19/10/2019 2:41:46 CH - Ký ức yêu thương

18/10/2019 10:29:44 SA - Duyên với quân y

14/10/2019 11:51:21 SA - Cảm hứng từ một trưng bày

Bản luận án đáng nhớ
Cập nhật lúc: 15:17, Thứ Năm, 01/08/2019 (GMT+7)

Quá trình làm luận án phó tiến sĩ của NCS Trương Quang Học ở Liên Xô những năm 1970-1974 đã giúp ông trưởng thành trong nghiên cứu khoa học. Chúng tôi cảm nhận được sự hào sảng, say sưa khi ông kể về quá trình thực hiện bản luận án mang tính phản biện đó.

Trương Quang Học là sinh viên khóa 7 của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1962-1967). Những thành viên trong khóa vẫn thường đùa nhau là “khóa bậy” bởi sự láu cá, nghịch ngợm nhưng cũng rất thông minh, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu của sinh viên. Sau khi tốt nghiệp, Trương Quang Học được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy. Năm 1970, ông nhận được thông báo chuẩn bị đi học ở nước ngoài. Lúc ấy, thầy Phạm Bình Quyền khuyên học trò nên đi Tiệp Khắc, nhưng ông được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp phân công đi học ở Liên Xô.

GS.TSKH Trương Quang Học

Những người sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh đợt ấy hầu hết đã học đại học ở Liên Xô, hoặc đã được học ngoại ngữ một năm. Chỉ có ba người chưa được học tiếng Nga là Trương Quang Học và một cán bộ ở khoa Toán, một ở khoa Hóa. Ông kể: “Chúng tôi lo lắng phàn nàn với Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp là không được học ngoại ngữ, làm sao đi nghiên cứu được. Chúng tôi được động viên rằng là người của trường Đại học Tổng hợp thì không cần quá lo lắng. Nhưng tôi biết, tiếng Nga là thứ tiếng khó, ngữ pháp không hề dễ dàng, nhất là giao tiếp”.

Về hướng nghiên cứu, ông Trương Quang Học vẫn tiếp tục hướng nghiên cứu từ thời sinh viên đại học - về côn trùng y học. Khi sang Liên Xô, NCS Trương Quang Học nhận thấy khó khăn lớn nhất là tiếng Nga, vượt qua được rào cản ấy mới dám nghĩ đến việc nghiên cứu có thành công hay không? Ông được phân công vào học tại trường Đại học Tổng hợp quốc gia Moskva, mang tên Lomonosov. Tại đây, ba NCS Việt Nam chưa từng học tiếng Nga được sắp xếp học chung một lớp. Ông kể: “Gặp bà Lina, tổ trưởng bộ môn tiếng Nga, chúng tôi không hiểu bà nói gì, cứ toét miệng cười. Chúng tôi học từ đầu nên mất nhiều thời gian, nhưng học được ngay cách phát âm từ giáo viên người Nga”. Cứ buổi sáng nhóm nghiên cứu sinh Việt Nam học phát âm, ngữ pháp, giao tiếp, nghe hiểu; buổi chiều làm bài tập. Bà giáo Lina yêu cầu giáo viên phải đọc truyện tiếng Nga, rồi dẫn chúng tôi đi bảo tàng và nhiều nơi khác để tăng cường khả năng giao tiếp. Ông nhớ lại: “Chúng tôi lo lắng rằng có 4 năm mà cứ học ngoại ngữ thế này thì thời gian đâu để làm luận án. Đã có ý kiến trao đổi để giảm bớt giờ học tiếng Nga. Bà giáo dạy tiếng cho chúng tôi ngồi khóc, nói rằng: “Tao cởi mở với chúng mày[1] vì đối với khoa học xã hội thì ngôn ngữ chính là kiến thức. Nếu ngôn ngữ không tốt thì không thể có kiến thức tốt được”. Bà giáo muốn cố gắng đến mức cao nhất để giảng dạy tiếng Nga cho chúng tôi. Trong quá trình học tiếng Nga, giáo viên yêu cầu các nghiên cứu sinh đọc nhiều truyện tiếng Nga, sau khi đọc xong thì tóm tắt nội dung và trao đổi. Lúc đầu, ông Học bực bội vì đọc mãi không xong một trang truyện. Nhưng khi đã vượt qua sự bỡ ngỡ ban đầu thì càng đọc càng thấy thích và thường đọc một mạch. Những truyện như: Người giáo viên đầu tiên, Tuyết, Bình minh mưa… ông không bao giờ quên.

Hoàn thành chương trình tiếng Nga, ông Học bắt đầu thực hiện luận án tại bộ môn Côn trùng học, khoa Sinh học. Tại đây, ông được gặp các giáo sư đầu ngành về côn trùng học, nhưng nghiên cứu về côn trùng y học chỉ có PGS Lange A. B. - chuyên gia về phân loại. Nghiên cứu sinh Quang Học có nguyện vọng nghiên cứu sâu về muỗi và đề đạt muốn chuyển sang Viện Y học Nhiệt đới Moskva để thực hiện đề tài, cụ thể là dưới sự hướng dẫn của nữ GS Destinova. Sau này, với kết quả ông nghiên cứu, bà là người có nhiều điểm về học thuật không đồng quan điểm với ông.

Tuy nhiên, lãnh đạo bộ môn cho biết nếu muốn nghiên cứu về muỗi thì họ sẽ để ông thực hiện, không cần chuyển trường. Ông Học kể về nỗi băn khoăn khi thực hiện đề tài luận án: “Thầy giáo hướng dẫn không chuyên về muỗi, ông chỉ chuyên về phân loại học. May là thầy giáo quen thân một nữ giáo sư ở đơn vị khác nên ông hỏi được nên định hướng cho học trò nghiên cứu cụ thể về vấn đề gì?”.Sau khi tham khảo ý kiến đồng nghiệp, PGS Lange giao cho học trò Quang Học đề tài Xác định tuổi sinh lý của các véc tơ truyền bệnh. Đây là đề tài nghiên cứu về một vấn đề còn có ý kiến trong phương pháp do GS Destinova khởi xướng ở Viện Y học nhiệt đới.

Giáo sư Trương Quang Học cho biết, muỗi là một nhóm được nghiên cứu trong chuyên ngành côn trùng y học. Thời kỳ đó, dịch sốt rét mỗi năm khiến vài triệu người chết trên thế giới. Muốn đề xuất biện pháp diệt côn trùng, đánh giá biện pháp diệt có hiệu quả hay không chỉ có một giải pháp là xác định tuổi sinh lý của côn trùng. Thời điểm ấy đã có nhiều phương pháp xác định tuổi sinh lý của côn trùng, nhưng phương pháp do trường phái Liên Xô đề xuất, cụ thể do GS Destinova khởi xướng và kiện toàn phương pháp nghiên cứu ấy đã được toàn thế giới công nhận. Giáo sư Destinova là chuyên gia tư vấn của tổ chức Y tế thế giới, bà được mời đến London (Anh), Geneva (Thụy Sĩ) để giảng về phương pháp này. Tổ chức Y tế thế giới đã xuất bản cuốn sách: Phương pháp xác định tuổi sinh lý của muỗi hút máu của GS Destinova. Tuy nhiên, quá trình ứng dụng phương pháp này, một số người, đặc biệt là các chuyên gia Nhật Bản cho rằng khi thực nghiệm xác định tuổi sinh lý của muỗi hút máu thì kết quả lệch so với trên lý thuyết, không rõ nguyên nhân do đâu. Đó là lý do ông Học được giao thực hiện đề tài này để đi tìm nguyên nhân của vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu phân vân, tìm hiểu. Giáo sư Trương Quang Học nhấn mạnh: “Chỉ làm hoàn thiện phương pháp này thì đã ý nghĩa lắm rồi”. Ông Học cho biết thêm: Trong quá trình làm đề tài, tôi không một lần được tiếp xúc với Viện Y học nhiệt đới và bà Destinova.

Để thực hiện luận án, NCS Quang Học phải làm rất nhiều thực nghiệm. Ông phải nuôi muỗi ở trong phòng thí nghiệm, xác định thực nghiệm theo tuổi của muỗi bằng nhiều phương pháp, rồi kiểm tra lại hiện trạng. Muốn cho muỗi sinh sản, phát triển bình thường thì phải cho nó hút đủ máu. Nếu muỗi chỉ hút máu từ chuột, gà, động vật khác thì chưa đủ. Khi cần thiết ông Học phải cắn răng chịu đựng để tay vào lồng nhốt muỗi cho chúng đốt. Mỗi lồng muỗi như vậy có khoảng 50 con. Ông phân trần: “Vì sĩ diện mà. Khi đi học, tôi có tâm lý không thua ai, bấy giờ cũng vậy. Các bạn làm nghiên cứu sinh ở đó, phân tích đất, mang mẫu về, tìm ra số liệu. Còn tôi nghiên cứu thì chưa ra kết quả gì. Làm hết lô nọ đến lô kia, hai năm mà không ra được một kết luận nào. Nuôi muỗi, muỗi đẻ lần 1, 2, 3, dùng phương pháp của bà Destinova để xác định mà không ra được kết quả. Tức là không trả lời được phương pháp ấy còn hổng ở đâu. Khi ra kết quả không đúng thì tôi nghĩ không biết là do phương pháp ấy không đúng hay do kỹ thuật của tôi không đúng”.

Giáo sư Trương Quang Học cho biết, khi muỗi hút đủ thì 4 ngày sau tiêu hết máu và đẻ trứng. Độ 2 ngày tiếp theo khi muỗi đẻ trứng, ông mang con muỗi ấy ra xác định theo phương pháp của GS Destinova. Cứ 7 ngày, ông thực hiện một lần và tiến hành mổ hàng ngàn con muỗi. Cứ như vậy, ông cặm cụi ở phòng thí nghiệm, quên ngày quên tháng, không biết đến thứ bảy và chủ nhật. Trông coi phòng thí nghiệm ở bộ môn là một cán bộ nữ, bà thường đến sớm nhất và mở cửa phòng thí nghiệm. Nhưng từ khi ông Học tập trung làm việc ở phòng thí nghiệm thì bà luôn là người đến sau ông Học. Ông kể: “Sáng nào, tôi cũng là người đến đầu tiên. Khi đến phòng thí nghiệm, thấy tôi đã chờ ở đấy, bà quát vui: “Học, làm sao mà mày đến sớm như thế này, ngày nào mày cũng như con gà trống, chưa ai dậy mà mày đã dậy”. Nhưng biết làm sao vì cả một quãng thời gian dài thực nghiệm, mổ hàng ngàn con muỗi mà không thể ra được kết quả gì. Lúc ấy ông rất lo lắng, thậm chí có phần sợ hãi, nghĩ về việc sẽ thất bại không hoàn thành luận án.

Tiến hành làm rất nhiều thực nghiệm mà không chứng minh được điều gì, ông Học tìm gặp thầy giáo hướng dẫn để trao đổi nhưng không gặp được thầy. Ông giải thích: “Tâm lý của thầy là khi học trò hỏi thì phải giải thích nhưng thầy không chuyên về vấn đề ấy, lại là thực nghiệm nữa nên tránh mặt”. Ông có phần giận thầy giáo vì ông cảm thấy như bỏ rơi. Ông đã nghĩ tới sự thất bại. Đúng lúc buồn nhất, thất vọng nhất, ông bỏ mặc việc làm thực nghiệm và mang những bức ảnh chụp muỗi ra xem để giải khuây. Trong hàng ngàn bức ảnh như thế, có một chiếc ảnh xấu nhất, rất mờ. Lúc ấy trong đầu ông chợt lóe lên một ý nghĩ: “Chết rồi! Trong mọi thực nghiệm đã tiến hành có thể có chỗ sai lệch như bức ảnh kém chất lượng ấy? Có thể tìm ra phương pháp này không đúng ở chỗ nào. Lúc ấy tôi lao vào phòng thầy hướng dẫn, và nói với thầy giáo rằng trong phương pháp của GS Destinova có thể có vấn đề”.

Khi NCS Trương Quang Học đặt vấn đề táo bạo như vậy, thì thầy hướng dẫn đã giúp trò mọi phương tiện để chứng minh kết quả nghiên cứu của mình. Ông Học giải thích: “Thầy giáo tôi cũng nghĩ rằng phương pháp đó có những điểm không đúng, nhưng nó là cái gì? thì chưa tìm ra, nên không ai dám nói rằng phương pháp đó không đúng, mà người ta chỉ cho rằng quá trình thực hiện không đúng nên nó dẫn đến kết quả như vậy”.

Nghiên cứu sinh Trương Quang Học tiếp tục nghiên cứu, chứng minh theo hướng của ông, thì ra số liệu để chứng minh số liệu trong phương pháp của GS Destinova không đúng. Nhưng ông Học chỉ là một NCS, kết quả của ông liệu có được các nhà khoa học chấp nhận không, bởi tên tuổi của GS Destinova và Viện Y học nhiệt đới đã được thế giới biết đến. Thầy giáo hướng dẫn của ông nói rằng, nếu ông muốn bảo vệ thì không có cách nào khác là phải có sự đồng ý của Viện Y học nhiệt đới. Sau đó PGS Lange liên hệ với Viện Y học nhiệt đới, nói rằng NCS Trương Quang Học phát hiện được một số vấn đề rất mới, muốn tổ chức một semina ở Viện để trình bày những điểm mới này.

Nhớ lại buổi semina đó, ông Học kể: “Đó là semina cả đời tôi không bao giờ lặp lại. Khi tôi sang bên Viện Y học nhiệt đới, người ta còn nhầm tưởng tôi là trẻ con. Hôm đó có rất nhiều người đến dự buổi semina. Họ giới thiệu rằng tôi sẽ nói một số kết quả mới thu được về đánh giá tuổi véc tơ. Trước khi trình bày, thầy giáo hướng dẫn dặn: “Cậu lên đó mà kính thưa ông nọ, ông kia, trình bày một loạt thì chẳng ai nghe đâu. Cậu hãy nói ngay rằng những kết quả của cậu không giống với kết quả của GS Destinova”. Theo sự gợi ý của thầy, tôi nói luôn như vậy và nó thực sự gây chú ý. Khi tôi trình bày xong thì cả hội trường ầm ầm, có lẽ chưa bao giờ mất trật tự như thế. Mọi người trao đổi với nhau, bàn tán rôm rả. Lúc nghỉ giải lao để thảo luận nhiều cán bộ trẻ đứng quanh tôi và nói rằng: “những cái chúng tôi làm đều giống cách của anh. Chỉ có cái khác là chúng tôi lại nghĩ rằng kỹ thuật của chúng tôi sai. Không ai dám nghĩ rằng số liệu của phương pháp này sai. Còn anh thì dám chứng minh rằng số liệu ở phương pháp này còn những điểm chưa đúng”. Sau giờ giải lao, có gần 30 câu hỏi chất vấn NCS Trương Quang Học về những kết quả mà ông thu được. Câu hỏi ấn tượng nhất mà ông nhận được là: “anh nghĩ thế nào về số liệu trong phương pháp của bà Destinova”. Ông trả lời: “tôi rất xin lỗi, tôi chỉ giải thích được số liệu của tôi làm còn số liệu của người khác thì tôi không giải thích được. Thế là hội trường im lặng”.

Sau câu trả lời ấy, thầy giáo hướng dẫn nói riêng với ông Học rằng: “Cậu nói như thế có nghĩa là bảo GS Destinova bịa, không phải số liệu khoa học. May là mọi người nghĩ rằng cậu nói tiếng Nga còn chưa tốt, còn người Nga mà nói như thế nghĩa là xúc phạm nhau”. Tất nhiên là tôi không có ý xúc phạm bà Destinova”. Buổi semina có sự tham gia của GS Destinova nhưng bà không tranh luận và không có ý kiến gì. Theo ông Học: “GS Destinova là người hiểu hơn ai hết. Mà tôi nghĩ rằng bà im lặng là đúng”.

Mặc dù trong mấy năm nghiên cứu thực nghiệm, ông Học mổ hàng ngàn con muỗi, chụp hàng ngàn bức ảnh nhưng đến khi bảo vệ luận án, ông chỉ trình bày hai sơ đồ. Một sơ đồ của GS Destinova, còn một sơ đồ là những kết quả nghiên cứu của ông. Kết quả của ông được làm thực nghiệm trên 3 con muỗi. Khi trình bày luận án, ông nhấn mạnh: “Những kết quả của chúng tôi không trùng với những kết quả này (của GS Destinova). Không ai hỏi tôi cả. Ông chồng bà Destinova hỏi một câu: “phương pháp của GS Destinov được cả thế giới áp dụng, hàng trăm nhà khoa học áp dụng. Còn của anh chỉ có ba con muỗi, làm sao anh nói được của anh đúng”. Không hiểu lúc ấy xuất thần thế nào, tôi nói: “Thưa ông, lý thuyết của tôi đúng với từng con muỗi. Đúng với từng con nghĩa là đúng với hàng vạn con. Mổ hàng vạn con mà một con không đúng thì làm sao đúng hết được”.

Nhiều năm đã trôi qua, sự tiến bộ của khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, nhưng đối với GS Trương Quang Học ký ức những năm tháng miệt mài nghiên cứu sẽ còn mãi trong ông. Ông không thể quên gương mặt rất vui của thầy giáo hướng dẫn, trước ngày trò bảo vệ luận án, đi đâu thầy cũng nói: “một tiêu chuẩn quốc tế bị thổi bay”. Ông Trương Quang Học đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ với 100% phiếu nhất trí thông qua của Hội đồng chấm luận án và bản luận án được đề nghị xuất bản, cùng với đề xuất để PTS Trương Quang Học tiếp tục làm luận án tiến sĩ.

Đã từng rơi vào hoàn cảnh hết sức khó khăn, tưởng chừng sẽ thất bại, không hoàn thành bản luận án phó tiến sĩ, nhưng NCS Trương Quang Học đã vượt qua nỗi sợ hãi thất bại ấy bằng sự dũng cảm, tâm huyết và bản lĩnh của một người đam mê khoa học. Câu chuyện về sự kiên trì, sự tận tụy trong khoa học của ông sẽ luôn là bài học để thế hệ sau suy ngẫm, cảm nhận.

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

__________________

[1] Ngôi xưng thân mật trong tiếng Nga.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: