28/11/2019 2:03:02 CH - Tìm về di sản của cha

21/11/2019 9:05:31 CH - Bật mí sự kiện năm 1951

20/11/2019 9:33:12 SA - Đường vào tuyến lửa

Một chuyến “thâm nhập thực tế” của thầy, trò trường Đại học Thủy lợi
Cập nhật lúc: 17:11, Thứ Hai, 18/11/2019 (GMT+7)

Trong không khí kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường Đại học Thủy lợi, kỷ niệm khó quên về những chuyến đi thâm nhập thực tế của thầy và trò, cách đây gần 30 năm, lại trở về trong tôi - PGS. TS Phạm Ngọc Hải xúc động chia sẻ.

Trong những năm 90 của thế kỷ trước, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới một cách mạnh mẽ, Bộ Thủy lợi[1]  đã giao cho Nhà trường thực hiện nhiều dự án thủy lợi. Một trong số đó là dự án “Quy hoạch hệ thống tưới tiêu và cấp nước sinh hoạt cho hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái”. Dự án này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn: giúp tìm nguồn nước, bố trí hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp và hệ thống cấp nước sinh hoạt giúp đồng bào dân tộc thiểu số định canh định cư, giảm tình trạng du canh du cư và tàn phá rừng đầu nguồn đang là vấn nạn lúc bấy giờ. Khoa Quy hoạch và quản lý hệ thống công trình (nay là khoa Kỹ thuật tài nguyên nước) được Nhà trường giao cho thực hiện nhiệm vụ này.

 
 PGS.TS Phạm Ngọc Hải - người lính tinh nhuệ của khoa Thủy nông
(nay là khoa Kỹ thuật tài nguyên nước, trường ĐH Thủy lợi)

Nhớ lại, một trong những chuyến đi tìm hiểu, khảo sát  ở hai tỉnh có nhiều kỷ niệm khó quên, đó là chuyến đi thực địa “Thanh Kim – Nậm Sài” thuộc huyện Sapa của tỉnh Lào Cai, kéo dài bảy ngày. Sở Thủy lợi Lào Cai cử anh Mai cán bộ của Sở cùng đi với đoàn khảo sát để giúp liên hệ và dẫn đường. Xuất phát từ thị trấn Sapa đi tới bản Hồ, đường mòn độc đạo chỉ có thể đi bộ. Con đường để lại nhiều nốt chân trâu bò, ngựa, đến mức tạo thành bậc trên mặt đường, các phương tiện như xe đạp, xe máy đều không thể đi được - lại thêm một khái niệm mới về đường “sống trâu”. Mọi người đều phải đeo “ba lô cóc” mang theo quần áo, thức ăn dự phòng, nước uống cùng sổ sách, tài liệu và một số thiết bị khảo sát đơn giản về chất lượng nước. Xuất phát từ sớm mà gần tối đoàn mới tới bản Hồ, một bản của người Tày. Dân sống ở nhà sàn, sinh hoạt ăn ở, nấu nướng đều ở trên sàn, nhưng rất ngăn nắp, sạch sẽ và cũng rất văn minh. Đoàn nhờ nấu ăn và ngủ nghỉ, dân tiếp đón rất nhiệt tình. Sớm hôm sau Đoàn lại tiếp tục lên đường tới Nậm Sài. Vẫn là đường mòn theo sườn đồi, có khi đi theo thềm suối ngược lên thượng nguồn; có khi vượt qua một cầu treo làm bằng giây mây, bắc qua khe suối sâu hun hút, nước suối trong vắt nhìn thấy cá bơi và những viên sỏi đủ màu sắc ở đáy suối. Qua cầu, Đoàn ngồi nghỉ dưới bóng cây bên suối, gặp mấy cô gái người Tày trẻ trung, xinh xắn đi rừng về, rất hồn nhiên, thấy chúng tôi có máy ảnh cứ đòi chụp ảnh chung với Đoàn. Đúng như Nguyễn Du đã tả trong Truyện Kiều:

“Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”

Ngày ấy, chúng tôi còn trẻ, trước khung cảnh rất đỗi nên thơ, mọi người đều cảm thấy phấn chấn quên cả mệt mỏi, lại tiếp tục lên đường. Gần sẩm tối mới tới Nậm Sài – một bản của người Xá Phó[2]. Dân ở rải rác trên các sườn đồi. Cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, địa phương chưa có hệ thống công trình thủy lợi nào. Tìm đến nhà dân, người lớn đi làm vắng, gặp mấy cháu nhỏ, thấy người lạ, chúng tìm cách trốn tránh không tiếp xúc, cũng vì các cháu không biết nói tiếng Kinh. Chúng tôi tìm đến nhà chị trưởng bản, chị là người duy nhất thạo tiếng Kinh, nhưng mấy ngày nay đi bắt “lâm tặc” khai thác gỗ Pơ mu, nghe nói chiều tối nay mới về. Tối mịt gặp chồng chị nhưng anh cũng không thạo tiếng Kinh, nói chuyện câu được câu không. Rất may, 9 giờ tối thì chị trưởng bản về tới nhà, chị vui vẻ đón tiếp và cùng chồng chuẩn bị cơm nước cho đoàn. Bữa cơm tối không có gì ngoài món thịt ngựa để gác bếp đã lâu ngày và ít rau khoai lang luộc mà chập tối, khi đợi chủ nhà, chúng tôi hái ở vạt khoai mọc hoang trên sườn đồi. Gạo, thóc cũng thiếu thốn nhưng rượu Sán Lùng (rượu nấu trực tiếp từ thóc nếp) thì rất sẵn, đựng vào chum lớn. Uống rượu bằng bát, chúng tôi vừa ăn uống vừa trao đổi công việc của ngày hôm sau. Thịt ngựa gác bếp lâu ngày đã nặng mùi, rất khó ăn – họ chỉ dành tiếp khách quý. Khi đưa vào miệng do phản xạ tự nhiên chỉ muốn nôn ra, phải cố ngậm miệng rồi uống rượu để nuốt trôi. Nhìn xuống mâm, đĩa rau khoai đã hết, mấy sinh viên đang ngắc ngứ muốn nôn ọe, tôi ra hiệu cho mấy bạn phải kín đáo để giữ gìn quan hệ.

Bữa “liên hoan” đến gần 12 giờ đêm mới kết thúc. Rượu ngấm, lại vừa qua một chuyến đi xa, người rất mệt muốn ngủ, vợ chồng con cái chủ nhà cũng đã rút vào một gian nhà được ngăn ra bởi liếp nứa để ngủ. Anh Mai (người của Sở Thủy lợi) chỉ cho chúng tôi một khoảng trống ngay cạnh bếp đun, có mấy mảnh bao tải cũ lấm đầy tro bụi nói: Đoàn ngủ chỗ này. Nhà của người Phù Lá là nhà đất, ngay sát vách là chuồng gà, chuồng lợn. Mệt quá, chúng tôi đều chìm vào giấc ngủ. Từ rất sớm tiếng lục đục, tiếng gà, lợn ngay bên cạnh đã làm chúng tôi tỉnh giấc, người ngứa ran, nổi lên những nốt do bọ chó đốt. Sau này, khi chúng tôi về tới nhà mới phát hiện nhiều nốt cắn của ruồi vàng và bọ chó, phải dùng nhiều loại thuốc bôi và uống mãi vẫn không khỏi. Sau đó, đợt đi công tác ở Tây Nguyên được anh bạn cùng học thời đại học để lại cho chiếc mật gấu rừng, tôi bôi thử thấy hết ngứa và khỏi hẳn.

Ở Nậm Sài, ngày hôm sau, Đoàn cùng cán bộ địa phương lặn lội lên tận thượng nguồn của con suối, tìm được vị trí xây dựng đập dâng và vạch tuyến kênh đưa nước dẫn về bản. Bà con trong bản đi theo rất đông, mọi người đều phấn khởi vì lần đầu tiên gặp những người mang theo kế hoạch xây dựng hệ thống cấp nước cho họ. Rất gian khổ vất vả, nhưng nhìn thấy những nụ cười và ánh mắt hi vọng của bà con, thầy trò chúng tôi cũng bớt đi cảm giác mệt nhọc và có niềm vui nho nhỏ.

Hoàn thành công việc ở Nậm Sài, Đoàn quay ra bằng một đường khác để tới xã Thanh Kim. Con đường tới Thanh Kim cũng khá khó khăn, phải leo qua một dốc dài, dân địa phương gọi là dốc “Năm quai” vì phải đi vòng qua 5 quả đồi nằm kề sát nhau để lên đỉnh dãy núi, là ranh giới giữa huyện Sapa và huyện Than Uyên. Đi theo đường phân thủy, hai bên đường là vực sâu hun hút, nhưng đường bằng dễ đi, gió mát lồng lộng. Tới chiều tối cùng ngày mới tới được xã Thanh Kim. Đây là xã người dân tộc Dao sinh sống, họ ở trong những ngôi nhà đất nằm rải rác trên các sườn đồi, nhìn tưởng rất gần nhau nhưng leo mãi mới tới nơi. Đoàn được ông Chủ tịch xã đón tiếp và chiêu đãi bữa cơm tối rất thịnh soạn, có thịt gà và rau cải nương. Dân ở đây sống theo kiểu tự cung, tự cấp, chưa có thói quen mua bán, trao đổi, có tiền cũng không mua được gì, nhưng nếu cần thì dân cho cả gà, vịt, gạo nếp nương rất ngon.

Thanh Kim chỉ còn cách thị trấn Sapa gần 20km, hệ thống thủy lợi đã được xây dựng, nhưng từ khi hoàn thành cả công trình đầu mối và hệ thống kênh dẫn nước đều có vấn đề về mặt kỹ thuật, không phát huy được tác dụng. Nghiên cứu thực địa ở đây cho thấy, những dòng suối nhỏ ở chân dãy Hoàng Liên Sơn có độ dốc lớn, thường xuyên xảy ra lũ ống, lũ đá. Công trình đầu mối là đập dâng chắn ngang suối, nếu chọn vị trí xây dựng không tốt, chỉ một thời gian ngắn sau khi xây dựng sẽ bị các con lũ đưa đất đá về bồi lấp đầy thân đập kể cả cống lấy nước, làm mất hoàn toàn tác dụng. Đoàn chúng tôi đã phải lặn lội tìm một vị trí xây dựng khác để đặt công trình đầu mối, nhằm tránh được sự bồi lấp do lũ. Với hệ thống kênh đã xây trước đây, hiện tượng mất nước xảy ra nghiêm trọng thậm chí không còn nước chảy về cuối kênh. Do đáy kênh xuất hiện các hố lớn với đường kính 20-30cm, nước trên kênh theo các hố này thất thoát xuống đất. Những hố này có thể là hang động vật hoặc các tổ mối, nhưng động vật không thể chỉ đào ở đáy kênh, hơn nữa những hố mất nước chỉ xuất hiện ở đoạn kênh men theo những sườn đồi thoải, cây cối mọc khá tốt. Những sườn dốc này có thể do những trận lũ quét, mang đất đá từ sườn cao xô xuống tạo thành. Nền địa chất có nhiều lỗ hổng là khe kẽ của những tảng đá “mồ côi” xen với đất. Vì vậy, khi kênh chuyển nước, nước trên kênh sẽ thường xuyên ngấm rò rỉ tạo ra những lỗ hổng mất nước ở đáy kênh. Sau khi phân tích, bàn bạc kỹ lưỡng, chúng tôi đề xuất phương án bọc lót đáy kênh những đoạn chảy qua những nền địa chất như vậy. Những đoạn kênh vượt qua khe nước từ sườn dốc sẽ làm ống dẫn kín bằng bê tông.

Sở Thủy lợi Lào Cai đã chấp nhận và tiến hành đại tu hệ thống thủy lợi Thanh Kim theo những phương án của Đoàn: xây dựng đập đầu mối tại vị trí mới và bọc lót những đoạn kênh thủng bằng xi măng. Sau khi hoàn thành, hệ thống hoạt động tốt và phát huy hiệu quả, nhân dân địa phương rất phấn khởi. Vì thời gian thực hiện toàn bộ dự án kéo dài gần 3 năm, chúng tôi có dịp được chứng kiến niềm vui ấy. Kết thúc chuyến công tác Thanh Kim – Nậm Sài, Đoàn về nghỉ tại thị trấn Sapa thì trời đổ mưa lớn. Thật phúc lớn cho chúng tôi, vì theo cán bộ địa phương, mưa lớn thường gây lũ ống, lũ quét ở dọc con đường mà chúng tôi đã đi qua.

Đây là một trong rất nhiều chuyến đi thực địa để thực hiện dự án “Quy hoạch tưới tiêu và cấp nước sinh hoạt cho hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái”. Thầy trò đã có dịp tiếp xúc và giải quyết những vấn đề kỹ thuật mà thực tế đặt ra, qua đó cả thầy và trò đều có những bước trưởng thành theo cách riêng của mình.

Trong đó phải kể đến sinh viên Lê Trung Tuân, một trong những sinh viên khóa 32N đã làm đồ án tốt nghiệp ra trường với đề tài thực tế này. Đồ án tốt nghiệp của Lê Trung Tuân đã đạt Giải nhì - Giải Loa Thành - giải thưởng giành cho những đồ án tốt nghiệp xuất sắc. Lễ trao giải được tổ chức long trọng tại Văn Miếu. Giáo sư, tiến sĩ Trịnh Trọng Hàn - trường Đại học Xây dựng nhận xét: “Đồ án của anh Tuân có hàm lượng học thuật cao, có giá trị thực tiễn lớn, chỉ tiếc đồ án viết dài quá, nếu viết ngắn gọn và cô đọng hơn chắc chắn đạt giải nhất”. Lúc đó tôi mới biết GS.TS Trịnh Trọng Hàn trong Ban giám khảo và tôi cảm thấy tự hào khi được nghe những đánh giá tốt về sinh viên mình đã hướng dẫn.

Anh Lê Trung Tuân ra trường về công tác tại Viện nghiên cứu Thủy lợi. Sau  khi bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ tại Nhật Bản, anh về làm cán bộ quản lý ở Viện Tưới tiêu, rồi được bổ nhiệm làm Vụ phó vụ Kỹ thuật - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chắc chắn anh Lê Trung Tuân không thể nào quên những ngày đi thực địa ở Lào Cai và Yên Bái.

Hàng chục năm sau chuyến đi thực địa đó, thầy trò chúng tôi vẫn nhận được lời thăm hỏi của đồng bào ở vùng sâu, vùng xa của Lào Cai, qua những đoàn cán bộ  lên Lào Cai công tác. Tôi thật sự cảm động và thấy ấm lòng khi người dân còn nhớ đến: “Thầy trò thầy Hải ở trường Đại học Thủy lợi đã từng lên đây giúp chúng tôi…”.

Những Mường Than, Mường Lò; những Nậm Sài, Nậm Có; những bản Hồ, bản Qua; những Thanh Kim, Quang Kim; những Cốc Ly, Cốc San, Cốc Pục; những Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Bàn, Simacai, Bắc Hà, Bát Sát... Những tên bản làng, xã, huyện của hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái vẫn mãi mãi âm vang trong kí ức rất thân thương của mỗi chúng tôi. Đã rất nhiều năm qua, thầy trò khoa “Quy hoạch và quản lý hệ thống công trình” nay là khoa “Kỹ thuật tài nguyên nước” luôn coi việc “Lý thuyết gắn liền với thực tế sản xuất” làm phương châm đào tạo các chuyên ngành. Những vấn đề kỹ thuật, khi qua lăng kính phong phú của thực tế kiểm chứng, sẽ là những ví dụ sinh động minh họa cho bài giảng của các thầy cô ở trên lớp. Trưởng thành qua môi trường thực tiễn sản xuất, các thầy cô giáo của Khoa khi làm việc với các đối tác ở trong nước cũng như quốc tế sẽ tự tin và hiệu quả hơn. Có cơ hội áp dụng những kiến thức khoa học mới, tiên tiến vào giải quyết những vấn đề thực tế đặt ra, thầy trò chúng tôi đã góp phần nhỏ bé nâng cao đời sống của nhân dân địa phương và càng thêm yêu ngành, yêu nghề. Đồng thời, qua những chuyến đi thực tế, thầy trò cũng được học hỏi thêm nhiều. Tôi không thể quên một kỷ niệm. Lần ấy chúng tôi đến làm việc tại xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Đây là vùng của dân Nam Hà (Hà Nam và Nam Định) lên khai hoang. Dân định cư dọc theo suối ngược lên tận thượng nguồn, để bám trụ sinh sống, họ xây dựng rất nhiều ao núi nhỏ ở những vị trí thích hợp dọc theo hai bên suối. Những công trình rất đơn giản bằng gỗ, tre, nứa, vừa có tác dụng ngăn nước và lấy nước vào ao vừa có khả năng phòng chống lũ phá hoại. Những ao núi này chẳng những tạo điều kiện cho đồng bào chăn nuôi gia cầm, gia súc, chăn nuôi cá mà còn giữ ẩm, tăng thảm phủ, tăng khả năng điều tiết dòng chảy của lưu vực. Theo bà con kể lại, khi họ mới lên, về mùa khô các suối đều cạn kiệt, không có nước. Nhưng hiện tại những dòng suối này đã có dòng chảy quanh năm. Đúng là những bài học vô cùng quý giá cho thầy trò chúng tôi từ những kinh nghiệm và việc làm thực tế của người dân địa phương. Nhân câu chuyện kể về chuyến đi thực tế, chúng tôi cũng bày tỏ sự mong muốn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cơ quan chức năng ưu tiên dành nhiều dự án thực tế về thủy lợi cho Nhà trường, nhằm tạo điều kiện cho thầy trò trong trường thâm nhập thực tế, mang những kiến thức và thành tựu khoa học mới, giải quyết những vấn đề mà thực tế sản xuất yêu cầu. Đồng thời, tạo cơ hội cho thầy trò nâng cao kiến thức thực tế, có công việc làm để tăng thêm thu nhập, với mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng đào tạo, giúp Nhà trường không ngừng trưởng thành và phát triển.

PGS.TS Phạm Ngọc Hải
Nguyên Chủ nhiệm khoa Kỹ thuật tài nguyên nước, trường ĐH Thủy lợi

 



[1] Từ ngày 03/10 – 28/10/1995, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá IX thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Bộ Thuỷ lợi.

[2] Xá Phó là tên gọi khác của người Phù Lá là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang.


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: