03/09/2020 3:34:36 CH - Nhớ Giáo sư Lê Thi

Ký ức về công trình ngăn mặn lớn nhất Đông Nam Á
Cập nhật lúc: 16:43, Thứ Bảy, 15/02/2020 (GMT+7)

Đập Thảo Long là cái tên đã quen thuộc với người dân hai bờ sông Hương của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế kể từ khi con đập được hoàn thành vào năm 2006. Hàng ngày, dòng xe tấp nập qua lại khiến nhiều người nghĩ rằng: đây là cây cầu hơn là con đập. Nhưng thực chất đây là một công trình ngăn mặn giữ ngọt lớn nhất Đông Nam Á mà GS.TS Trương Đình Dụ - nguyên Phó viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam làm Chủ nhiệm cùng cộng sự đã thực hiện thành công.

Dám nghĩ, dám thay đổi tư duy

Đầu những năm 60, khi ngồi trên ghế giảng đường của trường Đại học Bách khoa Hà Nội, sinh viên khoa Xây dựng Trương Đình Dụ được nghe giảng về những kiến thức cơ bản của ngành thủy lợi qua các bài giảng của thầy Nguyễn Văn Quỳ dạy các môn thủy nông, thủy lực, thầy Lựu dạy về sức bền, Nguyễn Ngọc Trí dạy kết cấu… Đó là những nguyên lý xây dựng hệ thống thủy lợi theo phương pháp của các nước Pháp và Liên Xô. Theo thiết kế trước đây, khi xây đập cần các công đoạn như sau:

Làm khô lòng sông bằng việc chặn dòng sông ở trên khu vực muốn xây đập, dòng nước sẽ được dẫn qua một kênh đào chảy đi nơi khác. Nơi lòng sông khô sẽ được xây dựng bàn đáy với vai trò chịu lực chung của cả công trình, trên bàn đáy sẽ xây dựng hệ thống cột trụ đỡ, cửa cống và các công trình liên quan khác.

Dấu ấn theo thiết kế này còn lưu lại đến nay như: Đập Đáy ở huyện Phúc Thọ giúp thoát nước lũ cho thành phố Hà Nội; đập Thác Huống ở Thái Nguyên… do người Pháp xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ trước. Năm 1958, sau khi miền Bắc giải phóng, công trình thủy nông Bắc Hưng Hải được xây dựng, cống Xuân Quan cũng được ứng dụng theo phương pháp này.

Năm 1992, GS.TS Trương Đình Dụ cùng hai học trò Vũ Hồng Sơn và Nghiêm Minh Quang cùng thực hiện đề tài KC-12-10a: Nghiên cứu giải pháp công nghệ tạo nguồn nước ngọt vùng ven biển (1992-1995), thuộc Chương trình cấp nhà nước: Nghiên cứu cân bằng, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước quốc gia (KC-12). Trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, ông nhận ra 2 vấn đề: Thứ nhất, vùng đồng bằng ven biển của Việt Nam, nhất là đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước nguy cơ thiếu nước ngọt nghiêm trọng do thảm thực vật của lưu vực sông giảm sút mạnh. Thứ hai, vùng thượng nguồn các con sông đang bị các quốc gia khai thác quá mức vì mục đích kinh tế. Dòng sông Mê Công chảy qua 6 quốc gia đều bị khai thác triệt để bằng việc xây các nhà máy thủy điện công suất lớn dẫn tới việc nguồn nước vùng hạ nguồn (tức Đồng bằng sông Cửu Long) bị thiếu nước, xâm nhập mặn tăng cao ảnh hưởng tới đời sống người dân. Đồng bằng Đông bắc Thái Lan còn 4 triệu hecta đất chưa khai thác nên cũng chặn dòng sông Mê Công để lấy nước phát triển nông nghiệp… Từ thực tế đó, GS Trương Đình Dụ nhận thấy cần xây dựng hệ thống đập ngăn các cửa sông lớn, vừa để trữ nước ngọt và chống xâm nhập mặn vùng đồng bằng ven biển. Với những sông lớn rất khó xây dựng theo cách cũ bởi sẽ dẫn tới làm hẹp lòng sông, ảnh hưởng môi trường xung quanh và tốn kém ngân sách. Do đó, cần thay đổi cách xây dựng theo hướng thiết kế mới. Đây là một bài toán lớn dành cho các nhà nghiên cứu ngành thủy lợicần đưa ra lời giải. Theo GS Dụ chia sẻ thêm: Không phải tự nhiên mà các kiến trúc sư khi xây dựng các đập thủy lợi lại cần bàn đáy bởi nó có 3 tác dụng: chống xói mòn, chống thấm và là nơi chịu đựng chung cho cả công trình. Nhưng tôi tính làm đập không cần bàn đáy, lực chịu sẽ là các cột trụ. Đây là sự thay đổi lớn so với cách làm cũ trước đây[1].

Mạnh dạn thử nghiệm

Để thực hiện ý tưởng trên của mình, năm 1996, ông xin Bộ Thủy lợi  được làm thử nghiệm công nghệ đập trụ đỡ ở cống Sông Cui, Long An, rộng 15 mét, lòng sông sâu và nhiều bùn. Theo phương thức ông Dụ  thực hiện, công trình được thi công ngay giữa lòng sông, các trụ đỡ của đập được xây trong khung vây ván thép, các dầm đáy được lắp ghép trong dòng chảy, không cần chặn dòng và dẫn dòng sông theo cách cũ trước đây. Thảm đá chống xói được thả trực tiếp xuống dòng chảy. Nhờ đó, tiết kiệm vốn đầu tư và quỹ đất, đặc biệt là không làm thay đổi cảnh quan môi trường. Đập Thảo Long là sự kết hợp giữa công trình thủy lợi và cầu giao thông hiện đại có thể chịu trọng tải 30 tấn. Kết quả thử nghiệm thành công, phương án thiết kế xây dựng được nhiều người trong ngành đánh giá cao, ông Phạm Hồng Giang[2] - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rất ủng hộ cách làm này.

 

GS.TS Trương Đình Dụ chia sẻ về công nghệ Đập trụ đỡ, ngày 21-8-2019 

Năm 1997, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì việc xây dựng hệ thống đập Thảo Long, tỉnh Thừa Thiên – Huế nhằm giữ nước ngọt và ngăn mặn cho thành phố Huế cũng như hai bờ nam bắc châu thổ sông Hương. Bốn đơn vị mời thầu thiết kế tham gia là: Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Công ty Safere (tiếng Việt là Xaphe) của Pháp và hai đơn vị trong nước. Hồ sơ dự thầu có bản vẽ thiết kế, biện pháp thi công, tính hiệu quả của công trình, sơ đồ địa mạo… Hai đơn vị thầu trong nước đưa ra phương án thiết kế cũ, đã bị loại. Công ty Xaphe của Pháp có cách làm khác: chia sông Hương làm ba phần, lấy đất lấp 1 phần 3 sông Hương, rồi từ đó khoét sâu xuống tạo hố thi công. Hai đoạn còn lại cũng làm theo cách tương tự. Ưu điểm của phương án này là không phải chặn dòng sông và thi công khả quan. Điểm hạn chế là đất phải chở qua thành phố Huế nên gây ô nhiễm và không đảm bảo vệ sinh môi trường. Giáo sư Trương Đình Dụ trình bày phương án thi công bằng công nghệ Đập trụ đỡ như đã làm ở sông Cui, tức thi công trực tiếp giữa lòng sông. Không cần chặn dòng hay phải chở đất qua thành phố Huế. Mỗi khoang dài là 20 mét với 24 cửa nên tổng chiều dài là 480 mét so với độ rộng của lòng sông Hương là hơn 500 mét, trên làm đường giao thông rộng 10 mét với 2 làn xe chạy. Sau khi hội đồng cân nhắc, đánh giá, phương án của nhóm ông Dụ đã trúng thầu xây dựng hệ thống đập Thảo Long.

Sau hơn 1 năm khảo sát, thiết kế và điều chỉnh lại hồ sơ, ông gửi bản kế hoạch, thiết kế hoàn chỉnh lên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt cho khởi công xây dựng. Tuy nhiên, một sự cố bất ngờ xảy ra vào đầu tháng 11-1999. Lúc đó, khu vực miền Trung mưa lớn kéo dài liên tục trong nhiều ngày, khiến nước sông lên cao. Nhiều nơi bị ngập, riêng thành phố Huế, nước dâng cao 3 mét khiến người dân điêu đứng. Nước trên thượng nguồn sông Hương ở các nhánh: Sông Bồ, Tả Trạch, Hương Điền dồn xuống hạ lưu khiến việc ngập lụt thêm nặng nề. Thứ trưởng Phạm Hồng Giang cùng Bộ trưởng Lê Huy Ngọ[3] vào Huế trực tiếp chỉ đạo phòng chống lũ. Ra Hà Nội, Thứ trưởng Hồng Giang trao đổi với ông Dụ: Anh có thể mở rộng cửa cống được không, thiết kế khoang cửa là 20 mét tôi thấy hơi lo. Ông Dụ giải thích: Hiện nay có hệ thống dầm cầu tương đương với độ rộng của khoang cửa) 40 mét và 31,5 mét đều đáp ứng được yêu cầu của anh. Sau khi Bộ xem xét lại hồ sơ thì thấy nếu để dầm 40 mét thì lớn quá nên duyệt dầm 31,5 mét.

Sau trận lũ, một vấn đề đặt ra cho thành phố Huế: cần tìm giải pháp chống ngập cho thành phố khi có mưa to như trận lũ lịch sử vừa qua. Các chuyên gia thủy lợi cho rằng, chỉ có xây dựng ba hồ chứa trên các nhánh sông thượng nguồn là Tả Trạch, Hương Điền, Sông Bồ mới giúp điều tiết nước sông Hương, điều hòa lũ. Đồng thời, nếu ba hồ xả nước với vận tốc 25 mét khối/ giây vào mùa khô sẽ giúp đẩy mặn ra ngoài. Từ đó đặt ra một vấn đề: “Vậy có cần thiết xây đập Thảo Long nữa hay không? Bởi đập Thảo Long giúp trữ nước ngọt và ngăn xâm nhập mặn từ biển vào cho châu thổ nam bắc sông Hương. Nếu xây ba đập trên thượng nguồn thì đập Thảo Long sẽ không còn tác dụng”. Đây là ý kiến của ông Hà Học Canh (công tác ở Chi cục Thủy lợi tỉnh Thừa Thiên Huế). Một ý kiến khác là GS.TS Ngô Đình Tuấn – Chủ nhiệm khoa Thủy văn – môi trường, trường Đại học Thủy lợi cho rằng: “Việc xây dựng đập Thảo Long sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái”. Ông Dụ phải giải trình với Bộ rằng: Sông rộng 500 mét, nếu làm cống nhỏ khoảng 100 đến 200 mét thì gây tù đọng, hẹp lòng sông và ảnh hưởng môi trường. Nay độ rộng của đập bằng lòng sông, nên các vấn đề quan ngại khó có thể xảy ra.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng tổ chức họp và tiếp thu ý kiến của chuyên gia và các nhà khoa học trong việc xử lý ngập và chống mặn cho sông Hương, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Đồng thời thảo luận việc chọn phương án: Xây ba đập chứa nước phía thượng nguồn hay tiếp tục xây đập Thảo Long. Nghe tin hoãn xây dựng đập Thảo Long để chờ ý kiến của Bộ, tâm trạng ông Dụ hụt hẫng và buồn. Trong một buổi thảo luận việc xây ba hồ chứa trên thượng nguồn, mọi người tranh luận sôi nổi nhất là kinh phí. Ông Nguyễn Đình Thịnh – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nói: Nếu xây cùng lúc ba hồ chứa thì Bộ không có kinh phí, còn xây một hồ chứa trước thì 2 hồ chứa còn lại biết bao giờ mới xây xong bởi phải chờ xin vốn Jica[4], Nhật Bản. Việc ngập vẫn diễn ra, mặn vẫn xâm nhập. Do đó, theo ý kiến của tôi vẫn nên xây đập Thảo Long.

Thành công ngoài mong đợi

Mấy tháng sau, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra quyết định xây đập Thảo Long. Cuối năm 2000, công trình được khởi công do ba đơn vị thuộc Bộ Giao thông vận tải phụ trách thi công gồm: Công ty cầu 1 Thăng Long, Tổng công ty Sông Hồng, Công ty Sông Thu. Quá trình thi công khá thuận lợi, GS Trương Đình Dụ cùng cộng sự có trách nhiệm thường xuyên giám sát công trình nhằm đảm bảo chất lượng cũng như thiết kế đề ra. Công trình đập Thảo Long được hoàn thành vào năm 2006 với tổng số vốn là 151 tỉ, đây là công trình ngăn mặn lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Ông Hồ Xuân Mãn – Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên - Huế nói với ông Dụ: Chi phí làm công trình này 151 tỉ, rẻ quá anh ạ, chỉ tiền thuế nhà máy bia Huda 1 năm là đủ, bởi 6 tháng nhiễm mặn thì nhà máy sẽ không thể hoạt động được. Giáo sư Dụ cũng cho biết thêm: Nhiều chuyên gia thủy lợi cho rằng nếu xây theo cách cũ sẽ mất khoảng 300 đến 400 tỉ. Ngày 29-7-2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng Độc quyền sáng chế cho công trình Đập trụ đỡ do GS Trương Đình Dụ và các cộng sự[5] thực hiện. Năm 2012, Cụm công trình: Ngăn sông đập trụ đỡ và đập xà lan được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV.

Hiện nay, nhiều công trình thủy lợi như cống Cầu Xe, Hải Dương[6] được khánh thành tháng 2-2019, dự án Cái Lớn – Cái Bé[7] mới được Chính phủ phê duyệt cũng ứng dụng phương án đập trụ đỡ. Năm 2017, do tác động của biến đổi khí hậu nên lượng nước các các hồ đập trên thượng nguồn[8] sông Hương thiếu nước, mặn từ biển xâm nhập vào đất liền. Ông Mãn[9] có gọi điện cho GS Trương Đình Dụ nói: Thầy ơi, họ nói không cần đập Thảo Long, nhưng khi gặp hạn thì đập vẫn phát huy tác dụng. Theo GS Trương Đình Dụ phân tích: Hiện nay, do có đập thượng nguồn nên nước xả xuống giúp đẩy mặn ra ngoài biển. Gặp năm hạn, nước vùng thượng du không đủ để đẩy mặn ra biển thì đập Thảo Long vẫn có tác dụng quan trọng.

Gần 50 năm gắn bó với ngành Thủy lợi, GS.TS Trương Đình Dụ đã có nhiều công trình nghiên cứu được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng phát minh sáng chế như: Cửa van cánh cửa tự động, đập xà lan…, và đập Thảo Long - một công trình nghiên cứu mà ông tâm đắc bởi nó được ứng dụng thực tiễn, mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước, phục vụ đời sống nhân dân. Để có được thành công trong ứng dụng khoa học, bởi trong ông luôn có tâm thế “làm việc say sưa, tâm huyết và nhiệt tình với công việc”. Như nỗi lòng ông thể hiện trong bài Tâm sự Thảo Long:

Đập trụ đỡ từ đây rạng rỡ,

Thảo long ơi, duyên nợ đây rồi,

Để hôm nay có đoá hoa tươi,

Đã ấp ủ từ mười năm về trước,

Đây thành công đề tài khoa học,

Mở hướng đi cho công nghệ ngăn sông,

Để ngày mai tiến tới chặn dòng,

Ngăn nước biển không  tràn vào đất mẹ

……

Ngô Văn Hiển

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam



[1] Báo cáo Phỏng vấn GS.TS Trương Đình Dụ, ngày 21-8-2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam. Các trích dẫn được lấy từ nguồn báo cáo này.

[2] GS.TSKH Phạm Hồng Giang, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (1997-2007).

[3] Ông Lê Huy Ngọ (sinh năm 1938), nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1997-2004).

[4] Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) là cơ quan duy nhất thực hiện viện trợ ODA của Chính phủ Nhật Bản thông qua 3 hình thức hợp tác: Hợp tác kỹ thuật, Hợp tác vốn vay và Viện trợ không hoàn lại.

[5] Ngoài GS.TS Trương Đình Dụ còn thêm 7 cộng sự là: PGS.TS Trần Đình Hòa, ThS Trần Văn Thái, ThS Thái Quốc Hiền, ThS Trần Minh Thái, TS Vũ Hồng Sơn, ThS Nguyễn Thế Nam, ThS Phan Đình Tuấn.

[8] Ba đập trên thượng nguồn sông Hương là: Đập Tả Trạch (xây dựng năm 2005 và hoàn thành năm 2016), đập Hương Điền (khởi công năm 2005 và hoàn thành năm 2013), đập Sông Bồ (khỏi công xây dựng năm 2010).

[9] Ông Hồ Xuân Mãn sinh năm 1949, nguyên Bí thư tỉnh Thừa Thiên – Huế (2000-2010).

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: