03/09/2020 3:34:36 CH - Nhớ Giáo sư Lê Thi

Phân viện 5 - ký ức không thể quên
Cập nhật lúc: 09:04, Thứ Sáu, 21/02/2020 (GMT+7)

Thời gian trôi qua khiến người ta có thể quên đi nhiều chuyện trong quá khứ, nhưng có một miền ký ức của 70 năm về trước mà GS Vũ Triệu An* và đồng đội của ông vẫn luôn nhớ về, đó là thời gian công tác tại Phân viện 5 ở Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Tháng 11-1946, sau 13 tháng vào học trường Đại học Y Dược, Vũ Triệu An cùng 39 sinh viên khác tự nguyện đăng ký tham gia hệ "Quân y đại học" tại trường  do BS Đặng Văn Chung là Chủ nhiệm. Sinh viên quân y được cấp phát trang phục, sinh hoạt phí nhưng vẫn học chung với sinh viên dân y tại trường Đại học Y Dược. Theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh viên khóa 1945 lên đường phục vụ ở các trạm cứu thương, đội phẫu thuật và bệnh viên dã chiến với chủ trương vừa học tập vừa tham gia kháng chiến, đó là điểm đặc biệt của đào tạo y khoa thời kỳ này ở nước ta.

Giai đoạn từ 1947 đến 1949, sinh viên Vũ Triệu An từng làm việc ở các đơn vị: Đoàn giải phẫu lưu động mặt trận phía Nam đường số 5, đóng tại làng Phạm Xá, huyện Thanh Miện, Hải Dương (1947); Trung đoàn 42, đóng tại Thái Bình (1948); Quân y Viện Khu 3, đóng tại làng Khuốc, Thái Ninh, Thái Bình (1949); Năm 1950, sau hai tháng làm việc tại Văn phòng Chủ tịch Chính phủ (nay là Văn phòng Chính phủ), do nhận thấy công việc không phù hợp nên Vũ Triệu An xin về làm việc ở Cục Quân y và được chấp thuận. Ông Vũ Văn Cẩn (bấy giờ phụ trách Cục Quân y) giới thiệu ông về Phân viện 7 ở Vô Tranh thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên công tác cũng từ năm 1950. Phân viện 7 là bệnh viện dã chiến, nơi đón nhận, điều trị thương bệnh binh, và là nơi đào tạo thực hành của trường Quân y sĩ[1], cách phân viện khoảng 1km. Bác sĩ Nguyễn Thế Khánh phụ trách Phân viện 7 nhưng đồng thời ông còn giảng dạy ở trường Quân y sĩ. Hàng tuần BS Khánh chỉ sang phân viện khám bệnh và giải quyết vấn đề mà các quân y điều trị (là sinh viên) gặp phải. Cùng công tác ở đó còn có các quân y điều trị khác như Đinh Văn Trí, Nguyễn Hữu Mô, Lê Ngọc Mô... còn lại chủ yếu là hộ sĩ[2] và phụ hộ sĩ[3].

Giáo sư Vũ Triệu An cho biết: Các y tá ở đây rất ít được học chuyên môn, một số phải làm việc ngay, không qua đào tạo vì không có thời gian và do thiếu người. Họ được đào tạo kiểu “cầm tay chỉ việc”, khi làm thành thạo chuyên môn là cấp bằng hộ sĩ ngay[4]. Năm 1951, có khoảng 30 người từ khắp nơi về phân viện 7 học hộ sĩ. Nhưng bấy giờ do thiếu người nên Ban quản lý Phân viện chọn 9 người có trình độ trong lớp để đào tạo vừa học vừa làm, trong đó có ông Hoàng Văn Nhận, bà Nguyễn Thị Quý[5], bà Đặng Thị Minh Tâm[6]. Các Quân y điều trị (bao gồm cả ông Vũ Triệu An) và hộ sĩ của Phân viện có nhiệm vụ kèm cặp, hướng dẫn 9 học viên này làm việc, học tập. Đến cuối năm 1951, các y tá đều được cấp chứng chỉ tốt nghiệp.

Cũng trong năm 1951, Đội điều trị 5 sáp nhập cùng Phân viện 7 thành Phân viện Quân y viện 5 (thường gọi là Phân viện 5), BS Nguyễn Thế Khánh là Viện trưởng. Thời kỳ này có nhiều bác sĩ, y sĩ, y tá về đây công tác, như BS Vũ Kim Vinh, BS Vũ Văn Bính, BS Nguyễn Cận, BS Hàn Đức Từ, BS Quang Anh, BS Kiểm, BS Chu Văn Tích...

Địa bàn đóng quân của Phân viện 5 rộng nhưng điều kiện ăn ở của cán bộ nhân viên, viện trưởng đến cả thương bệnh binh đều rất khó khăn. Phân viện 5 gồm các dãy nhà tranh tre nứa lá, do cán bộ của Phân viện tự vào rừng chặt tre nứa, lá cọ về đan phên, cùng dân công làm lán trại, dựng nhà dưới những gốc cây cao, có hầm đào bao quanh nhà để tránh máy bay ném bom. Các dãy nhà được dựng cách nhau khoảng mấy chục mét đến vài trăm mét, dành riêng cho quân y điều trị, hộ sĩ, thương bệnh binh... Quân y sĩ không được trả lương, chỉ được chu cấp ngày 2 bữa ăn và hàng tháng được phụ cấp tiền tiêu vặt bằng 4 kg gạo. Họ còn không được phát quần áo, chăn màn, tất cả phải mang từ nhà đi. Chủ nhật, được nghỉ anh em quân y sĩ thường rủ nhau đi bộ hơn 10km đường rừng ra thị xã Thái Nguyên chơi, khi cần thì mua những thứ thật cần thiết như bàn chải, thuốc đánh răng...

 Điều kiện sinh hoạt, ăn uống rất thiếu thốn, nhiều khi là gạo hẩm, thức ăn thường xuyên là cá khô, cá muối (cả đầu), bữa nào ăn cá muối đã bỏ đầu là họ thấy sang lắm. Sáng sáng, tất cả kéo nhau ra sông Công (cách đó mấy trăm mét) đánh răng, rửa mặt, chiều ra đó tắm giặt... Hộ sĩ có trách nhiệm lấy nước sông về cho bệnh nhân dùng...

Nhà bếp trực tiếp lo lương thực, thực phẩm, nhưng trước hết phải ưu tiên cho thương bệnh binh. Ông Hoàng Văn Nhận chia sẻ: Nhờ hơi của anh em thương bệnh binh mà thỉnh thoảng các cán bộ quân y sĩ được miếng thịt. Bình thường rất khó khăn, đói thì ăn sắn nên cũng có lúc người nhà phải gửi tiền cho chúng tôi[7]. Thời kỳ ấy, Trung Quốc giúp quân đội Việt Nam bằng việc viện trợ thiết bị, quần áo và cả cố vấn sang các mặt trận. Thỉnh thoảng Phân viện được cấp khoảng 5 đến 7 kg thịt cừu của Trung Quốc. Thịt cừu mở ra thơm lừng làm ai nấy đều reo lên: "Thịt bác Mao đã về". Lâu lâu mới được một lần, nghe tin có thịt mà sung sướng như bị chóng mặt[8]. GS Vũ Triệu An chia sẻ: Gian khổ là vậy nhưng tình cảm anh em rất thương yêu quý mến nhau. Tình cảm đó vẫn được duy trì mãi cho tới ngày hôm nay, sau hơn nửa thế kỷ vẫn thương yêu, giúp đỡ nhau như hồi nào[9].

Một buổi họp mặt các cựu cán bộ Quân y viện 5 Vô Tranh. GS Vũ Triệu An đứng thứ ba từ phải

Để khắc phục hoàn cảnh, giúp nhà bếp có rau xanh, Phân viện đã giao chỉ tiêu trồng rau cho tất cả cán bộ nhân viên. Vì vậy, mọi người phải mượn đất của bà con để trồng rau, chủ yếu là rau muống. Thỉnh thoảng cán bộ chuyên môn lại được huy động đi lấy gạo. Bao đựng gạo thường là dùng 2 ống quần được buộc lại để vác lên vai. Khi ấy, ai ai cũng còn trẻ nên làm việc rất hào hứng, không khí mỗi lần đi lấy gạo rất vui vẻ, vừa đi vừa hát.

Ngoài ra, các y sĩ, y tá còn phải giúp tổ anh nuôi đi lấy củi vào ngày chủ nhật. Tổ anh nuôi rất vất vả, phải lo ăn uống cho mấy trăm người. Trong tổ có anh nuôi rất giỏi, một mình mổ lợn không cần ai phụ. Anh đem lợn ra sông Công, lội xuống nước kéo theo con lợn cho nó sặc nước rồi mới cắt tiết, làm thịt...

Phân viện 5 được cấp thuốc điều trị cho thương bệnh binh, nhưng rất hạn chế, không đủ dùng cho khám chữa bệnh. Vì vậy, khoa Dược phải tự điều chế một số thuốc nước thông thường.. Thứ được cấp phổ biến là thuốc đỏ, thuốc tím (dùng sát trùng vết thương). Mỗi lần Cục Quân dược cấp cho Phân viện hàng kilogam tinh thể thuốc tím (như hạt mì chính) tự pha để dùng. Có khi, ông Vũ Triệu An cũng phải tự pha lấy thuốc. Peniciline là thượng đẳng, là kháng sinh tốt nhất thời bấy giờ.  Có những bệnh nhân bị bỏng cả lưng cũng chỉ có thuốc đỏ để bôi.

 Ông Vũ Triệu An đặc biệt thân với một anh dược sĩ - người thường phải pha chế, chưng cất muối hoặc đường thành huyết thanh để truyền cho bệnh nhân. Sau này, dược sĩ ấy bị áp-xe mà qua đời. BS Vũ Triệu An đứng khóc "ông ổng như trẻ con"[10]. Giáo sư Vũ Triệu An chia sẻ: Cảnh sống nơi núi rừng, gần nhau như thế, đồng đội như người thân nên mình vậy, thương lắm. Dược sĩ ấy ít tuổi hơn tôi, lại chưa có gia đình nên rất thương[11].

Trang thiết bị y tế rất thiếu thốn, dây truyền dịch bằng cao su, dùng xong hộ sĩ và phụ hộ sĩ phải rửa sạch, bông băng cũng vậy, cái nào quá bẩn mới bỏ đi còn lại phải giặt sạch, phơi khô và hấp khử trùng để tái sử dụng. May mắn là phân viện có một nồi hấp nhỏ chuyên dùng hấp khử trùng bông băng, thiết bị, mỗi lần di chuyển anh em phải mang theo. Tiết kiệm và tận dụng lại đồ cũ, nhưng bông băng dùng băng bó vết thương vẫn thiếu trầm trọng. Có thương binh bị cụt chân, mỗi lần băng, cục băng như nồi đất ụp vào. Hôm sau thay băng, mới chạm vào băng đã rơi do vết thương bị mưng mủ nặng. Vậy mà số băng dính đầy máu mủ ấy, hộ sĩ phải gỡ ra, phân loại, bỏ đi cái nào bẩn và rách quá, còn lại mang ra suối giặt sạch, phơi khô rồi hấp khử trùng để dùng tiếp. Ban đầu, họ cứ vô tư làm việc nhưng sau đó họ nhận ra rằng, dòng nước suối chảy từ nơi này đến nơi khác, có khi đơn vị phía trên giặt quần áo, bông băng dính máu mủ, rửa bô... đơn vị bên dưới lại lấy nước về dùng. Nhưng rồi họ cũng không còn cách nào khác, buộc phải dùng nước ở các con suối gần đơn vị.

Hộ sĩ và phụ hộ sĩ phải làm tất cả mọi việc, kể cả hộ lý, quét dọn... Thương binh không có người nhà nên hộ sĩ phải chăm sóc. Với những thương binh nặng, ăn nằm một chỗ, hộ sĩ phải bón cơm, bón thuốc, nâng giấc, tắm, thay đồ, giặt quần áo, giúp họ đi đại tiểu tiện tại chỗ, đổ bô, rồi đi gánh nước ở suối, vào rừng lấy củi đun nước tắm cho họ. Bà Nguyễn Thị Quý còn nhớ: hàng ngày, các hộ sĩ gom quần áo bẩn lại, cáng ra suối giặt. Khi đi khá nhẹ, nhưng giặt xong trở về có nước nên quần áo nặng lên nhiều lần, chặng đường chỉ khoảng hơn 1km nhưng ai nấy đều thấm mệt, lại đói, người cứ lả đi. Bà Quý từng một lần bị say quả bứa. Lần ấy, đi dọc đường, trong lúc bụng đang đói bà nhìn thấy quả bứa, ăn thử thấy ngọt ngon, bà ăn nhiều nên bị say, hoa mắt, chóng mặt, run chân tay. Đến nay nghĩ lại bà vẫn sợ.

Ngày lễ tết của các quân y sĩ cũng không có gì đặc biệt, hầu như họ không có khái niệm gì về ngày tết, không bánh, không thịt. Tất cả những gì ngon nhất đều ưu tiên dành cho thương bệnh binh rồi mới đến phần nhân viên. Tình cảm giữa các quân y sĩ của Phân viện thật thân thiết, như anh em trong nhà. Vào những tối có ca trực, họ còn đến nhà dân ở gần đơn vị, cùng nhau nướng sắn ăn. Cuộc sống tuy vất vả, thiếu thốn nhưng họ vẫn tự nhủ là họ may mắn và sung sướng hơn bội phần so với những quân y sĩ ở mặt trận, vẫn rất vui vẻ, thoải mái. Thậm chí, ai không được phân công công tác sẽ được cho là “có vấn đề”, nên ai cũng đòi hỏi được đi làm việc[12].

Do đặc thù thời chiến, Phân viện 5 chỉ có hai ban Nội khoa và Ngoại khoa. Một thời gian các bác sĩ lại được luân chuyển Nội sang Ngoại, Ngoại sang Nội để mọi người có thể làm được nhiều việc. Quân y điều trị  phụ trách ban được Phân viện trưởng giao quản lý bệnh nhân và nhân viên của ban. Tức là họ chịu trách nhiệm nhận bệnh nhân vào viện, điều trị, cho xuất viện và quản lý cả công việc hành chính của ban. Nếu có việc gì không giải quyết được họ mới phải báo cáo ngay cho Phân viện trưởng để giải quyết.

Ông Vũ Triệu An từng phụ trách Ban Nội khoa một thời gian Ban Nội khoa phải điều trị mọi loại bệnh. Từng cặp quân y điều trị, hộ sĩ thay phiên nhau trực đêm, quân y điều trị có phòng ngủ bên cạnh phòng bệnh nhân. Nhưng ông chủ yếu là phụ trách Ban Ngoại khoa. Ban Ngoại khoa tiếp nhận tất cả bệnh nhân bị ngoại thương kể cả sản khoa. Do vậy, ông Vũ Triệu An từng phải vào vai bác sĩ sản, đỡ đẻ cho dân địa phương và nhân viên.

Ban Ngoại khoa chia làm ba phòng: khinh thương, trung thương và trọng thương. Khinh thương dành cho thương binh nhẹ, có thể tự túc mọi việc cho bản thân. Đến giờ tiêm, băng bó, rửa vết thương... họ tự lên phòng y tế có hộ sĩ phục vụ. Phòng trung thương, cán bộ y tế phải giúp đỡ bệnh nhân một số công việc, còn lại họ tự lo được một nửa công việc cá nhân. Nhưng còn những người trọng thương, họ nằm một chỗ, từ đánh răng, rửa mặt... hộ sĩ đều phải phục vụ. Không có giấy, khăn, hàng ngày một nhóm nhân viên được phân công vào rừng hái lá cây rừng loại to bản về lót trong bô dẹt và dùng lau cho bệnh nhân.

Bệnh nhân của Phân viện lúc nào cũng đông lên tới vài trăm người. Số bệnh nhân bị vết thương cột sống, cụt chân, tay, lao phải nằm lại viện lâu nhất. Dù ở ban Nội hay ban Ngoại khoa, ông Vũ Triệu An đều là phẫu thuật viên, tham gia mổ mọi loại vết thương cho thương binh. Bác sĩ phẫu thuật của Phân viện chính là sinh viên trường ĐH Y Dược và giảng viên trường Quân y sĩ. Với những ca thông thường, các bác sĩ của Phân viện có thể tự xử lý, nhưng những ca phức tạp, họ mời bác sĩ của trường Quân y sĩ sang mổ, hoặc các bác sĩ giỏi ở nơi khác như BS Nguyễn Huy Phan[13].

Nhiệm vụ của mỗi người nặng nề như vậy, nhưng vì điều kiện, hoàn cảnh họ không có cơ hội được các thầy trực tiếp kèm cặp, mỗi sinh viên y khoa phải nỗ lực tự học, tự vươn lên. Vũ Triệu An cũng vậy, với bản tính tự lực của một người con mồ côi cha, ở ông ý thức tự học lúc này cao hơn bao giờ hết. Trường Quân y sĩ có 1 thư viện với nhiều sách quý về y học bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, Vũ Triệu An đã tranh thủ thời gian rảnh đọc và ghi chép cẩn thận. Do vậy, ông đã cập nhật được nhiều thông tin mới về y học của thế giới tại thời điểm đó, nhiều kiến thức áp dụng trong thực tế chữa bệnh cho bệnh nhân. Một trong số đó có cuốn sách về huyết học (Hematology) nên ông đã sớm quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là trong đó còn viết về cách thức làm các xét nghiệm huyết học đơn giản. Đó được coi là cơ sở lý thuyết thôi thúc ông tự mày mò nghiên cứu, làm xét nghiệm tìm ra sự khác biệt về chỉ số huyết học giữa người địa phương và người nơi khác di cư lên Vô Tranh sinh sống. Sở dĩ ông làm được điều đó là nhờ trường Quân y sĩ có phòng thí nghiệm được trang bị một số thiết bị y tế, đồ dùng do Trung Quốc giúp đỡ  và ông có thể dễ dàng sử dụng các thiết bị ấy cho nghiên cứu. Bên cạnh đó, ông còn quan tâm nghiên cứu, làm thí nghiệm và viết về vấn đề truyền máu. Đó là tiền đề cho những nghiên cứu về huyết học của ông sau này. Ngay sau khi về Hà Nội không lâu, vào năm 1960, ông là người đầu tiên ở Việt Nam công bố chỉ số huyết học trung bình của người Việt, và năm 1961, ông cùng GS Hoàng Đình Cầu công bố cuốn sách Thực hành truyền máu (Nxb Y học).

Cuộc sống nơi núi rừng khổ cực là vậy, nhưng tình yêu giữa người với người thì không gì có thể cản trở. Những câu chuyện tình đẹp, giản dị mà từ đó nên duyên vợ chồng cũng ở chính nơi đó. Đến nay, những con người ở Phân viện 5 vẫn còn nhắc nhớ câu chuyện tình đẹp của vợ chồng GS Nguyễn Huy Phan, hay đám cưới giản dị của vợ chồng ông Nghiêm Cương và bà Nguyễn Thị Quý. Ông Nghiêm Cương làm Trợ lý chính trị của Phân viện 5. Bà Quý và ông Cương yêu nhau từ năm 1952, đến tháng 11-1953, ông bà làm lễ kết hôn, ông Vũ Kim Vinh (khi ấy giữ chức Viện trưởng do BS Nguyễn Thế Khánh chuyển công tác) làm chủ hôn. Đêm tân hôn, ông bà ở nhờ trong gian buồng của một nữ cán bộ chính trị. Đúng thời gian ấy, nhận được tin Pháp chuẩn bị thực hiện kế hoạch Navarre[14] nên chỉ sau lễ cưới 2 ngày, ông Nghiêm Cương phải đi thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng khu Mỏ Hích (Đồng Hỷ, Thái Nguyên), chuẩn bị chuyển Phân viện 5 về đó.

Ngay khi được tin Pháp thực hiện kế hoạch Navarre, toàn Phân viện phải lập tức khăn gói chạy vào khu Mỏ Hích. Cuộc sống nơi đây khó khăn, thiếu thốn hơn ở Vô Tranh rất nhiều, nơi ở là các lều trại tạm bợ. Trời rét, chăn không có đủ, mọi người phải đốt lửa sưởi ấm..

Phân viện 5 chỉ ở Mỏ Hích mấy tháng, đến đầu năm 1954, phân viện nhận lệnh: phải chuẩn bị sẵn sàng để đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Mỗi cá nhân phải tự chuẩn bị hành trang của mình để gọi lên đường là đi ngay, ở bất cứ đâu cũng có thể làm việc ngay được, với tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Cấp trên đã quyết định chúng tôi không được đi mà ở lại củng cố bệnh viện cho tốt để phục vụ ở tuyến sau[15] - GS Vũ Triệu An nhớ lại. Nhưng rồi Phân viện lại được lệnh chuyển về chân núi Tam Đảo, thuộc xã Yên Mỹ, huyện Đại Từ, Thái Nguyên. Mỗi lần di chuyển, tất cả cùng phải gồng gánh đồ đạc, cáng thương bệnh binh… Địa bàn mới do dân công xây dựng gồm các dãy nhà đều bằng tranh tre nứa lá nhưng đoàng hoàng, khang trang, rộng rãi hơn, bởi Phân viện 5 đã trở thành bệnh viện tuyến sau, có nhiệm vụ đón thương bệnh binh ở Điện Biên Phủ về điều trị. Vì vậy, thời gian này, Ban chỉ huy Phân viện 5 tiến hành chấn chỉnh lại công tác Y vụ và Dược chính. Ông Vũ Triệu An phụ trách Ban Ngoại khoa nên đã trực tiếp tham gia và chỉ đạo anh em thực hiện nhiệm vụ này đạt kết quả tốt. Mọi công tác quản lý, điều hành công việc chuyên môn theo quy chế của đơn vị, hay việc ghi chép sổ sách theo dõi việc nhập, cấp và phát thuốc… của ban đi vào nề nếp. Vì vậy, đến tháng 7-1954, Ban chỉ huy Phân viện 5 tổng kết đợt chấn chỉnh y vụ, dược chính và tặng giấy khen cho nhiều cán bộ của có nhiều đóng góp, trong đó có quân y điều trị Vũ Triệu An và hai phụ hộ sĩ (phụ y tá) Bùi Văn Chính, Nguyễn Viết Nho[16].

Giấy khen của quân y sĩ Vũ Triệu An

Hòa bình lập lại, tất cả Phân viện 5 chuyển về Nam Định. Ông Vũ Triệu An được phân công ở lại trông nom bệnh viện và chăm sóc một vài bệnh binh. Sau khi giải quyết xong công việc còn lại, ông bàn giao cơ sở vật chất cho chính quyền địa phương và trở về Hà Nội, trong năm đó  ông về Viện Quân y 108 công tác. Đến năm 1956, ông được biệt phái sang trường Đại học Y khoa công tác, tham gia xây dựng bộ môn Sinh lý bệnh. Năm 1958, ông nhận quyết định ra quân, rồi gắn bó và trở thành người sáng lập, xây dựng bộ môn Miễn dịch - Sinh lý bệnh của trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Những năm tháng gắn bó với Phân viện 5, ông Vũ Triệu An và đồng đội của mình đã nỗ lực hết mình để sống, chiến đấu và học tập, như ông tâm sự: Rời gia đình tham gia kháng chiến với trái tim nóng bỏng của tuổi trẻ, chúng tôi, đại bộ phận từ 18-30 tuổi, luôn tâm niệm phấn đấu trở thành người lính quân y "vừa hồng vừa chuyên". Hồng là dẹp lợi ích cá nhân, đặt quyền lợi của nhân dân, tổ quốc lên trên hết, "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh". Chuyên là tích cực tự học trong mọi hoàn cảnh để có kiến thức sâu sắc, có khả năng trị bệnh cứu người[17]. Để rồi hôm nay, khi đã ở tuổi 95, ông vẫn bồi hồi xúc động, xen lẫn niềm tự hào mỗi khi nhớ về khoảng thời gian ấy.

 

Lê Thị Hằng

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 



[*] GS Vũ Triệu An nguyên Chủ nhiệm bộ môn Miễn dịch – Sinh lý bệnh, trường ĐH Y Hà Nội.

[1] Trường Quân y sĩ đóng tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên do BS Đỗ Xuân Hợp phụ trách - nơi hội tụ những bác sĩ giỏi như Đặng Đình Huấn (bác sĩ nội khoa), Phạm Gia Triệu (bác sĩ ngoại khoa), Nguyễn Trinh Cơ (bác sĩ ngoại khoa), Nguyễn Thế Khánh (bác sĩ nội khoa) kiêm phụ trách Phân viện 7.

[2] Tức y tá

[3] Họ được đào tạo kiểu vừa học vừa làm, họ có kỹ năng làm việc nhưng chưa được cấp bằng hộ sĩ.

[4] Bản thảo Hồi ký của GS Vũ Triệu An, do vợ - bà Phạm Thị Vy ghi, 2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[5] Ông Hoàng Văn Nhận, bà Nguyễn Thị Quý từng là y tá khoa Nội, Phân viện 7, sau là Phân Viện 5 ở Vô Tranh, Thái Nguyên.

[6] Bà Đặng Thị Minh Tâm từng là y tá phòng mổ Phân viện 7, sau là Phân Viện 5 ở Vô Tranh, Thái Nguyên.

[7] Ghi âm hỏi thông tin ông Hoàng Văn Nhận về GS Vũ Triệu An, 10-9-2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[8] Ghi âm hỏi thông tin bà Đặng Thị Minh Tâm về GS Vũ Triệu An, 12-9-2019, lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[9] Bản thảo Hồi ký của GS Vũ Triệu An, do bà Phạm Thị Vy ghi, 2019, tài liệu đã dẫn.

[10] Ghi âm hỏi thông tin bà Đặng Thị Minh Tâm về GS Vũ Triệu An, 12-9-2019, tài liệu đã dẫn.

[11] Ghi âm hỏi thông tin GS Vũ Triệu An, 16-1-2020, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[12] Ghi âm hỏi thông tin bà Nguyễn Thị Quý về GS Vũ Triệu An, 16-9-2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[13] GS Nguyễn Huy Phan sau là Phó viện trưởng Viện Quân y 108, Chủ tịch Hội Phẫu thuật nụ cười Việt Nam.

[14] Kế hoạch Navarre là kế hoạch quân sự do Tổng chỉ huy quân đội Liên hiệp Pháp ở Đông Dương đưa ra nhằm xoay chuyển cục diện chiến tranh Đông Dương, với hi vọng trong 18 tháng "kết thúc chiến tranh trong danh dự".

[15] Bản thảo Hồi ký của GS Vũ Triệu An, do bà Phạm Thị Vy ghi, 2019, đã dẫn.

[16] Giấy khen của Ban chỉ huy Phân viện 5 khen thưởng đồng chí Vũ Triệu An, ngày 10-7-1954, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[17] Bản thảo Hồi ký của GS Vũ Triệu An, do bà Phạm Thị Vy ghi, 2019, tài liệu đã dẫn.

 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: