15/11/2019 9:24:45 SA - Gửi trọn niềm tin

07/11/2019 10:01:09 SA - Niềm đam mê và nỗi trăn trở

Ký ức về một công trình nghiên cứu đầu tay
Cập nhật lúc: 15:04, Thứ Bảy, 29/06/2019 (GMT+7)

Trong chuyến công tác tại thành phố Thái Nguyên vào cuối tháng 3-2019, chúng tôi may mắn được PGS.TS Nguyễn Huy Quát, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Phương pháp dạy học Văn, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Việt Bắc (nay là Đại học Sư phạm Thái Nguyên), chia sẻ về một đề tài nghiên cứu, được thực hiện cách đây đã hơn hai thập kỷ.

Đầu năm 1987, nghiên cứu sinh Nguyễn Huy Quát về nước với tấm bằng phó tiến sĩ thuộc chuyên ngành phương pháp giảng dạy văn học, sau 4 năm miệt mài học tập ở Liên Xô. Chỉ hơn một năm sau, ông và đồng nghiệp Vũ Châu Quán được nhà trường giao thực hiện đề tài cấp trường Tìm hiểu thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từng là giảng viên môn Văn của trường đại học đóng trên địa bàn chiến khu Việt Bắc năm xưa, PTS Nguyễn Huy Quát mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề về văn hóa, văn học ở nơi đây, đặc biệt là thơ ca Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hai giai đoạn 1941-1945 và 1947-1954. Theo PGS Nguyễn Huy Quát: Vấn đề này đã có nhiều công trình, bài viết của các học giả trong nước công bố. Tuy vậy, những phân tích, nhận định, đánh giá thơ ca của Bác trong một số công trình nghiên cứu của các học giả vẫn còn những điểm chưa được thỏa đáng, do thiếu cứ liệu thuyết phục[1]. Một câu hỏi lớn được đặt ra khi triển khai nghiên cứu đề tài Tìm hiểu thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Dựa vào nguồn tài liệu nào để minh chứng những nhận định đã công bố là chính xác, tạo sức thuyết phục cao cho người đọc, nhất là những học sinh, sinh viên?

Phó Giáo sư Nguyễn Huy Quát dẫn ra một số ví dụ, mà nhóm nghiên cứu đã phát hiện trong quá trình thực hiện đề tài, ví dụ bài Lịch sử nước ta được Bác viết vào đầu năm 1942 khi Người đang hoạt động ở Pác Bó, Cao Bằng. Bài thơ lục bát với 210 câu và được kết thúc bằng bốn câu: Mai sau sự nghiêp hoàn thành/ Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng/ Dân ta xin nhớ chữ đồng/ Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh. Sau bài thơ là phần chú thích khá chi tiết của Bác với tiêu đề: Những năm quan trọng của Lịch sử Việt Nam, được thống kê theo thời gian từ 2879 trước Tây lịch đến năm 1945, gồm 30 mốc lịch sử, gắn với những niên đại cụ thể đáng ghi nhớ. Mốc cuối cùng trong chú thích Những năm quan trọng là: Việt Nam độc lập: 1945. Báo Việt Nam độc lập số 117 ra ngày 1-2-1942 đã từng đề dẫn mốc thời gian đặc biệt này. Thế nhưng, có bài nghiên cứu khi nhắc đến bài thơ này đã dẫn sai một số câu thơ. Theo nguyên bản là: Mai sau sự nghiệp hoàn thành thì dẫn sai lBốn lăm sự nghiệp hoàn thành. Ngay tên bài thơ, không hiểu vì lý do nào, cũng có nhà nghiên cứu dẫn sai: Lịch sử nước ta đổi thành Việt Nam lịch sử diễn ca, rồi còn tùy tiện thay câu: Kể năm hơn bốn nghìn năm thành Sử xanh hơn bốn nghìn năm. Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu mới thấy rõ “tài tiên tri” của Hồ Chí Minh về thời điểm Việt Nam độc lập – năm 1945, được thể hiện trong mục chú giải Những năm quan trọng của bài thơ, chứ không phải đoạn kết của bài thơ Lịch sử nước ta.

PGS.TS Nguyễn Huy Quát trong phòng làm việc tại nhà riêng,

 thành phố Thái Nguyên, 29-3-2019

Một ví dụ khác: câu thơ Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu/ Ấy tin thắng trận Liên khu báo về (bài “Báo tiệp” (Tin thắng trận), do Huy Cận dịch)[2] thì từ “chuông lầu” ở đây có người suy đoán là tiếng chuông điện thoại, người thì cho rằng tiếng kẻng ở chòi canh, vì ở chiến khu Việt Bắc không có chuông chùa hay chuông nhà thờ. Đó là chi tiết đã gây nên tranh luận, chưa được giải đáp. Hoặc những bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc (1947), Cảnh khuya (1947), Nguyên Tiêu (1948), Tặng Cụ Võ Liêm Sơn (1948), Thu dạ (1949), Thất cửu, Đối nguyệt (1953)... được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác trong hoàn cảnh nào, đó là một vấn đề nhóm nghiên cứu đã dầy công tìm hiểu, khám phá. Như PGS Nguyễn Huy Quát chia sẻ: Để thực hiện đề tài không dễ, bởi nhiều người vốn chỉ khen thơ Bác theo cảm tính mà có chỗ thiếu cơ sở thực tế, thiếu lô-gic, nên cũng thiếu tính khoa học. Từ góc độ của một người nghiên cứu văn học, tôi thấy cần có dẫn chứng cụ thể, dựa trên căn cứ thực tế, đáng tin cậy. Với suy nghĩ ấy, chúng tôi thấy cần đến gặp gỡ, hỏi chuyện một số vị lãnh đạo đã từng sống và làm việc bên Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc năm xưa để tìm hiểu hoàn cảnh ra đời và nội dung, ý nghĩa một số bài thơ còn có ý kiến khác nhau[3].

Việc đầu tiên là hai ông Nguyễn Huy Quát và Vũ Châu Quán xuống Hà Nội xin gặp ông Hồng Hà[4] khi đó là Chánh văn phòng Trung ương Đảng (qua giấy giới thiệu của Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Việt Bắc) để trình bày về mục đích, nội dung đề tài nghiên cứu và đề nghị được giới thiệu đến gặp một số vị lão thành cách mạng như Cố vấn Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, ông Hoàng Quốc Việt,  Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà thơ Tố Hữu, Huy Cận... nhưng bị từ chối. Nhờ sự giúp đỡ của ông Phạm Thế Duyệt – khi đó là Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, học trò cũ của thầy Vũ Châu Quán nên hai ông được giới thiệu tiếp xúc và làm việc với 9 vị lão thành cách mạng: nguyên Tổng Bí thư Trường Chinh, nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông Hoàng Quốc Việt[5], Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà thơ Tố Hữu[6], nhà thơ Huy Cận[7], ông Vũ Kỳ[8], luật sư Phan Anh[9], GS Văn Tân[10]. Trong mỗi buổi được tiếp xúc, trao đổi hỏi chuyện về Bác Hồ, về thơ ca Người sáng tác ở chiến khu Việt Bắc với các vị lãnh đạo, đã để lại những ấn tượng sâu sắc cho từng thành viên của đề tài nghiên cứu, trong đó có một vài kỷ niệm đặc biệt.

Sáng ngày 9-3-1988, hai ông Nguyễn Huy Quát và Vũ Châu Quán đến nhà riêng của ông Trường Chinh tại phố Nguyễn Cảnh Chân, Hà Nội. Khi hai người bước vào phòng khách thì đã thấy ông Trường Chinh đứng đón và dẫn sang phòng làm việc. Trước khi bắt đầu câu chuyện, ông Trường Chinh lấy cuốn Hồ Chí Minh – Thơ đặt lên bàn. Ông Vũ Châu Quán xúc động nói: Thưa đồng chí Cố vấn, thật là kỳ diệu khi chúng tôi - những cán bộ đang công tác ở Việt Bắc lại có được cuộc gặp gỡ và hỏi chuyện trực tiếp với đồng chí hôm nay. Tủm tỉm cười và tự tay rót nước mời khách, ông Trường Chinh nói: Chúng mình là cán bộ cả, đồng chí dùng chữ kỳ diệu hơi to tát đấy. Trước sự ân cần và cởi mở của vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, một người rất nghiêm túc và thận trọng khi làm việc, hai ông mạnh dạn đưa ra nhiều câu hỏi cần tìm hiểu về những bài thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác trong những năm kháng chiến chống Pháp. Những tác phẩm này đã được đưa vào chương trình, sách giáo khoa môn Văn ở phổ thông và đại học để giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức... cho thế hệ trẻ Việt Nam, nhất là con em các dân tộc ở Việt Bắc. Sau khi dẫn đọc một số câu tiêu biểu trong các bài: “Cảnh rừng Việt Bắc”, “Cảnh khuya”, “Báo tiệp”, “Nguyên tiêu”, “Tặng Bùi công”, “Tặng Võ công”, “Tư chiến sĩ”... của Bác Hồ, ông Nguyễn Huy Quát đặt câu hỏi: Thưa đồng chí, có thể gọi những bài thơ ấy là nhật ký chiến khu được không? Ông Trường Chinh trả lời: Được chứ, nhưng không phải là tất cả.

Nhiều vấn đề băn khoăn, cần tìm hiểu đã được trao đổi trong cuộc gặp hôm đó. Trước khi chia tay, ông Trường Chinh căn dặn: Tôi có nhiều kỷ niệm về Việt Bắc, kỷ niệm đối với công việc, về lòng dân, về tình đồng chí. Cái quý nhất, ấn tượng sâu sắc nhất của tôi và cũng là yếu tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, đó là lòng người, là nhân hòa. Việt Bắc có vị trí rất quan trọng, trước đây, hiện nay cũng như sau này. Mong trường đại học của các đồng chí cố gắng phấn đấu để đào tạo được nhiều cô giáo, thầy giáo cho con em các dân tộc, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế, văn hóa ở vùng chiến lược quan trọng này[11].

Buổi làm việc với nhà thơ Huy Cận tại Hà Nội vào một ngày giữa tháng 3-1988 cũng rất ấn tượng. Một số bài thơ như “Báo tiệp”, “Cảnh rừng Việt Bắc” “Cảnh khuya”… cũng được trao đổi về hoàn cảnh sáng tác, về cách cảm thụ một số từ ngữ, hình ảnh sao cho xác thực với ý tứ trong thơ… Ông Quát đặt vấn đề: Là thành viên trong Hội đồng Chính phủ kháng chiến, anh có những kỷ niệm gì về hoàn cảnh ra đời bài “Cảnh khuya” của Bác không? Nhà thơ Huy Cận liền kể: Tôi nhớ Bác viết bài thơ vào cuối năm 1947, Bác tự đánh máy ra làm nhiều bản rồi gửi cho ông Phan Anh, cụ Bùi Bằng Đoàn[12] và tôi mỗi người một bản. Đọc xong bài thơ này, chúng tôi trầm trồ khen hay. Còn chi tiết “Người chưa ngủ” mà các đồng chí muốn tìm hiểu là ai thì theo tôi trước hết là Bác. Nhưng cũng còn có nghĩa là nhiều người khác. Việc Bác gửi bài thơ cho hai nhân sĩ Bùi và Phan là có ý nghĩa động viên: Chúng ta cùng nhau lo việc nước. Tôi nghĩ rằng, ai nhận được bài thơ của Bác gửi cũng cảm thấy mình được san sẻ nỗi lo việc nước với Bác. Và tất nhiên, Bác cũng muốn san sẻ nỗi lo ấy cùng mọi người.

Trong buổi gặp ông Vũ Kỳ vào một ngày cuối tháng 3-1988, hai ông nêu vấn đề: Trong những bài thơ Bác sáng tác ở chiến khu, có hình ảnh chim rừng, hoa núi, nghiên mực, rồi cảnh “xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau”…thì có đúng là phản ánh hiện thực cuộc sống ở chiến khu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hay chỉ là một cách nói ước lệ, tượng trưng mang ẩn ý nào đó cuả tác giả? Ngẫm nghĩ một lát, ông Vũ Kỳ mỉm cười và nói: Đúng! Cần phải hiểu hoàn cảnh sống thì mới hiểu sâu sắc thơ văn. Cuộc sống ở chiến khu là cái nền không chỉ cho thơ ca Bác mà cho cả thơ ca kháng chiến nói chung. Trong bài thơ tặng Bùi Công có nói đến nghiễn trì (nghiên mực) nhưng suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Bác không dùng nghiên mực với bút lông bao giờ. Bác viết “nghiễn trì” có thể là một cách ước lệ của thơ ca cổ điển. Trong bài thơ này còn có hình ảnh chim rừng vào cửa đậu. Đó là chim chúng tôi nuôi đấy. Ở Việt Bắc, chúng tôi thường nuôi chim bồ câu, nuôi bò, làm lưới bắt cá để cải thiện… Trong thơ Bác có cả chim, hoa ở ngay bên cạnh mình là để nói rằng: Kháng chiến tuy gian khổ như vậy mà vẫn yêu đời, vẫn vui tươi[13].

Ông Vũ Kỳ còn tặng hai ông bản chụp bài thơ cụ Bùi họa lại bài thơ Tặng Bùi công (1948) của Bác:

 Nguyên văn bài thơ Bác viết bằng chữ Hán, như sau:

           Khán thư, sơn điểu thê song hãn

           Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì

           Tiệp báo, tần lai lao dịch mã

           Tư công tức cảnh tặng tân thi

           (Xem sách chim rừng vào cửa đậu

            Phê văn hoa núi chiếu nghiên soi

           Tin vui thắng trận dồn chân ngựa

           Nhớ Cụ thơ xuân tặng một bài [14]).

Cụ Bùi Bằng Đoàn đã họa lại bài thơ Bác tặng, cũng bằng chữ Hán:

            Thiết thạch nhất tâm phù chủng tộc

             Giang sơn vạn lý thủ thành trì

             Tri công quốc sự vô dư hạ

             Thao bút  nhưng thành thoái lỗ thi.

             (Sắt đá một lòng vì chủng tộc
                    Non sông muôn dặm giữ cơ đồ

             Biết Người việc nước không hề rảnh
                    Vung bút thành thơ đuổi giặc thù.
)

Khi gửi bài thơ họa lại bằng chữ Hán, cụ Bùi đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh dịch ra tiếng Việt (chữ Quốc ngữ). Và đây là bản dịch của Bác: Son sắt một lòng binh nòi giống/ Giang sơn muôn dặm giữ cõi bờ/ Việc nước, biết Người không chút rảnh/ Trong khi đuổi giặc, vẫn làm thơ. Đáng chú ý trong bản dịch này là ở câu cuối: Vung bút thành thơ đuổi giặc thù, là dịch sát nghĩa chữ Hán, nhưng Bác lại dịch với hình ảnh khác: Trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ. Qua câu thơ Bác dịch, có thể hiểu Người không nhận thơ ca của mình có sức mạnh “thoái lỗ thi” (là thơ đuổi giặc). Bàn về bài thơ Bác tặng cụ Bùi và bản Bác dịch bài thơ họa, ông Huy Cận chia sẻ với nhóm nghiên cứu: Bài thơ toát lên phong thái ung dung tự tại của Bác. Vị Chủ tịch nước sống trong chiến khu, hoa núi và chim rừng như bầu bạn… Gian khổ đấy nhưng vẫn ung dung, thanh thản, vui tươi và lạc quan. Đó là khí phách, là đức tính và tâm hồn Hồ Chí Minh! Phó giáo sư Quát góp thêm lời bình: Đọc bản dịch bài thơ họa nói trên của Bác, ta thấy đức khiêm tốn, bình dị của Người thể hiện qua từng chữ, từng câu một cách rất tự nhiên và chân thành!.

Một số bản thảo của Đề tài do TS Nguyễn Huy Quát viết, được gửi xin ý kiến nhà thơ Tố Hữu, ông Phan Anh và ông Vũ Kỳ (bản thảo có bút tích sửa chữa và chữ ký đồng ý cho công bố của ba ông).

Sau hơn một tháng ở Hà Nội để làm việc với các vị lão thành cách mạng và sưu tầm tư liệu, hai ông trở về Thái Nguyên để chỉnh lý thông tin tư liệu các bài viết hoặc chủ đề rồi chuyển lại cho các vị mà nhóm đã gặp gỡ, trao đổi để xin ý kiến. Theo phân công, ông Vũ Châu Quán phụ trách viết phần: Hai chặng đường thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn ông Nguyễn Huy Quát viết phần Đôi điều cảm nhận về thơ trữ tình ở chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những bài tường thuật về cuộc gặp, hỏi chuyện 9 vị lão thành cách mạng mà nhóm đã thực hiện. Tháng 12-1988, ông Quát nhận được bản góp ý của các đồng chí lãnh đạo về sản phẩm nghiên cứu của nhóm.

Cuối năm 1989, hai ông hoàn thành công trình nghiên cứu và bảo vệ xuất sắc trước Hội đồng khoa học Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc. Hai ông Vũ Kỳ (nguyên Thư ký củaChủ tịch Hồ Chí Minh) và ông Trần Việt Phương (nguyên Thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng) ở Hà Nội được mời tham dự, như một thành viên của Hội đồng nghiệm thu đề tài. Phó Giáo sư Nguyễn Huy Quát nhớ lại: Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đánh giá rất tốt công trình này bởi sự nghiên cứu tỉ mỉ và tìm hiểu vấn đề rất nghiêm túc. Đầu năm 1990, trong bầu không khí cả nước đang hân hoan chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là dịp Người được UNESCO công nhận “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất”[15] thì công trình này được  Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc chọn in và phát hành vào tháng 3 năm 1990. Theo ông Nguyễn Huy Quát, đây là nguồn tư liệu quý giá để thế hệ sau tham khảo và hiểu hơn về thơ ca Hồ Chí Minh ở chiến khu Việt Bắc, nhất là qua những câu chuyện, những tư liệu do các nhân chứng lịch sử cung cấp mà trước đó chưa từng được khai thác, nghiên cứu.

Gần 30 năm trôi qua, nhiều câu chuyện trong trí nhớ của PGS.TS Nguyễn Huy Quát không còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, ông vẫn nhớ những lời động viên của nhà thơ Tố Hữu vào một buổi làm việc cuối tháng 3-1989: Nền văn học hiện đại của chúng ta vẫn còn món nợ lớn về việc phản ánh cuộc sống và chiến đấu ở chiến khu Việt Bắc năm xưa. Nếu đời mình chưa trả được thì con cháu chúng ta sau này sẽ vất vả trong việc đi tìm tư liệu. Hay những dòng nhắn nhủ của ông Hoàng Quốc Việt ghi trong sổ tay công tác của thầy Vũ Châu Quán: Rất hoan nghênh các nhà giáo đã đến gặp, hỏi chuyện, làm việc về những điều xung quanh thơ ca chiến khu của Bác Hồ! Chúng ta còn nợ dân Việt Bắc, dân ATK nhiều lắm, vì chúng ta chưa ghi lại được nhiều những gì mà họ đã đóng góp cho cách mạng. Các nhà giáo nghiên cứu thơ ca của Bác ở chiến khu Việt Bắc có liên quan đến nhiều vấn đề lắm, chẳng hạn: Về tình người; Về cuộc sống gian khổ của nhân dân, cán bộ; Về tinh thần chiến đấu, luyện quân của bộ đội ra sao… tất cả những vấn đề đó nếu không ghi lại một cách rõ ràng thì con cháu ta rất khó mà hình dung ra được.

Mỗi khi nghĩ lại chuyến công tác về Hà Nội để tìm tài liệu, khai thác thông tin cho đề tài nghiên cứu vào đầu năm 1988, PGS Nguyễn Huy Quát vẫn luôn cảm thấy vinh dự và tự hào. Bởi đó là dấu ấn đầu tiên trên con đường làm khoa học của ông; là ký ức về những cuộc gặp, hỏi chuyện quý giá với các bậc lão thành cách mạng, theo đó là những thông tin sống động, vô cùng giá trị. Kết quả của chuyến đi đó đã góp phần quan trọng vào thành công của Đề tài khoa học đầu tay, là nguồn tư liệu phong phú, có ý nghĩa trong việc nghiên cứu thơ ca Hồ Chí Minh nói chung, thơ ca của Người trong Kháng chiến chống Pháp, nói riêng.

Ngô Văn Hiển

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam



[1] Tài liệu phỏng vấn PGS.TS Nguyễn Huy Quát, ngày 29-3-2019, lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam. Các trích dẫn trong bài đều lấy từ nguồn này.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr.689.

[3] Hồ sơ cá nhân của PGS.TS Nguyễn Huy Quát, ngày 27-3-2019, lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[4] Hồng Hà (1928-2011), nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Tổng biên tập Báo Nhân dân.

[5] Hoàng Quốc Việt (1905-1992), nguyên Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

[6] Tố Hữu (1920-2002), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

[7] Nhà thơ Huy Cận (1919-2005), nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin.

[8] Vũ Kỳ (1921-2005), nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh.

[9] Luật sư Phan Anh (1912-1990), nguyên Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

[10] GS Văn Tân (1913-1988), Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

[11] Vũ Châu Quán – Nguyễn Huy Quát, Thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, H-Thanh niên, 2001, tr. 301.

[12] Bùi Công tức ông Bùi Bằng Đoàn (1889-1955),  nguyên Trưởng ban Thường trực Quốc hội (nay là Chủ tịch Quốc hội).

[13] Vũ Châu Quán – Nguyễn Huy Quát, Thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tài liệu đã dẫn, tr. 361-362.

[14] Theo bản dịch của Nxb Văn học, Hà Nội, 1967.

[15] Theo nghị quyết 24C/ 18.65 của UNESCO (tức Tổ chức Giáo dục, Khoa học Văn hóa Liên hợp quốc), năm 1987 ở Pháp.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: