28/11/2019 2:03:02 CH - Tìm về di sản của cha

21/11/2019 9:05:31 CH - Bật mí sự kiện năm 1951

20/11/2019 9:30:56 SA - Thầy Nguyễn Văn Huy

Đường vào tuyến lửa
Cập nhật lúc: 09:33, Thứ Tư, 20/11/2019 (GMT+7)

Vượt qua bom đạn để đến “giảng dạy tại chỗ” cho các sinh viên tại chức mà thầy giáo Vũ Đình Lai [1] kể lại sau đây không chỉ là kỷ niệm của riêng ông, mà là câu chuyện dạy học thời chiến của một thế hệ giảng viên cách nay nửa thế kỷ.

Có lẽ nhiều người nghĩ nghề dạy học là nghề bình yên nhất: hàng ngày cắp cặp đến trường, làm cái việc cứ mỗi năm lặp lại một lần, tức là trình bày lại giáo trình được thiết kế hợp với chu kỳ theo đơn vị năm một của kế hoạch giảng dạy. Kể ra thì cũng đúng, nhưng chỉ đúng một phần và trong thời bình.

GS.TS Vũ Đình Lai.
GS.TS Vũ Đình Lai

Những năm 1967, 1968, chiến tranh phá hoại của quân đội Mỹ mở rộng dần ra phía Bắc, ngày càng ác liệt. Những lớp tại chức của trường Đại học Giao thông vận tải không còn được học ở Hà Nội mà phải học ở những địa điểm sơ tán khác nhau rải rác ở nhiều tỉnh. Một số lớn sinh viên tại chức các ngành công trình làm công tác bảo đảm giao thông trên tuyến lửa, tức là từ Thanh Hóa trở vào, vài ba tháng mới quay ra Bắc nghe giảng. Vất vả và nguy hiểm, mất việc và tốn kém. Để giảm bớt khó khăn và cũng để đỡ mất thì giờ cho người học, Bộ Giao thông chỉ thị cho trường ĐH Giao thông vận tải phải cử các giảng viên vào nơi sinh viên đang công tác để giảng dạy, tức là vào Nghệ An, Hà Tĩnh, nơi chiến tranh phá hoại đang diễn ra ác liệt nhất.

Cuối năm 1968, bộ môn Sức bền vật liệu, trường ĐH Giao thông vận tải nhận được kế hoạch giảng một lớp ở Hà Tĩnh. Địa điểm không được biết trước, người dạy chỉ cần vào tới Phân bộ (GTVT) ở khu 4, thì có cán bộ của Phòng Giáo vụ của trường làm việc ở đó đưa đi. Thường nếu có lớp tại chức thì tổ trưởng có thể phân công anh em đi dạy một cách đơn giản, nhưng đây là lần đầu tiên bộ môn cử người đi vào nơi chiến sự nóng bỏng, sống chết không biết thế nào nên việc phân công phải suy nghĩ. Cũng cần phải nói thêm là anh Trần Huy Bảo, cán bộ phòng thí nghiệm của bộ môn Sức bền vật liệu chúng tôi, người bạn thân mật cùng sống chung với tôi một phòng ở nơi sơ tán, mới hè năm trước thôi (1977) khi đi về Nghệ An thăm gia đình đã bị hy sinh vì bom Mỹ ở ga Yên Lý, đồ dùng cá nhân của anh tôi vẫn còn giữ. Là tổ trưởng tôi phải quyết định chính mình đi giảng chuyến đầu tiên này, không thể phân công người khác được.

Tôi chuẩn bị để đầu tháng 12 khởi hành. Tôi không muốn báo cho vợ biết chuyện đi dạy ở khu 4 vì sợ vợ phải lo nghĩ mà cứ lẳng lặng chuẩn bị. Chuẩn bị việc giảng dạy và còn chuẩn bị việc riêng với tinh thần chẳng may mình có “làm sao” trong chuyến đi này thì cũng đã giải quyết xong mọi việc! Ngoài việc xắp xếp các công tác của bộ môn còn có chuyện còn vướng mắc khi đó là chuyện tiền nong của công đoàn: khi nhà trường một phần chuyển lên Mai Xiu, Lục Nam, Bắc Giang sơ tán, vì tôi là ủy viên Ban chấp hành Công đoàn trường nên phải gánh thêm công tác đời sống cho anh chị em ở bộ phận sơ tán. Chuyện chăm lo đời sống bao cấp thời chiến ở nơi sơ tán rất phức tạp. Trường gửi hàng từ Hà Nội lên nơi sơ tán từ cái lớn như phiếu phân phối xe đạp, hàng công nghiệp, đến cái bé như thực phẩm, chiếc nón, đôi guốc mộc đều phải nhận, bình xét, phân cho các đơn vị ở cách xa nhau, gần thì một hai cây số như Khoa Công trình, Cơ khí-Điện, xa thì dăm bảy cây số như Khoa Vận tải-Kinh tế, rồi “nhặt tiền” gửi về Hà Nội. Chuyện tiền nong nội bộ xưa nay vẫn dây dưa, tuy nhiên trước khi đi dạy tôi phải thanh toán gọn việc này.

Để chuẩn bị hành trang lên đường phải hỏi kinh nghiệm những người đã từng đi khu 4. Địch chủ yếu đánh phá giao thông nên việc đi trên đường là nguy hiểm nhất, kể cả ngày lẫn đêm, vì vậy, tài liệu giảng dạy, tư trang phải gọn nhẹ, buộc thật vững chắc, tháo thật dễ dàng trên cái poóc baga, lương thực, nước uống phải chuẩn bị tự túc trên đường đi. Xe đạp phải chuẩn bị tốt để không xẩy ra sự cố gì trên đoạn đường trường mấy trăm cây số chắc chắn là không thể có nhiều dân cư, hàng quán.

Ngày khởi hành, buổi tối, tôi lên tầu ở ga sơ tán Giáp Bát. Khoảng ba giờ sáng tầu  đến Ninh Bình. Đây là ga cuối cùng chở khách đi về phía nam. Xuống tầu, trời tối đen như mực, lấp loáng mấy cái đèn xách tay của nhân viên nhà ga, thỉnh thoảng những vệt sáng của ánh đèn pin, chẳng ai trông rõ mặt ai. Ở toa nhận xe đạp gửi, tiếng gọi nhau í ới. Những người có xe đạp phần lớn là những người đi tiếp vào phía nam, một số đi có đôi, có ba. Người ta hỏi thăm nhau, tìm bạn đồng hành. Ra khỏi ga, lúc đầu còn có nhiều người, còn thấy chuyện trò, sau thưa dần. Nơi đất lạ người ta luôn muốn gần nhau cho có bạn, nhưng lại cũng dè chừng nhau vì vào “đất dữ” lúc nào cũng cần cảnh giác! Mọi người lặng lẽ đạp, căng mắt nhìn trong đêm tối để nhận đường. Đám người đi về phía nam ngày càng thưa thớt… Sáng sớm đến Lèn. Cầu đã gãy, phải qua đò ở phía thượng lưu. Có tiếng kẻng báo động, văng vẳng tiếng máy bay, rồi yên. Khoảng giữa trưa qua được đò Hàm Rồng rồi vào thị xã Thanh Hóa. Cần nói thêm là tôi đã chọn ngày khởi hành vào dịp hợp lý nhất: có tin gió mùa đông bắc! Trời âm u, mây thấp, không có máy bay, gió lại xuôi chiều. Qua thị xã lác đác có người, hàng quán nhưng tôi không nghỉ mà đi thẳng. Ăn đã có gói bánh bít cốt (bánh mì nướng khô), uống có bi đông nước treo ở ghi đông. Tranh thủ thời gian, vừa đạp băng băng, vừa ăn, uống. Vào càng sâu thì đường càng vắng, gần như không có bóng người trên quốc lộ. Tôi phát hiện nhiều vết đạn to bằng cái bát dọc mép đường, chắc máy bay địch bay dọc tuyến để bắn. Đến khu vực Hoàng Mai, ranh giới giữa Thanh Hóa và Nghệ An thì trời đã ngả về chiều. Qua đoạn cầu Vằng, Cầu Hổ, nơi nổi tiếng hứng bom đạn địch mới thấy tan hoang. Đường nhựa bị bom cầy nát, đường đắp lại ngoằn ngoèo lượn quanh các miệng hố bom. Địch tập trung phá đoạn đường này vì đường đi qua một khu vực đầm lầy: đường mà bị phá thì khó kiếm được đất mà đắp lại! Tôi hồi hộp vượt nhanh thì bỗng một tiếng nổ ầm lớn phía sau rồi rào rào như tiếng đạn bắn xuống nước. Vứt vội xe đạp, tôi nằm nép ở vệ đường. Một lúc sau im ắng ngó nhìn trước sau thì thấy một người phụ nữ ở đâu ra không biết. Thì ra chị là người bảo đảm giao thông, và tiếng nổ kia là do một quả bom nổ chậm, bùn đất bị hắt lên trời rơi xuống nước kêu rào rào như đạn liên thanh! Hú vía, rồi lại tiếp tục lên xe đạp cho nhanh qua nơi hiểm nghèo. Cầu Hổ chỉ có hai thanh ray bắc qua. Xe vác trên vai, mỗi chân trên một thanh ray dò dẫm mà qua. Trên đoạn đường này tôi gặp hai người đồng hành. Gọi là đồng hành vì họ cùng đi trên tuyến đường với mình chứ không quen nhau, mà cũng không chuyện trò với nhau. Họ đi có đôi nên chuyện trò có vẻ yên tâm hơn tôi, và hình như cũng ái ngại cho tôi chỉ có một mình trên cung đường dài nhiều bất trắc. Nghe một vài câu đoán có lẽ đó là những cán bộ lâm nghiệp, hành lý của họ có những cuộn giấy khổ lớn. Một thoáng suy nghĩ: chiến tranh ác liệt thật nhưng mọi bộ máy của đất nước vẫn lặng lẽ chạy đều và gian khổ không của riêng ai. Trời nhiều mây, xuôi gió, đặc biệt không có tiếng máy bay nên đến chiều muộn tôi đến được Cầu Giát. Đạp xe suốt ngày không nghỉ, thấm mệt, tôi ghé vào xin nghỉ ở một trạm gác dân quân ngay cạnh đường rồi xin ngủ nhờ luôn tại trạm. Thời chiến cán bộ ta đi công tác có cái giấy giới thiệu là được chấp nhận dễ dàng. Ngủ thiếp một mạch đến sáng. Tỉnh dậy anh dân quân nói: Ông này ngủ khiếp thật, suốt đêm nó ném bom rầm rầm mà không biết!

Từ Cầu Giát tôi hỏi thăm đi đường tránh để đến Vinh. Đường tránh phần nhiều là đường đất thỉnh thoảng qua làng xóm có người, yên tâm đạp. Khoảng trưa đến Quán Hành, cách Vinh khoảng mươi cây số, nơi có cơ quan Phân bộ đóng. Tôi được anh Tư cán bộ của trường đón. Trong một vài ngày chờ để đi vào nơi dạy học, tôi tranh thủ hỏi thăm quê anh Huy Bảo, gần Vinh, đến thăm chị và con anh đồng thời trao lại cho chị những tư trang của anh. Thời kỳ gian khó, một chút của cải vật chất cũng quý nên phải trao trả đầy đủ, hơn nữa lại là kỷ vật của người đã mất. Vài hôm sau tôi cùng anh Tư đi vào Hà Tĩnh, đường qua cầu đường sắt Cửa Tiền, nơi tôi đã từng tham gia xây dựng khoảng bốn năm năm về trước. Trên đường trời mưa nặng hạt. Thời chiến tranh phá hoại, đi trên đường gặp trời mưa thì càng yên tâm vì không phải lo máy bay. Lớp học được tổ chức ở xã Trường Lộc, huyện Can Lộc. Theo đúng kế hoạch các sinh viên từ các nơi công tác trong vùng tập trung  về nghe giảng, học tập. Tôi sống ở Trường Lộc khoảng hai tuần, sáng lên lớp, chiều gặp các nhóm thăm hỏi, phụ đạo. Buổi tối tôi dành riêng cho việc học một cuốn sách mà tôi mượn được trước khi đi. Đêm ngủ nghe tiếng bom ì ầm ghê rợn. Về sau hỏi ra mới biết là xã Trường Lộc cũng gần ngã ba Đồng Lộc, nơi hứng bom Mỹ nổi tiếng với những nữ thanh niên xung phong anh hùng bảo đảm giao thông.

Giảng dạy xong, tôi trở lại Phân bộ lúc đó đã chuyển đến nơi mới trên đường đi Nam Đàn để chuẩn bị ra về. Anh Tư bảo tôi nên nán lại vài ngày chờ đến 24 - 12 thì cùng ra Bắc vì theo thông lệ địch ngừng ném bom từ lễ Nô-en đến đầu năm mới! Từ cơ quan Bộ ra Vinh thì thấy đường vào Phân bộ lúc tôi đến còn nguyên vẹn, lúc trở ra thì đã tan hoang phải đi đường tránh. Nhìn cảnh đường tan hoang, những hố bom rộng sâu hoắm, những tảng đất to tướng bị hất lên, nghĩ rằng chẳng may gặp cảnh này khó mà nguyên vẹn!

Chúng tôi tới ga Vinh vào sẩm tối. Quang cảnh sân ga nhộn nhịp khác thường để chuẩn bị vận chuyển tranh thủ những ngày ngừng bắn. Mang giấy giới thiệu của Phân bộ tìm trưởng ga, rồi trưởng tầu, chúng tôi được lên chuyến tầu rỗng đầu tiên ra Bắc chiều tối hôm đó. Đoàn tầu chúng tôi thực tế là đoàn goòng 10 tấn, mà chính trường Giao thông đã tham gia thiết kế. Goòng chuyên dụng để chở hàng trên tuyến vào Nam, cấu tạo đơn giản để dễ ngụy trang và cũng dễ bốc ra sơ tán khỏi đường sắt. Đoàn tầu trở ra không có hàng, trên goòng chỉ có một đống to tướng dây thừng và vải bạt. Tốt quá, chúng tôi chọn một goòng, thu dọn chỗ để xe đạp và chỗ ngủ, yên trí sẽ qua một đêm yên lành. Đến tối tầu chuyển bánh, lúc đó chúng tôi mới biết cái goòng 10 tấn nó thế nào. Không có hàng nó xóc kinh khủng và kêu váng tai nhức óc!  Đành chịu thôi vì nó để chở hàng, đâu phải để chở người. Tầu cứ thế chạy băng băng trong đêm tối mù mịt. Chúng tôi ở riêng một goòng không còn liên hệ được với ai, nằm trên cái goòng đáng sợ này cũng đành phó thác số phận mình cho con tầu. Thế rồi chúng tôi cũng ngủ thiếp đi. Mờ sáng đến ga Thanh Hóa. Xuống tầu chúng tôi được trưởng tầu cho biết máy bay Mỹ vẫn ném bom các ga mà tầu đi qua cho đến nửa đêm mới thôi. Vì tầu chạy ồn quá chúng tôi không nghe thấy gì và cũng chẳng nhìn thấy gì!

Đến Thanh Hóa chúng tôi được chuyển sang tầu hàng có toa hẳn hoi để tiếp tục hành trình. Không còn e sợ bom đạn gì nữa, con tầu từ từ qua cầu Hàm Rồng vào ban ngày và tôi tha hồ mà ngắm nhìn. Ôi, cái cầu mới mấy năm trước mình có đến tham gia lao động xây dựng đẹp đẽ bây giờ nó mới thảm hại làm sao! Hàn vá, thanh dọc thanh ngang lung tung, không còn thấy một quy tắc cấu tạo kết cấu nào nữa! Cầu rên nghiến kẽo kẹt đáng sợ khi tầu lăn qua. Đến buổi trưa chúng tôi đến Ninh Bình. Bỏ đường sắt chúng tôi theo quốc lộ 1 đạp xe về Phủ Lý. Quang cảnh vận tải về phía Nam trong ngày ngừng bắn thật ngoạn mục. Trên đường xe vào xe ra tấp nập, xe vào đầy hàng, xe ra trống rỗng. Vận tải trên quốc lộ 1 những ngày ngừng bắn “vui như hội”. Không biết có lệnh gì không, chỉ biết hai bên đường người ta bầy lên bàn các loại bánh, hoa quả để phục vụ các đối tượng vận tải, đói cứ việc xuống xe lấy ăn tự do để có sức đi tiếp, đi nhanh vào phía Nam.         

Đến Phủ Lý chúng tôi lại được đi nhờ xe về Hà Nội trong không khí yên bình không phải lo bom đạn. Có thể nói chuyến đi dạy tại chức ở nơi tuyến lửa của tôi kết thúc tốt đẹp. Đi vào, đi ra nhanh chóng mức kỷ lục, nói chung là may mắn, yên lành. Được biết ngoài tổ tôi, nhiều tổ khác cũng cử thày giáo vào tuyến lửa giảng bài, có thày may mắn không gặp bom đạn, cũng có thày không may gặp bom ở bến đò cầu Giát,… Chuyện giảng dạy thời chiến có những nét đặc sắc như vậy: thầy giáo cũng phải xông pha nơi bom đạn để làm nhiệm vụ. Phải chăng đấy cũng là một đóng góp nho nhỏ của các thầy cô giáo làm nên danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang của trường ĐH Giao thông vận tải? 

GS.TS Vũ Đình Lai


[1] Vũ Đình Lai, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Sức bền vật liệu, khoa Công trình, trường ĐH Giao thông vận tải.

 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: