04/04/2020 4:04:30 CH - Chuyến đi định mệnh

03/04/2020 9:25:01 SA - Vượt dịch săn... tem

Hạnh phúc tròn đầy
Cập nhật lúc: 09:58, Thứ Năm, 26/12/2019 (GMT+7)

Mùa thu năm 1968, Lê Ngọc Canh* lên đường đi làm nghiên cứu sinh tại Bulgaria. Chuỗi ngày chuẩn bị cho cuộc đi xa này đan xen nhiều tâm trạng, cảm xúc của cuộc đời. Kỷ niệm đó vẫn in đậm trong ký ức, để mỗi khi kể lại với con cháu, ông bà vẫn không khỏi xúc động.

Chuyện tình yêu của ông bà  Lê Ngọc Canh trải qua biết bao sóng gió, ở hai người luôn có sự cảm thông, chia sẻ, để đến nay khi đã đầu bạc răng long, nhưng tình yêu thương của ông bà dành cho nhau vẫn khiến giới trẻ chúng tôi không khỏi ngưỡng mộ. Năm 1960, Lê Ngọc Canh công tác ở Đoàn văn công Quân đội (Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam), anh thường sang thăm người bạn Hoàng Châu – Hiệu trưởng trường Cao đẳng Múa Việt Nam. Một lần sang bên trường Múa, Ngọc Canh trông thấy một cô học sinh có dáng người nhỏ nhắn, xinh xắn, cười rất duyên, với ánh mắt hơi buồn, ngồi bên khung cửa sổ ở khu tập thể, anh liền dừng lại hỏi thăm, trò chuyện làm quen và biết tên cô là Đặng Hồng Lý. Ngay lần gặp đầu tiên, Ngọc Canh đã rung cảm và đem lòng thương mến Hồng Lý. Nhưng Hồng Lý còn là học sinh nên chưa để ý đến tình cảm của anh.

Biết vậy, nhưng Ngọc Canh không nản lòng, anh sang chơi trường bạn nhiều hơn, là cớ được nhìn thấy Hồng Lý. Năm Hồng Lý 17 tuổi, anh tỏ tình, nhưng do còn đang là học sinh năm thứ 3, theo quy định của trường học sinh không được yêu, phát hiện sẽ bị kỷ luật hoặc đuổi học, nên Hồng Lý không đồng ý. Mặt khác, lúc này Hồng Lý vẫn chưa có tình cảm với anh.

Đặng Hồng Lý tốt nghiệp năm 1966, được phân công về Đoàn văn công Quân đội, cùng đơn vị với Lê Ngọc Canh. Hàng ngày, hai người cùng nhau tập luyện, sinh hoạt, ăn uống, nhờ đó Ngọc Canh có điều kiện được quan tâm, gần gũi với Hồng Lý hơn. Nhưng Hồng Lý còn trẻ và là diễn viên múa nên suy nghĩ luôn bay bổng, mơ mộng. Hơn nữa, Hồng Lý còn được nhiều người theo đuổi nên Ngọc Canh không phải là đối tượng được để ý. Nhưng rồi, chính sự quan tâm, ân cần, chu đáo và chân tình của Lê Ngọc Canh làm Hồng Lý rung động, xiêu lòng: Ông là người ham công việc, tính tình hiền lành, tốt bụng, chân tình, đứng đắn nên tôi mới có cảm tình. Ban đầu, biết bà chưa có tình cảm, nhưng ông vẫn luôn quan tâm hết mực, qua hơn 3 năm như vậy ông đã chinh phục được trái tim tôi1 Tình yêu của hai người bắt đầu “chớm nở”. Hai người thường xuyên đi về các đơn vị biểu diễn, ông vẫn nhớ tác phẩm kịch múa “Theo cờ giải phóng” do ông sáng tác, bà Hồng Lý đóng vai nhân vật chính là một em bé bị địch bắn chết, mọi người bê xác em đi biểu tình chống Mỹ. Tác phẩm được đánh giá xuất sắc, là kỷ niệm để lại ấn tượng sâu đậm cho ông bà trong cuộc đời nghệ thuật. Bởi họ đã cùng nhau xây dựng thành công tác phẩm khi còn rất trẻ.

Thời gian yêu nhau, giận hờn là chuyện không tránh khỏi, song điều đó càng giúp họ thêm hiểu, thêm yêu thương hơn. Đặng Hồng Lý đẹp người, đẹp nết, được rất nhiều chàng trai trẻ để ý, tỏ tình. Nhưng sự chân tình, tốt tính của Lê Ngọc Canh đã khiến Hồng Lý trao gửi trái tim cho ông. Hồng Lý quan niệm: Yêu là phải gắn kết, phải nên duyên vợ chồng, nên lựa chọn người có tâm tính tốt để tin tưởng, là điểm tựa trong cuộc sống2.

Năm 1967, Lê Ngọc Canh và Đặng Hồng Lý quyết định tiến tới hôn nhân. Đám cưới được tổ chức tại nhà chú họ trên phố Huế (Hà Nội). Trong điều kiện chiến tranh, đám cưới làm rất đơn giản, chỉ có vài mâm cơm mời họ hàng, đồng nghiệp. Ông vẫn nhớ, khi gia đình đang chuẩn bị ăn cỗ, nghe thấy tiếng còi báo động nên phải chạy ra khỏi nhà để xuống hầm trú ẩn. Dù vậy, ngày cưới cả hai người đều xúc động, hạnh phúc, hân hoan, vui vẻ vì sau nhiều năm tìm hiểu ông bà đã cùng về chung sống trong một nhà.

 
 Lê Ngọc Canh và Đặng Hồng Lý trong ngày cưới, năm 1967

Hai người sống trong một căn phòng nhỏ ở nhà chú họ, kê vừa chiếc giường và bộ bàn ghế. Tài sản duy nhất vợ chồng ông có là hai ba lô quân tư trang và hai chiếc chiếu. Ông bà ở đó khoảng một tuần, rồi trở về đơn vị đang sơ tán đóng quân tại trường Chu Văn An (Hà Nội). Cuối năm, bà Hồng Lý theo đơn vị đi sơ tán về Thạch Thất (Hà Tây). Ông Lê Ngọc Canh được cử đi học ngoại ngữ tại trường Đại học Ngoại ngữ sơ tán ở Hà Bắc, để chuẩn bị đi làm nghiên cứu sinh. Hàng tuần, ngày nghỉ ông đạp xe hơn 100 cây số từ Hà Bắc về Thạch Thất thăm vợ.

Mùa thu năm 1968, con trai đầu lòng chào đời, cũng là lúc ông nhận quyết định lên đường sang Bulgaria làm nghiên cứu sinh. Đó là chuỗi ngày đan xen nhiều tâm trạng, cảm xúc của cuộc đời. Ông hân hoan, hạnh phúc khi được đón con trai đầu lòng:

Vui sao nắng tỏa chiều nay

Lá rung cánh biếc gió đưa hương về

Anh mua hoa thắm cành xuê

Đón con ra viện - em về chiều nay3

Ngày bế đứa con đỏ hỏn trên tay từ viện về nhà, ông vô cùng sung sướng, xúc động. Ông cũng băn khoăn nhiều, bởi vợ vừa sinh con không có người chăm sóc, hơn nữa chiến tranh gian khổ, thiếu thốn mọi bề, để vợ con ở lại ông không yên tâm. Tâm trạng lưu luyến, băn khoăn, thương nhớ khi phải chuẩn bị đi học xa nhà cứ giằng xé trong ông. Nhưng nếu ông chọn ở lại thì cơ hội khó đến lần thứ hai. Ông xin Bộ Đại học (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho ở lại ít ngày rồi đi sau, nhưng không được chấp thuận. Bà biết, rồi sẽ phải một thân một mình nuôi con rất vất vả, nhưng vẫn ngậm ngùi khuyên chồng: Đi làm nghiên cứu sinh đó là niềm vinh dự lớn, anh phải đi, hoàn cảnh nào, khó khăn nào cũng phải đi để học tập, cơ hội không phải lúc nào cũng đến, em ở nhà sẽ cố gắng nuôi dạy con…4 Tình cảm, nghị lực của vợ và tình yêu với vợ con đã tạo động lực cho ông quyết tâm đi hơn.

Trước ngày đi, ông chỉ kịp mua cho bà ba bó củi, một chiếc lồng bàn và bộ cạp lồng. Ông còn tranh thủ đạp xe đi khắp Hà Nội, lên tận Sơn Tây để mua cho con cái bô nhưng không có. Trong lúc ấy, đơn vị tổ chức tiệc chia tay, đợi đến hơn 12 giờ đêm chưa thấy ông về, nên buổi tiệc đã phải hủy bỏ. Ngày ông Lê Ngọc Canh đi, trời mưa tầm tã, con còn đỏ hỏn, chỉ biết trông nhờ vào đồng chí, đồng đội. Hình ảnh vợ bế con được 3 ngày tuổi đứng trên gác nhà tập thể nhìn ra tiễn chồng “nước mắt như mưa”, bên ngoài trời cũng mưa tầm tã, lụt lội cả khu Mai Dịch khiến ông không thể nào quên.

…Anh đi nhé! Em đừng khóc nữa

Nước mắt em, anh nặng trên vai

Anh sẽ về lúc con khôn lớn

Hạnh phúc xum vầy để ngày mai…5

Hành trang lên đường của ông Lê Ngọc Canh là quần áo, sách vở và không thể thiếu những tấm ảnh của vợ và con trai. Trước lúc đi, ông không quên gửi vợ những lời nhắn nhủ qua dòng thơ viết vội:

Em yêu ơi! cứ đợi anh nhé

Ngày tháng trôi đi anh sẽ về

Dù đường xa mây mù bão nổi

Dù đêm đông giá lạnh tái tê…

Đợi anh! Đợi anh, anh sẽ về.

 Đời sống ở quê nhà quá khó khăn, nên bữa ăn đầu tiên khi qua Đồng Đăng rất ngon, thịnh soạn, khiến ông trào dâng nước mắt, bởi càng thêm thương vợ con. Gần một tháng đi tàu sang Bulgaria, ông mang theo nỗi nhớ gia đình, quê hương. Đến Bulgaria, lúc nhớ nhà ông đều đem ảnh ra ngắm, có lần ông đã ngồi xếp lại các bức ảnh của vợ và con, rồi chụp lại thành một bức. Khi lao vào học thì nỗi nhớ gia đình nguôi ngoai hơn, thời gian rảnh ông thường viết thư hỏi thăm hai mẹ con.

Chồng đi rồi, bà Lý luôn trong tình trạng lo lắng, không biết phải nuôi con thế nào, cho ăn gì, lúc ốm đau cho uống thuốc gì… Nửa tháng trôi qua, chỉ có hai mẹ con với nhau, bà cảm thấy hụt hẫng, buồn tủi, nhớ chồng và hay khóc, nhưng rồi được sự động viên của bạn bè: Cậu cố gắng ăn uống để lấy sữa cho con, cứ như vậy làm sao nuôi nổi con6. Bà chỉ biết cố gắng nuốt cơm trong nước mắt, nhìn vào đứa con và nghĩ đến tương lai của chồng để dần vượt qua, vui vẻ trở lại. Trước khi lấy chồng, bà không biết làm việc gì, sống trong môi trường quân đội được lo cơm ăn, áo mặc, khi nào cũng quần là áo lượt, đến giờ xách vali đi biểu diễn. Thời gian rảnh bà đọc sách, nên chẳng nghĩ gì tới cuộc sống khi có gia đình.  Nhưng khi chồng vắng nhà, bà đã phải tự làm hết mọi việc. Mọi người trong khu tập thể phải thảng thốt: Ôi, ông Canh về mà xem cô Lý, bây giờ thay đổi đến mức độ thế này7. Trong hoàn cảnh đó, bằng tình yêu chồng con bà đã quên hết vất vả, quên hết rằng mình đã từng sống như một “cô tiểu thư”. Bà chấp nhận gian khó, hết lòng để chồng yên tâm học tập.

Ngày ấy, nhờ sống trong tập thể, bà được đồng nghiệp giúp đỡ để vơi đi phần nào cực nhọc. Bà một mình chăm con, nhưng vẫn tranh thủ đọc tài liệu, đảm bảo tốt công tác giảng dạy của mình. Những lúc buồn bà thường viết thư cho chồng, viết nhật ký cho vơi đi.

Ở Bulgaria, nhận tiền sinh hoạt phí tháng đầu tiên, ông nghĩ ngay đến việc mua cho con một cái bô. Khi bà ra bưu điện nhận quà từ nước ngoài gửi về, tất cả nhân viên bưu điện hồi hộp xúm lại xem, nghĩ là món quà giá trị lắm. Nhưng khi nhìn thấy chiếc bô, ai cũng bật cười. Họ đâu biết rằng, đó chính là ước ao của ông khi con mới chào đời mà ông chưa thực hiện được.

Thời gian ông đi nghiên cứu sinh, bà Đặng Hồng Lý theo trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Quân đội (nay là Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội) sơ tán về Thạch Thất. Trong hoàn cảnh chỉ có một mẹ, một con, không có người giúp đỡ, nên hàng ngày, hai mẹ con ăn cơm tập thể. Giờ lên lớp dạy học bà đưa con đi cùng, vì đơn vị không có nhà trẻ. Ngoài giờ giảng, bà thường gửi con cho chơi cùng học sinh. Học sinh ăn ngủ sao thì cháu theo như vậy. Có lẽ, con cũng thương mẹ một mình vất vả nên rất ngoan. Do được cùng mẹ lên lớp nhiều, các điệu múa bà dạy cho học trò con đều bắt chước học thuộc. Ngày đó, bà không sợ vất vả, chỉ sợ khi có tình huống sơ tán khẩn cấp mà ngủ quên sẽ bị bỏ lại. Do đó, bếp, nồi, đồ dùng bà luôn xếp chuẩn bị sẵn sàng để bế con đi sơ tán. Năm 1972, chiến tranh ác liệt bà lại theo đơn vị sơ tán về Thạch Thất. Mẹ con sống nhờ trong một căn nhà của bà chủ đã cao tuổi, cạnh ao lớn, ban đêm nghe rặng tre kẽo kẹt khiến bà sợ hãi. Ngày Tết, hoặc nhiều đêm tủi thân nhớ chồng bà khóc, con trai chưa đầy 4 tuổi đã động viên mẹ: Mẹ nhớ bố à, con gọi bố về với mẹ nhé8. Xa chồng, con trai chính là động lực cho bà cố gắng, quên hết mọi nhọc nhằn, gian khó. Con trai đúng như lời chồng nhắn nhủ trước ngày đi:

…Con ơi, nhớ đừng quên con nhé

Con là sức mạnh của tình yêu thương

Tất cả của mẹ ngày ba vắng

Con là duy nhất của mẹ yêu…9

Bà bảo, ngày ấy bà không thấy vất vả, con như nguồn vui trời ban cho những ngày xa chồng. Bất kể làm việc gì, bà cũng nhớ về con, con như báu vật, thôi thúc bà nhanh chóng hoàn thành công việc để trở về. Nhiều lần, đang giảng bài nghe thấy tiếng bom, bà liền chạy thật nhanh về tìm con. Ở đất nước Bulgaria xa xôi ông cũng luôn theo dõi tin tức, thời sự để biết được tình hình chiến sự và vợ con ở quê nhà.

Năm 1973, nhận tin ông Lê Ngọc Canh bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ sắp trở về, bà từ nơi sơ tán quay về căn nhà ở Mai Dịch (Hà Nội) dọn dẹp, chuẩn bị để đón chồng. Vừa hay, trên đường về, bà nhận được tin ngừng bắn. Bà dọn dẹp, sửa sang căn nhà cũ, đón chồng và con về đoàn tụ. Bà chia sẻ: Thời gian xa chồng, trong hoàn cảnh chiến tranh, dù gian nan, vất vả nhưng bà luôn sống lạc quan, yêu đời, không gợn âu lo, luôn luôn nghĩ tương lại con ngày một khôn ngoan, mạnh khỏe, chồng hoàn thành luận án sẽ trở về đất nước làm việc, cả gia đình được đoàn tụ10. Có lẽ, chồng con là nguồn hy vọng, khiến bà chờ đợi, vượt lên mọi gian khổ, để thêm yêu cuộc sống hơn. Bà đã sống rất nghị lực, là hậu phương vững chắc, luôn cam chịu để tạo điều kiện cho chồng toàn tâm, toàn ý học tập và phấn đấu trong sự nghiệp. Nếu như ngày đó, bà chỉ cần bảo, thôi anh đừng đi, ở lại với em và con, mình em không thể chịu đựng được, thì chắc tôi cũng ở lại và coi như mất hết sự nghiệp11, ông tâm sự.

Chồng trở về, nhưng bà vẫn luôn là người chăm sóc, nuôi dạy, kèm cặp con từ tính cách đến học hành. Bà đảm đang, gánh vác mọi công việc, nên việc nhà ông hầu như không phải bận tâm. Đặc biệt, bà cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Năm 1977, ông bà có thêm một cậu con trai. Đến nay, ông vẫn nhớ mãi hình ảnh vợ ngồi dạy con nắn nót từng nét chữ, nhẹ nhàng chỉ bảo con. Ông có điều kiện chuyên tâm vào công tác giảng dạy, đào tạo, xây dựng tác phẩm, nghiên cứu khoa học… Đặc biệt, bà Đặng Hồng Lý là diễn viên múa, giảng viên múa dân gian ở, nhờ vậy ông được bà hỗ trợ, góp ý bổ sung rất nhiều trong công tác sáng tác, nghiên cứu. Ngược lại, ông cũng góp ý kiến, bổ sung cho bà khi biên soạn giáo trình giảng dạy. Hai người vừa là vợ chồng, vừa là đồng nghiệp giúp đỡ, hỗ trợ đắc lực cho nhau trong công việc, cuộc sống.

 
Gia đình GS.TS Lê Ngọc Canh đầu những năm 80, thế kỷ XX

Hơn nửa thế kỷ qua, trên chặng đường nghiên cứu khoa học, cống hiến hết mình cho ngành Nghệ thuật múa, GS Lê Ngọc Canh đã khẳng định mình với nhiều công trình giá trị, một số công trình đạt Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2000; Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2017. Khi hỏi về thành công của mình, ông luôn tươi cười kể: Sự nghiệp tôi có ngày hôm nay là đều nhờ vợ mà có. Trong sự nghiệp của tôi, công của vợ phải là 55%, còn tôi chỉ 45%12.

Đến nay, còn gì hạnh phúc hơn khi ở tuổi xế chiều ông bà vẫn luôn ân cần quan tâm nhau, sống trọn trong niềm vui đong đầy. Giọt nước mắt hạnh phúc mãn nguyện vẫn lăn dài trên má, khi ông bà nhớ lại những ngày mùa thu hơn nửa thế kỷ về trước…

Tạ Thị Anh

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 


GS.TS Lê Ngọc Canh, chuyên ngành Nghệ thuật múa,  nguyên Phó viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa..  

[1] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Lê Ngọc Canh, 15-5-2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản CNKHVN.

[2] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Lê Ngọc Canh, 9-8-2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản CNKHVN.

[3] GS.TS Lê Ngọc Canh, “Chiều thu đón con về”, 18-8-1968, Hà Nội.

[4] Ghi âm PVGH GS.TS Lê Ngọc Canh, 26-3-2015, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm DSCNKHVN.

[5] GS.TS Lê Ngọc Canh, “Đợi anh, anh sẽ về”, 19-8-1968, Hà Nội.

[6] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Lê Ngọc Canh, 15-5-2019, tài liệu đã dẫn.

[7] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Lê Ngọc Canh, 15-5-2019, tài liệu đã dẫn.

[8] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Lê Ngọc Canh, 15-5-2019, tài liệu đã dẫn.

[9] GS.TS Lê Ngọc Canh, “Con yêu”, 19-8-1968, Hà Nội.

[10] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Lê Ngọc Canh, 15-5-2019, tài liệu đã dẫn.

[11] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Lê Ngọc Canh, 9-8-2019, tài liệu đã dẫn.

[12] Ghi âm HTT GS.TS Lê Ngọc Canh, 20-8-2018, tài liệu đã dẫn.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: