng xót xa trăn trở”3

"Theo thông tin từ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, nếu giảm 5% tỉ lệ thương vong vì sốt rét, quân dân miền Nam hoàn toàn có thể giành thắng lợi..., GS Đặng Văn Ngữ càng quyết tâm đề đạt lên cấp trên xin vào chiến trường miền Nam để nghiên cứu và chữa trị sốt rét" – Bác sĩ Nguyễn Tiến Bửu chia sẻ. Nhiều lần Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch trao đổi cân nhắc về chuyến công tác này và gợi ý nên cử cán bộ trẻ có kinh nghiệm vào nghiên cứu tình hình trước. Nhưng sự cấp bách của nhiệm vụ cùng quyết tâm khó lay chuyển của Viện trưởng Viện Sốt rét, nên cuối cùng cấp trên chấp thuận nguyện vọng của GS Đặng Văn Ngữ.
 
Để chuẩn bị cho chuyến công tác đường trường, vừa chuẩn bị nội dung, phương tiện nghiên cứu, GS Đặng Văn Ngữ vừa tích cực rèn luyện sức khỏe. Ông tập đi dép cao su thay cho thói quen đi giày da. Với nhiều người, có lẽ việc này chẳng có gì đáng nói, nhưng với người thường xuyên mang giày da bất kể mùa nóng, mùa lạnh như ông thì cũng trở thành vấn đề. Mỗi tối, ông còn tập vác balo gạch đi quanh nhà, dần dần đi quãng đường xa hơn... Khoảng cuối năm 1966, ông cùng 12 cán bộ của Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng được bí mật đưa lên Lương Sơn (Hòa Bình) huấn luyện và rèn luyện sức khỏe. Ở tuổi 56, lại là lãnh đạo một Viện nghiên cứu, nhưng ông từ chối sự ưu tiên trong việc mang vác đồ và luôn nghiêm túc, gương mẫu trong luyện tập. Tết Nguyên đán năm 1967, tranh thủ thời gian ngừng bắn, cả đoàn bắt đầu di chuyển bằng ô tô vào Vĩnh Linh (Quảng Trị) rồi đi bộ vào Trị Thiên - Huế.
 
Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch (hàng thứ nhất, thứ 4 từ trái), GS Đặng Văn Ngữ (hàng thứ 2,  thứ 3 từ trái) cùng các đồng nghiệp tại              Tuyên Quang, 1955
 
Trước chuyến đi B, GS Đặng Văn Ngữ đã kịp lên thăm mộ vợ ở Việt Bắc. Chuyến đi này, ông mong có thể về thăm quê hương Thừa Thiên - Huế, thăm mẹ già và những người ruột thịt sau bao năm xa cách. Chuẩn bị lên đường, ông không quên viết thư báo tin cho các con đang học tập ở xa. Trong thư gửi con gái Đặng Nguyệt Quý (1-2-1967, khi đó đang học ở Liên Xô), ông viết: “Ba rất phấn khởi vì công việc rất cần thiết và cấp bách. Sau khi con đi, Ba vào Vĩnh Linh nghiên cứu trong 4 tháng và thấy có thể sản xuất được thuốc để tiêm phòng sốt rét, Ba sẽ đi B để sản xuất thuốc ấy trên một quy mô lớn hơn. Triển vọng rất nhiều nhưng khó khăn cũng rất nhiều. Ba sẽ cố gắng”. Đã có lần, ông tâm sự với con, rằng khi nào tiêu diệt hết sốt rét ở cả hai miền Bắc - Nam, ông có chết cũng không ân hận.
 
Nhớ về người thầy đáng kính, học trò - GS Nguyễn Ngọc Lanh, nguyên Phó Chủ nhiệm bộ môn Sinh lý bệnh, trường Đại học Y Hà Nội kể rằng: GS Đặng Văn Ngữ đã ấp ủ và nghiên cứu một loại vaccine từ thoa trùng muỗi (là một thế hệ mới của ký sinh trùng sốt rét) để phòng sốt rét, muốn ứng dụng ngay tại chiến trường. Đó chính là “ý tưởng sớm nhất thế giới”4. Có lẽ vì thế dù vào vùng bom đạn nguy hiểm nhưng đoàn đi B không nghĩ đến cái chết mà tràn đầy phấn khởi với niềm tin nghiên cứu thành công thuốc vaccine phòng, chống sốt rét. Bác sĩ Nguyễn Tiến Bửu chia sẻ, có một lần, bom đạn bay sượt đầu ông và GS Đặng Văn Ngữ. May mắn hai người thoát nạn, GS Ngữ vội ôm chặt đồng nghiệp Tiến Bửu: “May quá, mày chết thì khổ tao!”. Dù thiếu thốn, bom đạn nguy hiểm, nhưng GS Ngữ vẫn yêu cầu các thành viên phải dựng nhà, làm phòng thí nghiệm sao cho khang trang, ngăn nắp để thuận tiện cho việc nghiên cứu. Các bác sĩ, kỹ thuật viên, y tá, không ai biết cách làm nhà nhưng rồi họ vẫn làm được.
 
Ngày cuối cùng của tháng 3-1967, đoàn công tác hết gạo ăn, 10 người được cử đến một Trung đoàn cách đó nửa ngày đi bộ để gánh gạo, chỉ còn lại GS Đặng Văn Ngữ và hai nữ kỹ thuật viên. Sáng hôm ấy, trong bữa cơm với các đồng nghiệp anh em, ông chia cho mọi người phần thức ăn của mình và đưa mỗi cán bộ nam một điếu thuốc lá quân lực. Ông vẫn luôn quan tâm đến mọi người như thế. Đoàn 10 người ngủ lại một đêm tại Trung đoàn. Sáng sớm ngày 1-4, trên đường trở về, họ còn bắt cá rồi đem nướng để dành phần ngon nhất mang về cho GS Đặng Văn Ngữ. Nhưng đau thương đã ập đến, trận bom B52 tàn ác của Mỹ ngày hôm ấy đã cướp mất ông và hai nữ kỹ thuật viên cùng một chiến sĩ liên lạc. Ông hy sinh tại cánh rừng ở quê nhà, bỏ lại bao dự định công việc còn dang dở, và không kịp về thăm mẹ như đã thầm hứa trước mộ vợ.
 
Trong hoàn cảnh chiến trường, cũng như bao chiến sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc, GS Đặng Văn Ngữ nằm lặng lẽ tại Trường Sơn suốt hai mươi năm cho đến khi được một tiều phu phát hiện và đưa về Nghĩa trang liệt sỹ Vô danh xã Phong Mỹ (Huế). Đạo diễn, NSND Đặng Nhật Minh – con trai GS Đặng Văn Ngữ được biết, sở dĩ cha ông và những người hy sinh không được lập bia mộ là để tránh quân địch phát hiện hoạt động nghiên cứu của ta khi ấy. Đến năm 2000, gia đình mới tìm được và đưa ông về nghĩa trang họ Đặng trên núi Ngự Bình.
 
Giáo sư Đặng Văn Ngữ đã rời cõi thế trong chuyến đi định mệnh năm 1967 ấy, nhưng sự hy sinh của ông không là dấu chấm hết. Noi gương ông, các thế hệ đồng nghiệp, học trò đã tiếp nối công trình dang dở ông để lại và gặt hái nhiều thành công trong lĩnh vực Y tế dự phòng. Đến nay nhiều vaccine được nghiên cứu và sản xuất trong nước với chất lượng cao, giá thành thấp, góp phần ngăn chặn dịch bệnh, tăng cường thể lực cho thế hệ tương lai. Ông còn để lại hơn 30 công trình nghiên cứu khoa học giá trị, có uy tín trong nước và quốc tế. Và đặc biệt, di sản lớn mà ông để lại chính là tấm gương về đạo đức sống và hết mình với đam mê khoa học…
                                                                                             
                                                                                               “Nối tiếp bước đi, hát tiếp bài ca
                                                                                               Trên Trường Sơn mây trắng
                                                                                               Máu thắm đường ta đi, lẫn mồ hơi rơi, lòng ta như nắng
                                                                                               Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình”5.
Nguyễn Điệp
 
Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam
 _
_________________________
[1] Năm 1961 đổi tên thành Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng. Từ 1998 đến nay là Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.
[2] Theo GS Vũ Thị Phan, “Giáo sư Đặng Văn Ngữ - Người thầy, người anh cả kính mến của chúng tôi”, trong cuốn Đặng Văn Ngữ - Một trí thức lớn, một nhân cách lớn, Nxb Y học, 2010, tr. 319.
[3] Trích từ bài thơ “Anh vẫn đứng hàng đầu” của GS Đào Ngọc Phong - nguyên Trưởng khoa Y tế công cộng, ĐH Y Hà Nội viết về GS Đặng Văn Ngữ.
[4] Theo GS Nguyễn Ngọc Lanh, “Thầy Đặng Văn Ngữ như tôi thấy…”, Đặng Văn Ngữ - Một trí thức lớn, một nhân cách lớn, Nxb Y học, 2010, tr.346.
[5] Trích từ bài thơ “Trên giải Trường  Sơn” (1967) của Đặng Nguyệt Quý – con gái GS Đặng Văn Ngữ viết về ba.
 
 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin:

Họ tên
Email
Tiêu đề
Mã bảo vệ
Nhập mã được hiển thị ở hộp dưới đây
Nội dung
Cập nhật Đóng lại