23/06/2020 5:55:46 CH - Ở ranh giới “mong manh”

08/06/2020 10:56:56 SA - Vĩnh biệt GS.TS Ngô Đức Thịnh

Chuyện dạy - học ngôn ngữ tại thực địa
Cập nhật lúc: 08:03, Chủ Nhật, 15/12/2019 (GMT+7)

Quãng thời gian thầy trò bộ môn Ngôn ngữ, trường Đại học Tổng hợp cùng dạy và học tại thực địa để nghiên cứu ngôn ngữ Tày Nùng, cho đến nay vẫn để lại ấn tượng sâu đậm với GS.TS Đoàn Thiện Thuật.

Ông cha ta có câu “Học phải đi đôi với hành” để nói về mối quan hệ mật thiết giữa việc học trên trường lớp với vấn đề thực hành và ứng dụng các kiến thức đã được học. Trong sự nghiệp gần 50 năm giảng dạy (1959-2005), GS.TS Đoàn Thiện Thuật, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ, trường Đại học Tổng hợp là một trong những giảng viên rất coi trọng yếu tố “hành”. Ông có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên đi điều tra về ngôn ngữ tại thực địa và là người có công xây dựng mô hình đào tạo: Lấy thực tế phục vụ giảng dạy tại bộ môn Ngôn ngữ từ thuở ban đầu.

Tốt nghiệp khóa I khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1959, ông Đoàn Thiện Thuật được giữ lại làm giảng viên tổ bộ môn Ngôn ngữ mới thành lập. Khi ấy, ngành Ngôn ngữ ở nước ta còn non trẻ, ông lại được phân công dạy Ngữ âm – môn học được cho là khô khan, thậm chí là khó học nhất trong Ngôn ngữ học. Nhưng những trở ngại đó chỉ thoáng qua trong suy nghĩ của thầy giáo trẻ Đoàn Thiện Thuật, với ông được giữ lại trường công tác bấy giờ là một vinh dự lớn. Khắc phục chất “khô, khó” của Ngữ âm học bằng việc lồng ghép kiến thức với thực tế cuộc sống, các bài giảng của thầy Thuật luôn có sức hút đặc biệt với sinh viên bởi những ví dụ sinh động, dí dỏm. Như nhận xét của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết1, cựu sinh viên khóa 10 khoa Văn: …giờ dạy của Thầy lúc nào cũng nhẹ nhàng, thú vị2. Còn GS.TSKH Lý Toàn Thắng3, cựu sinh viên khóa 9 khoa Văn (nhưng là khóa đầu tiên của chuyên ngành Ngôn ngữ học của khoa này tại trường Đại học Tổng hợp) cho biết: …bọn mình chỉ thích cái đoạn Thầy biểu diễn một vài âm vị tiếng nước ngoài mà tiếng Việt không có, lúc đó nhìn hàm răng trắng lóa và xít xít của Thầy, không hiểu sao mình trộm nghĩ: “Cụ” này sinh ra chắc chắn là để dạy ngữ âm học cho Hạ giới4. 

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, bộ môn đã thực hiện nhiều đề tài phục vụ cho xã hội, giải quyết các vấn đề thực tiễn. Quãng thời gian đi thực tế để thực hiện đề tài: "Xác định tiếng chuẩn của ngôn ngữ Tày Nùng" (1966-1970) đã để lại ấn tượng sâu đậm với GS Đoàn Thiện Thuật. Ông vẫn nhớ bối cảnh nhận một nhiệm vụ bất ngờ…
 
 

Giảng viên Đoàn Thiện Thuật (thứ 3 từ phải) và đồng nghiệp trong đợt khảo sát điều tra về ngôn ngữ tại Thanh Hóa, 1961

(Nguồn: Sách Nghĩ về thầy: GS Đoàn Thiện Thuật)

Tháng 8-1965, Mỹ ném bom miền Bắc. Thầy trò trường Đại học Tổng hợp sơ tán lên huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái5. Đại diện trường đến chào chính quyền địa phương - khi ấy gọi là Khu tự trị Việt Bắc6, do Thượng tướng Chu Văn Tấn làm Bí thư, thì được biết ở đây đang gặp khó khăn trong việc lựa chọn tiếng chuẩn của ngôn ngữ Tày Nùng để sử dụng trong phát thanh. Viện Ngôn ngữ với sự hỗ trợ của chuyên gia Liên Xô từng vào cuộc về vấn đề này nhưng không thành công. Bộ môn Ngôn ngữ được nhà trường giao thực hiện nhiệm vụ này. Nhân việc bộ môn nhận trọng trách đó, Chủ nhiệm bộ môn Nguyễn Tài Cẩn quyết định tổ chức chương trình nghiên cứu tiếng Tày – Nùng, do bộ môn thực hiện. 

Được giao nhiệm vụ, ông Thuật cùng đồng nghiệp tiến hành đi khảo sát thực tế để tìm hiểu vấn đề. Ông thú thật: Cho đến lúc đi sơ tán, tôi nào đã biết gì về tiếng Tày, tiếng Nùng, thế nên phải mò mẫm, tự học và thử bằng mọi cách7. Sau một thời gian nghiên cứu, ông phát hiện vấn đề dẫn tới “thất bại” của các chuyên gia ngôn ngữ trước đó là bởi họ theo lý luận kinh điển là chọn ngôn ngữ của vùng có kinh tế, chính trị, văn hóa phát triển làm tiếng chuẩn – nhưng đây lại là những yếu tố bên ngoài ngôn ngữ. Theo cách tiếp cận trên, ngôn ngữ của huyện Hòa An (Cao Bằng) được chọn là tiếng chuẩn. Trên thực tế, Hòa An là nơi tập trung nhiều người Kinh sinh sống, do vậy ngôn ngữ bị pha tạp. Ở nhiều nước phương Tây đã áp dụng cách làm này, nhưng với quốc gia đa ngôn ngữ, nhiều vùng miền kém phát triển như Việt Nam, thì cách chọn ngôn ngữ chuẩn như vậy không phù hợp, đồng bào không hiểu, không thừa nhận. Bộ môn Ngôn ngữ dựa vào những yếu tố bên trong của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng… hay chính bản thân ngôn ngữ để điều tra, ghi chép về ngôn ngữ Tày Nùng. Sau đợt đầu khảo sát, năm 1966, bộ môn quyết định đưa sinh viên cùng tham gia nghiên cứu đề tài: "Xác định tiếng chuẩn của ngôn ngữ Tày Nùng". Với vai trò Chủ nhiệm đề tài, thầy Thuật chịu trách nhiệm chính trong việc chỉ đạo thực hiện các điều tra và triển khai nghiên cứu. Ông đã sử dụng phương pháp vẽ bản đồ của Ngôn ngữ học địa lý để tìm ra vùng quy tụ của những tiếng địa phương tương đồng về mặt ngữ âm, từ vựng. Dựa trên bản đồ này, ông phân sinh viên năm thứ tư về đóng hẳn tại các xã, huyện có người Tày, người Nùng ở các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang...

Học kỳ I, sinh viên năm thứ tư vừa học chương trình chuyên môn, vừa học tiếng Tày, tiếng Nùng. Cùng với thầy Thuật còn có thầy Nguyễn Hàm Dương, thầy Đinh Văn Đức và thầy Bùi Khánh Thế đi cùng sinh viên trong suốt học kỳ. Các giảng viên khác lần lượt lên khu vực thực địa dạy chuyên đề cho sinh viên trong khoảng 1-2 tuần rồi trở lại trường sơ tán ở huyện Đại Từ. Giảng viên nữ duy nhất của bộ môn khi ấy là cô Hoàng Thị Châu cũng sẵn sàng cùng sinh viên xuống tận vùng sâu vùng xa để giảng bài. Lớp học mượn nhà dân, xung quanh là ruộng bậc thang, là rừng núi lại có cả hoa mơ, hoa mận trắng xóa mỗi độ xuân về. Đôi lúc, phong cảnh hữu tình như “át” được tiếng bom đạn, giúp thầy trò quên đi cái đói, cái thiếu thốn nơi sơ tán. Ăn ở tại nhà dân và thường xuyên tiếp xúc với tiếng bản địa đã giúp sinh viên biết tiếng Tày, tiếng Nùng rất nhanh. Theo GS Đoàn Thiện Thuật, chỉ mấy tháng sau, thầy trò đã có thể giao tiếp, tự đi mua quà bánh của địa phương về cho gia đình nhân dịp Tết nguyên đán. Vào học kỳ II, sinh viên năm thứ tư sẽ làm luận văn tốt nghiệp8dưới sự hướng dẫn của cùng một thầy đó là thầy Đoàn Thiện Thuật. Khi ấy, mỗi khóa chỉ có khoảng 10 sinh viên. Người nghiên cứu tiếng Nùng Lòi ở huyện Trùng Khánh (Cao Bằng), người nghiên cứu tiếng Tày ở huyện Tràng Định (Lạng Sơn)… Tất cả các luận văn này được sử dụng để xây dựng một bản đồ ngôn ngữ về các tiếng địa phương Tày Nùng.

Ngoài sinh viên năm thứ tư, hàng năm theo chương trình đào tạo, sinh viên năm thứ ba có một tháng thực tập, nhân đây họ cũng được cử tham gia thu thập tư liệu về tiếng Tày, Nùng. Từng sinh viên được phân về các địa phương, ăn ở tại trụ sở của huyện ủy. Kết thúc chuyến thực địa, họ đều phải có giấy xác nhận của huyện ủy về tư cách đạo đức, không vi phạm pháp luật. Ngoài ra, khi trở về nơi sơ tán, mỗi sinh viên sẽ mời theo một người dân bản địa, để tham gia kiểm chứng kết quả thu được. Cách làm này vừa đảm bảo chất lượng học tập vừa quản lý được sinh viên mà không cần sự can thiệp của giảng viên. Các tư liệu của sinh viên năm thứ ba sẽ được chuyển cho sinh viên năm thứ tư khóa tiếp theo tham khảo làm luận văn tốt nghiệp.

Sau 5 năm nghiên cứu, điều tra, năm 1970, dựa trên tư liệu thực tế của cả giảng viên và sinh viên, bộ môn Ngôn ngữ học đã xây dựng được 2 tập bản đồ ngôn ngữ về các tiếng địa phương Tày Nùng. Trên  mỗi tấm bản đồ câm do Cục Đo đạc và Bản đồ Hà Nội in sẽ trình bày một từ, ví dụ bản đồ này vẽ phụ âm đầu của từ A còn bản đồ khác vẽ nguyên âm của từ B. Mỗi cách phát âm được ghi bằng một ký hiệu (hình tròn, hình vuông, tam giác…). Giữa các phụ âm ở mỗi nơi không có sự khác nhau nhiều. Trên mỗi bản đồ thường thấy các ký hiệu quy tụ về một số địa phương.. Tổng hợp địa điểm phân bố các biến thể ngữ âm, từ vựng có thể xác định tiếng chuẩn cho ngôn ngữ Tày Nùng và chọn ra vùng có ngôn ngữ dùng phổ biến nhất, đó là tiếng ba huyện giáp giới thuộc 3 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn.
 
Ông Đoàn Thiện Thuật đọc báo cáo kết quả nghiên cứu tiếng Tày Nùng tại Hội thảo tổ chức ở Khu tự trị Việt Bắc, 1973 (Nguồn: Sách Nghĩ về thầy: GS Đoàn Thiện Thuật)

Kết quả trên được trình bày tại Hội thảo lần thứ nhất về “Xác định tiếng chuẩn của ngôn ngữ Tày Nùng” ở Bắc Thái do Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc tổ chức. Các đại biểu tham dự đều tán thành và ghi nhận kết quả nghiên cứu của bộ môn Ngôn ngữ. Khi dùng tiếng chuẩn đã chọn vào hệ thống phát thanh, hầu hết đồng bào Tày Nùng ở Việt Bắc đều hiểu. Sau đó, tiếng chuẩn còn được sử dụng để biên soạn sách học tiếng Tày Nùng ở bậc tiểu học, dùng trong việc in ấn các tác phẩm văn học dân gian. Hai tập bản đồ ngôn ngữ về các tiếng địa phương Tày Nùng cũng là hai tập Atlas ngôn ngữ học đầu tiên của nước ta, là mô hình để các nhà nghiên cứu tiếp tục cho ra đờinhiều tập Atlas về tiếng Việt của một số vùng sau này. Dựa vào hai tập bản đồ, ông Thuật có căn cứ để khẳng định, tiếng Tày và tiếng Nùng không tách riêng biệt, độc lập mà có mối quan hệ gần gũi với nhau do đó được gọi là ngôn ngữ Tày Nùng.

Phương pháp học tập tại thực địa giúp cho bộ môn Ngôn ngữ không những giải quyết được các vấn đề thực tiễn mà còn giúp sinh viên phát huy sự sáng tạo, trau dồi nhiều kỹ năng: kỹ năng sống, kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng tư duy, giao tiếp, làm việc nhóm… Những kiến thức học trên trường lớp được áp dụng ngay trong thực tiễn giúp sinh viên nắm chắc kiến thức, hứng thú với nghiên cứu khoa học. Nhiều sinh viên trải qua quá trình học đi đôi với hành, sau này trở thành những nhà nghiên cứu tên tuổi như GS.TSKH Lý Toàn Thắng, PGS.TS Đinh Lê Thư9, GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, GS.TS Nguyễn Văn Lợi10

Tại nơi thực địa, thầy trò sống gần nhau, gần dân nên mối quan hệ ngày càng thân thiết và gắn bó. GS Đoàn Thiện Thuật cho biết, do ông khá chỉn chu, thậm chí là “quá cẩn thận” từ trang phục đến lời ăn tiếng nói nên trên lớp, nhiều sinh viên tưởng khó gần. Nhưng hàng ngày, trong thực tế sinh hoạt, học tập khoảng cách giữa thầy trò dần thu hẹp. Trò ăn nói không cần phải kiêng dè, câu nệ mà thầy còn lấy đó làm vui! Có lẽ vì thế, Giáo sư vẫn có thể nhớ mặt gọi tên nhiều học trò dù đã ở tuổi 86. Có lần ông bộc bạch: Những năm tháng nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số và các tiếng địa phương, tôi thật sự không ngờ, đã gieo vào lòng nhiều thế hệ sinh viên tình cảm gắn bó với những đối tượng nghiên cứu ấy và đã đưa lại cho các bạn ấy một phương pháp làm việc, để sau này họ đã trở thành những cán bộ chủ chốt của Viện Ngôn ngữ học, Viện Đông Nam Á11. Và còn biết bao nhiêu chuyện thú vị trong cuộc sống đời thường, có cả bi hài như chuyện tắm lộ thiên nhưng không “lộ hàng”, chuyện cậu học trò lớp trưởng nằm cứng đơ cạnh thầy vì sợ gác chân hoặc đạp trúng thầy… 

Sau đề tài "Xác định tiếng chuẩn của ngôn ngữ Tày Nùng", ông Đoàn Thiện Thuật và đồng nghiệp tiếp tục đưa sinh viên thực hiện điều tra ngôn ngữ trẻ em theo đề tài cấp Nhà nước "Xây dựng chuẩn về tâm lý, sinh lý trẻ em Việt Nam" do Ủy ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em Trung ương chủ trì, thực hiện từ năm 1971-1974. Tiếp đó là sự phối hợp với Khoa thính học, Viện Tai Mũi Họng trung ương để thực hiện đề tài “Dạy nói cho trẻ em câm điếc” trong giai đoạn 1972 – 1974… Nhớ lại quãng thời gian học tập tại thực địa, một số học trò của GS Thuật chia sẻ rằng: Bây giờ, có tiền cũng không tổ chức được những lớp học như thế!

Nguyễn Điệp

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 ________________________

1 GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó chủ nhiệm khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp, nguyên Hiệu phó trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng.

2 Tham khảo Nghĩ về thầy: GS Đoàn Thiện Thuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.21.

3 GS.TSKH Lý Toàn Thắng, nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học.

4 Tham khảo Nghĩ về thầy: GS Đoàn Thiện Thuật, tài liệu đã dẫn, tr.208.

5 Nay là Thái Nguyên và Bắc Kạn.

6 Khu tự trị Việt Bắc là đơn vị hành chính cũ, tồn tại từ năm 1956-1975 gồm 6 tỉnh: Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang.

7 Tài liệu ghi âm GS.TS Đoàn Thiện Thuật, 24-9-2019, lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

8 Nay gọi là khóa luận tốt nghiệp.

9 Sinh viên khóa 9 khoa Ngữ văn, trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, nguyên Chủ nhiệm khoa Đông phương học, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

10 Sinh viên khóa 11, khoa Ngữ văn, trường trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, nguyên Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học.

11 Tham khảo Nghĩ về thầy: GS Đoàn Thiện Thuật, tài liệu đã dẫn, tr.238.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: