04/04/2020 4:04:30 CH - Chuyến đi định mệnh

03/04/2020 9:25:01 SA - Vượt dịch săn... tem

Chuyến về Tết đáng nhớ
Cập nhật lúc: 19:04, Thứ Ba, 04/02/2020 (GMT+7)

Hành trình về tết năm đó thật đáng nhớ, bởi sau gần 10 năm xa nhà, giảng viên trẻ Hoàng Văn Khoán* mới trở lại quê ăn Tết cùng gia đình. Hơn nữa, phải rong ruổi trên chiếc xe đạp từ Thái Nguyên về Hà Tĩnh suốt ba ngày hai đêm, trong bom đạn của thời chiến tranh đã để lại trong ông nhiều kỷ niệm không thể nào quên.

Năm 1967, sau khi tốt nghiệp đại học tại Liên Xô, về nước ông Hoàng Văn Khoán đến nhận công tác tại khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội), mà không kịp về thăm gia đình ở Hà Tĩnh. Thời điểm này, khoa Lịch sử sơ tán về Đại Từ, Thái Nguyên, Hoàng Văn Khoán cùng các giảng viên khác đều ở nhờ nhà dân. Tết năm 1968, sau gần 10 năm xa nhà, giảng vên Hoàng Văn Khoán thu xếp về quê ăn Tết.

Trước ngày lên đường về quê, tình cảm của người dân ở Đại Từ làm ông Khoán xúc động. Chủ nhà trọ biếu ông một nồi bánh chưng (khoảng vài chục chiếc) nhưng ông chỉ nhận 4 chiếc, hàng xóm chủ nhà lại biếu một bó những tấm mía tím. Ông Khoán về quê bằng xe đạp, sau xe chở bánh chưng, mía và chăn bông. Anh em trong khoa Lịch sử lo cho hành trình về quê của tôi nên dặn dò nhiều điều, sợ tôi gặp nguy hiểm nên có người khuyên ở lại. Nhưng đã gần mười năm rồi, tôi phải về vui Tết đoàn viên với gia đình[1], PGS Khoán thổ lộ.

Ông Hoàng Văn Khoán (đứng) trong một lần về thăm quê năm 1975

Giảng viên Hoàng Văn Khoán không đơn độc trên hành trình về nhà. Cùng đi với ông còn có hai thầy cùng ở trường Đại học Tổng hợp là Nguyễn Gia Phú (giảng viên bộ môn Lịch sử thế giới, quê Cẩm Xuyên), Trần Ba Trí (giảng viên môn Hán nôm, quê Thạch Hà) và ông Đinh Văn Lan quê Đức Thọ là giảng viên trường Đại học Kỹ thuật.

Họ xuất phát từ sáng ngày 28 tháng Chạp năm 1968 và đi theo con đường 1A về miền Trung. Khi đến Phủ Lý, Hà Nam, họ phải vượt qua sông Đáy, bốn thầy giáo vác xe đi bộ trên đường sắt Bắc – Nam để vượt sông. Đường sắt khổ 1m, không có lan can bắc trên cầu thép nhỏ, chúng tôi bước trên những thanh tà vẹt mà run lẩy bẩy, may mắn hôm đó gió không mạnh nên đỡ nguy hiểm. Nhưng khi đến giữa sông, do chiếc xe đạp quá nặng, tôi mất thăng bằng, may mà một công nhân đường sắt kịp chạy đến giúp[2], PGS Hoàng Văn Khoán nhớ lại. Khoảng 9 giờ tối hôm đó, bốn thầy giáo dừng chân tại Phà Ghép, Quảng Xương, Thanh Hóa ăn tối. Sau một ngày đạp xe mệt mỏi, cả bốn người nằm ngủ quên bên vệ đường. Sáng sớm ngày 29, người dân đi đường gọi chúng tôi mới bật dậy. Họ bảo chúng tôi quá liều vì đây là địa phận máy bay Mỹ thường xuyên ném bom. Chúng tôi tiếp tục lên đường đi về miền Trung[3], PGS Hoàng Văn Khoán cho biết.

Khi đến dốc Bò Lăn, Nghệ An, họ dừng chân mua cam. Cam “rẻ như cho” nên chúng tôi mua nhiều đến nỗi không có chỗ để, phải buộc lủng lẳng khắp ghi đông. Do buộc không cẩn thận nên khi leo dốc đèo Đá đẽo, cam rơi lả tả nhưng chúng tôi quá mệt nên không ai dừng lại nhặt[4]. Lên đến đỉnh đèo, thấy hai chiếc máy bay Mỹ đang rải bom từ xa, ngay lúc ấy, chúng tôi phải đưa ra quyết định đi hay không đi, nhưng theo kinh nghiệm của người dân ở hai bên đường truyền lại là khi thấy máy bay rải bom ở trước mắt thì phải đi tiếp, vì khi đi đến đó thì máy bay đã rời xa, còn nếu không đi thì một lúc sau máy bay trở lại sẽ gặp nguy hiểm. Vậy là chúng tôi cứ thẳng nơi máy bay đang rải bom mà tiến[5], PGS Khoán cho biết.

Mùi cỏ cháy khét, mùi bom mìn lẫn với xác người bị bom sát hại hòa quyện tạo thành một thứ mùi đáng sợ, thỉnh thoảng lại gặp biển cảnh báo có bom nổ chậm nhưng nỗi nhớ nhà đã chiến thắng tất cả, chúng tôi cứ thẳng con đường về Hà Tĩnh mà tiến. Gần 12 giờ đêm 30, tôi về đến nhà. Cả làng, cả xóm tối mịt mờ, chỉ có ánh trăng mờ ảo soi lối đi[6]. Đã gần mười năm không về thăm quê nhưng ông Khoán vẫn nhớ như in từng con ngõ nhỏ. Đã 30 Tết nhưng làng tôi vẫn không khác gì, không đèn, không cờ, không hoa, và không cả thắp hương tổ tiên. Trong đêm tối, tôi nhìn vợ và ba người con xúc động không nói nên lời. Con chó của nhà thì quấn lấy tôi, quẫy đuôi mừng rỡ, dù đã gần mười năm xa cách. Đêm hôm ấy, anh Lan ở lại nhà tôi đến sáng hôm sau mới về Đức Thọ[7], PGS Khoán tâm sự. Sau hai đêm, ba ngày đạp xe, đôi chân ông Khoán bị cứng nên không thể di chuyển. Sau một hồi bóp thuốc và nghỉ ngơi ông mới có thể đứng dậy và đi lại.

Ngày Tết quê ông không khác nhiều so với những ngày thường, nhà có điều kiện thì nấu cơm nếp, trẻ con được mừng tuổi bằng một miếng giò lụa được làm từ “ 8 phần bột, 2 phần thịt”. Hàng ngày, máy bay Mỹ vẫn thả bom, vì vậy gia đình ông Khoán sinh hoạt dưới hầm là chủ yếu. Bốn chiếc bánh chưng và bó mía được người dân ở Đại Từ, Thái Nguyên biếu làm cho cái Tết năm 1968 của gia đình ông Khoán trở nên đầy đủ hơn.

Ngày mùng 4 Tết, ông trở lại Hà Nội. Bốn ngày ăn Tết đoàn viên với gia đình đủ vơi đi nỗi nhớ nhà đằng đẵng gần chục năm qua, hạnh phúc nhỏ bé ấy là động lực để giúp cho chặng đường từ Hà Tĩnh ra Hà Nội của tôi trở nên ngắn và nhanh hơn[8].

 

Hoàng Thị Kim Phượng

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam



* PGS.TS Hoàng Văn Khoán, nguyên Phó chủ nhiệm khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

[1] Hỏi thông tin PGS.TS Hoàng Văn Khoán, ngày 21-1-2019, đã dẫn.

[2] Hỏi thông tin PGS.TS Hoàng Văn Khoán, ngày 21-1-2019, đã dẫn.

[3] Hỏi thông tin PGS.TS Hoàng Văn Khoán, ngày 21-1-2019, dã dẫn.

[4] Hỏi thông tin PGS.TS Hoàng Văn Khoán, ngày 21-1-2019, dã dẫn.

[5] Hỏi thông tin PGS.TS Hoàng Văn Khoán, ngày 21-1-2019, dã dẫn.

[6] Hỏi thông tin PGS.TS Hoàng Văn Khoán, ngày 21-1-2019, dã dẫn.

[7] Hỏi thông tin PGS.TS Hoàng Văn Khoán, ngày 21-1-2019, dã dẫn.

[8] Hỏi thông tin PGS.TS Hoàng Văn Khoán, ngày 21-1-2019, dã dẫn.


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: