18/09/2019 5:20:22 CH - Những cảm xúc đọng lại

18/09/2019 11:37:52 SA - Kết nạp hội viên đặc biệt

17/09/2019 9:19:15 SA - Tưng bừng ngày khai trương

16/09/2019 4:56:57 CH - Quà mừng sinh nhật

16/09/2019 4:43:30 CH - Vì say sóng

12/09/2019 9:22:56 SA - Nguồn cảm hứng bất tận

Chuyện vợ chồng ngâu thời hậu chiến
Cập nhật lúc: 09:46, Thứ Năm, 27/06/2019 (GMT+7)

Hồi ức, kỷ niệm về gia đình luôn là những dấu ấn khó phai trong cuộc đời mỗi người. Dưới đây là chia sẻ mộc mạc, chan chứa yêu thương của phu nhân một nhà khoa học - GS.TS Nguyễn Hữu Đống về câu chuyện gia đình bà. Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam xin giới thiệu cùng độc giả.

Đúng theo lời hứa lúc mới quen anh Nguyễn Hữu Đống ở Khoa Sinh, Đại học Tổng hợp Hà Nội (K9,1964-1968) là thống nhất nước nhà, tôi sẽ về quê hương Nam bộ. Rồi chúng tôi nên duyên vợ chồng khi đang là sinh viên (9-1967). Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, vào tháng 7-1976 cả gia đình tôi đáp tàu hỏa vào Nam về quê ngoại. Thời điểm đó, đang là giảng viên khoa Sinh - Nông, Đại học Sư phạm I Hà Nội, tôi viết đơn xin về giảng dạy ở khoa Sinh học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 6-1976, anh Đống chồng tôi vừa thi đậu nghiên cứu sinh, chờ ngày nhập học chuyên tu ngoại ngữ trước khi ra nước ngoài. Tôi thì mới hoàn thành luận án cấp 1 theo quy định của Bộ giáo dục đối với giảng viên các trường Đại học Sư phạm ở miền Bắc.

Chúng tôi ra ga Hàng Cỏ, sau một đêm theo tàu rong ruổi từ Hà Nội đến Vinh, rồi chuyển sang xe khách tiến về Nam theo Đường số 1. Con đường này bị tàn phá nặng nề chưa kịp sửa chữa, lại ngồi trên chiếc xe ca cũ kỹ băng qua nào “ổ trâu, ổ gà” xóc không chịu nổi. Tôi và con gái lớn người lả đi vì say xe. Chồng tôi và cô con gái thứ hai chẳng say sưa gì, nên cứ thoải mái thưởng thức những thứ mẹ chồng tôi chuẩn bị cho bốn người. Ngày thứ 3, chúng tôi đến Nha Trang, bác tài dừng ngay trên bãi biển. Nhìn thấy biển tôi thích quá, nhảy ào xuống tắm, nước biển làm tôi tỉnh táo, từ đó về đến Sài Gòn đường tốt hơn, tôi mới có dịp quan sát phong cảnh miền Nam sau giải phóng. Mọi thứ tình cảm trong tôi ùa về: Tôi nghĩ đến má, đến em, bà con cô bác và chạnh lòng nhớ Ba tôi, ông vĩnh viễn nằm lại đất Bắc, chẳng bao giờ gặp lại vợ con, người thân. Sau hơn một ngày chúng tôi vào đến Sài Gòn. Chúng tôi ghé thăm chú Bảy đang làm việc ở Tổng Công đoàn miền Nam, 83 Lê Văn Duyệt quận I, rồi ra bến xe về quê.

Quê tôi đất Long Thành, Biên Hòa (đến 1976 mới nhập với Long Khánh, Bà Rịa thành Đồng Nai), nổi tiếng với vườn cây trĩu quả như sầu riêng, chôm chôm, bưởi ổi. Chúng tôi về đến chợ Long Thành khoảng hơn 9 giờ sáng hỏi thăm xe về Phước Lai. Từ thị xã Long Thành về Phước Lai khoảng 4 cây số chỉ có một phương tiện duy nhất là xe lam. Các bác tài chỉ cho tôi một chiếc xe chuẩn bị về Phước Lai. Trên xe có 7,8 đứa trẻ con, ba mẹ con tôi chui vào ngồi cùng chúng… Còn chồng tôi cao lớn, nên được cho ngồi cạnh lái xe. Ông xế cho xe chạy lắc la lắc lư, miệng thở ra đầy mùi rượu. Thấy “ông xế” say mà vẫn lái xe, trong xe lại đầy trẻ con thật nguy hiểm , chồng tôi vốn thẳng tính, anh quay sang mắng ông xế một trận. “Ông xế” không nói gì cho xe về đến xã. Nhà má tôi ở ấp A, đầu xã. Cả nhà vui mừng chạy ào vào nhà, hiện má tôi đang sinh sống cùng em trai. Bà con hàng xóm nghe tin đến chào hỏi rất đông, trong đó cũng có những người tò mò xem chồng tôi thế nào. Chúng tôi chưa kịp rửa mặt mũi chân tay thì thấy lũ trẻ ngồi cùng trên xe, lúc này khoanh tay: Chào cô Ba, dượng Ba. Chồng tôi tái mặt, nhận ra “ông xế”. Má tôi bảo: đây là anh Chín Thiệt con cô Hai. Tôi đi xa nhà từ lúc 11 tuổi, sau 22 năm mới quay về nên chẳng biết ai với ai. Nên chẳng thể biết “ông xế” là anh mình. Hai ông đàn ông bắt tay nhau, ông nào cũng vội xin lỗi. Nhìn cảnh ấy vừa buồn cười vừa tủi thân, lần đầu về nhà vợ mà chồng tôi bị cú sốc chắc chẳng bao giờ quên.

Hôm sau má tôi dẫn cả nhà đi chào bà con, cô bác gần xa. Chúng tôi men theo các đường mòn nhỏ cạnh các vườn cây, nhà hai bên đường cũng đều là bà con với gia đình ba tôi. Chúng tôi về nhà Bà nội, nội tôi đã mất từ 1956. Nay chị Bích con của bác ruột tôi đang ở ngôi nhà đó. Căn nhà cổ kính còn đó, các bậc lên nhà làm bằng gạch tổ ong có lẽ bị mòn đi không nhiều mà nay tôi lại thấy nó thấp thế đi lên rất dễ dàng, hồi bé tôi phải leo từng bậc mới vào được nhà. Trong nhà vẫn treo mấy cái đầu hươu, nai, hổ… Đó là chiến tích của tổ tiên tôi để lại. Tôi từng được nghe rằng, thời cụ tổ nhà tôi theo cụ Phan Đình Phùng tham gia khởi nghĩa, khởi nghĩa thất bại phải chạy vào đây, nơi rừng thiêng nước độc để lập nghiệp. Chúng tôi thắp hương tưởng nhớ tổ tiên, ngồi trên bộ váng gõ (từ địa phương, váng = ván, gỗ = gõ) đen bóng, vốn là giường ngủ của bà nội tôi, dưới bộ váng là chiếc hầm bí mật để các chiến sĩ cách mạng trú khi bị giặc ruồng. Tôi nằm lăn một vòng như hồi còn bé. Rồi ăn cùng bác Ba (chị dâu của ba tôi) bữa cơm với cá bống kho. Sao mà ngon đến thế! Các con tôi mỗi đứa ăn vài chén cơm đến no căng bụng.

Đến chiều má tôi đưa tôi lên nhà cô Hai (chị ruột ba tôi), cách nhà nội tôi chừng 200m. Nhà cô Hai tôi được dượng chăm chút cẩn thận, rất đẹp có dòng suối con chảy qua hòn non bộ và hàng cau đỏ trĩu quả, xen vào đó là quýt, sầu riêng. Vừa bước vào sân nhà, một quả sầu riêng to bằng chiếc mũ cối rụng ngay trước mặt, tôi giật mình lo lắng, không biết điều gì xảy ra nếu cô bổ sầu riêng mời chúng tôi. Quê tôi thời ấy chỉ ăn sầu riêng rụng (sầu riêng chín cây) chứ không ăn sầu riêng ủ chín như bây giờ. Đúng như dự đoán của tôi, cô mang ra đĩa sầu riêng vàng ươm thơm lừng và bảo các con ăn đi. Tôi liếc nhìn chồng, chàng ta mà từ chối không ăn, có lẽ cô tôi vát chồi chà (chổi dừa quét vườn) ra đuổi đi mất. Chồng tôi nhìn mọi người và bốc một múi ăn ngon lành. Tôi hú vía vì sợ anh Đống cũng giống như nhiều anh bộ đội quê Bắc vào tiếp quản không biết ăn sầu riêng, chỉ ngửi mùi đã nôn ọe, có lẽ đó cũng là lý do để các bà các má quê tôi có ấn tượng không tốt về người Bắc. Chúng tôi xin phép ra về, tôi nhìn anh khẽ hỏi: sầu riêng có ngon không? Anh trả lời ngay: ngon chứ! Tôi cười: thật không? Anh: Thật mà.

Đi cả ngày chắc đã thấm mệt, cô con gái thứ hai tôi rất hay nhõng nhõe đòi ba cõng. Chồng tôi cho nó lên hẳn trên vai địu về nhà. Nhà má tôi không có ruộng, má sống bằng nghề may, nhưng lúa lúc nào cũng đầy bồ, do em dâu tôi là thợ cấy, thợ gặt rất giỏi, mỗi mùa em tôi đi cấy gặt thuê cũng đủ cho cả nhà ăn quanh năm. Gạo ở nhà lúc nào hết mới mang thóc đi xát. Một hôm thấy má tôi đôi quang gánh đổ thóc ra thúng chuẩn bị đi xát. Chồng tôi thấy vậy, đổ hai thúng thóc thành một, thúng còn lại đặt con gái thứ hai ngồi vào. Vì anh biết thế nào nó cũng đòi theo, rồi gánh kẽo kẹt theo má tôi đi xát gạo. Mấy bà hàng xóm nhìn thấy ngạc nhiên, còn má tôi sung sướng vô cùng vì có được chàng rể thật tốt.

Ở chơi với má một thời gian, chúng tôi về quê ngoại ở Thanh Bình, Đồng Tháp. Cả nhà tôi về, ngoại tôi mừng lắm, lưng ngoại còng nhưng bà cứ chạy vào chạy ra, hết vuốt má cháu bé lại vuốt tóc cháu lớn. Lần đầu gặp ngoại, chồng tôi ôm bà vuốt vuốt tấm lưng còng. Ngoại tôi làm một bữa bánh xèo tiếp đãi của nhà. Giữa trưa hôm sau, chúng tôi đang lơ mơ ngủ thì nghe hàng xóm kêu: Con bé ngã sông rồi! chồng tôi bật dậy, chạy ra sông vớt con gái thứ hai lên. Nó vừa sợ lại vừa cười. Do thích khám phá, thấy trẻ con hàng xóm ngồi bên mép xuồng đi vệ sinh nó cũng bắt chước, không ngờ chiếc xuồng chồng chềnh ngã xuống sông – Thật hú vía! Ở chơi với ngoại hai ngày, chúng tôi theo ghe lên lại Sài Gòn. Lúc chia tay ngoại tôi gọi chồng tôi lại: con đi học giỏi, ngoại chờ con về! Chồng tôi lại ôm cái lưng còng của bà vuốt vuốt gật đầu. Ngoại chờ con nhen! Ngoại tôi thực hiện đúng lời hứa, lúc chồng tôi hoàn thành luận án Phó tiến sĩ, về thăm ngoại lần nữa và hơn năm sau bà về với ông ngoại tôi nơi chín suối .

Những bữa cơm chiều chủ nhật

Vợ chồng tôi chung sống đã hơn 47 năm và có hai cô con gái. Cháu đầu nối nghiệp cha mẹ theo ngành Sinh học. Chúng tôi có điều trùng nhau là cả ba đều sinh vào ngày 17, tôi và con gái lớn lại cùng sinh tháng 12. Có lần đăng ký đi Thái Lan, cô bé phụ trách phòng tiếp khách ngạc nhiên: nhà bác hay thật đấy! Chúng tôi cười: Trời định sẵn rồi. Còn cô con gái thứ hai – tên Nguyễn Huỳnh Thu Cúc từ bé tính tình năng động, thích chơi với các em nhỏ tuổi hơn mình, nên Thu Cúc theo nghề dạy trẻ mẫu giáo. Ra trường sớm, đi làm sớm hơn chị nên cũng lập gia đình trước chị (còi to cho vượt). Thu Cúc dạy ngay trong phường, và còn nhận cả lũ trẻ con về nhà chăm sóc vì cha mẹ những đứa trẻ này đi làm xa. Hằng ngày sau giờ dạy, con lại về nhà thăm chúng tôi, nên tôi vẫn nghĩ con gái tôi vẫn đang ở nhà. Đến khi con gái lớn làm xong tiến sĩ, đi lấy chồng. Lúc ấy tôi mới thấy thiếu hụt thật sự. Ngày nhà trai đến đón dâu, tôi ôm con không muốn cho đi. Bà ngoại chú rể vỗ vai tôi bảo: Chúng tôi xem cháu như con gái trong nhà, bác đừng lo. Cháu về nhà chồng, căn nhà như rộng ra, phòng nào cũng thấy trống rỗng, lạnh lẽo. Ngồi ở phòng khách nhà mình mà tôi thấy nó xa lạ như ngồi nơi nào khác.

Chồng tôi sau khi đưa con gái về nhà chồng, thấy tôi ngồi thẫn thờ, anh giảng giải: các con lớn rồi, phải cho nó lập gia đình chứ. Tôi nghe phải, gật đầu. Sau tuần trăng mật của con, chúng tôi ra quyết định: cứ chiều chủ nhật tất cả các con về ăn với Ba mẹ, trừ khi đi công tác xa. Các con nhất trí từ đó đến nay hơn 20 năm chiều chủ nhật nào con cháu cũng về đầy đủ, nhà rộn tiếng cười, tiếng khóc… Bữa cơm gia đình chiều chủ nhật trở thành bữa cơm truyền thống không thiếu được. Có cháu còn nhắc sao giờ này chưa xuống ông bà ngoại ăn cơm… Tất nhiên mâm cơm chiều chủ nhật đầy đủ các món ngon, món lạ hơn. Cậu cháu ngoại thứ hai con cô gái lớn tôi còn bảo: sao nhà mình không ở gần nhà ngoại để lúc nào cũng được ăn ngon. Và tôi cũng có dịp trổ tài nấu nướng các món tủ và món vừa học được cho con cháu ăn.

Chúng tôi yêu nhau từ thời học cùng lớp Đại học, hồi mới chính thức làm bạn gái của anh, sau một tuần gì đó anh bảo tôi: Mỗi tuần chúng mình ăn với nhau một bữa cơm nhé! Tôi ngạc nhiên, vì bản thân tôi chỉ có 18đ, tiêu chuẩn con miền Nam tập kết, anh Đống thì 12đ tiêu chuẩn con liệt sĩ, chỉ đủ tiền nộp tiền ăn cho nhà bếp lấy đâu ra mà nấu cơm ăn riêng. Tôi mang việc này tâm sự với cô tôi, cô cười: Cậu này nghiêm túc đấy, chắc nó muốn chung sống với cháu lâu dài! Tôi bán tính bán nghi, chẳng gật đầu cũng chẳng nói gì. Bọn con gái chúng tôi có vấn đề bất ngờ đều im lặng không trả lời ngay để còn thăm dò đối phương. Nhưng anh thì thực hiện ngay, nói gì làm cho bằng được. Cứ mỗi tuần anh cắt cơm bếp tập thể vào chủ nhật và rủ tôi về ăn cơm gia đình anh ở Đội Cấn, lúc thì đến nhà bạn bè ăn cơm… Có chủ nhật anh xếp hàng cả buổi đổi bún rồi mua mấy quả dưa chuột với bát mắm tôm rủ tôi cùng ăn rất vui vẻ. Thời đi sơ tán ở Ký Phú, Đại Từ, Thái Nguyên, chủ nhật anh lại rủ tôi ra “phố” ăn bát phở, hoặc quả trứng gà luộc, uống nước chè xanh. Có lần vào quán phở, chúng tôi hỏi mua hai bát phở, thấy bà chủ mặt tái mét, dẹp hết đồ nghề, người ngồi ăn cũng mang bát chạy ra sau nhà. Tôi ngạc nhiên, bà chủ khẽ hỏi: Chú ấy là công an phải không? Tôi cười: Chúng cháu là sinh viên, sơ tán lên đây mà. Thì ra nhìn anh Đống to lớn lại mặc bộ quần áo kaki màu vàng, bà tưởng là công an đến kiểm tra nên bà chủ quán sợ quá. Thời ấy mà dùng gạo chế biến ra thứ khác là bị cấm, không được buôn bán lương thực. Đến khi ra trường, mỗi đứa một nơi, anh chỉ về nhà vào tối thứ bảy, cả nhà chúng tôi ăn uống đường hoàng vào trưa chủ nhật, đến chiều chủ nhật anh vội vã ăn bữa cơm chiều rồi đạp xe về cơ quan để kịp làm việc vào sáng thứ hai.

Năm 1984, chúng tôi mới thật sự chung sống một nơi một chốn, (nay ở số 1, ngõ 279, ngách 64 Đội Cấn, Ba Đình, lúc ấy gia đình không chỉ có 2 vợ chồng, mà đã là bốn thành viên. Vào ngày nghỉ và chủ nhật anh hay mời bạn đồng nghiệp cơ quan đến chơi, nhà cửa ồn ào vui vẻ. Bữa cơm chỉ có rau bắp cải (sản phẩm từ đề tài nghiên cứu bắp cải chịu nhiệt của anh) luộc chấm nước mắm dằm quả trứng thế mà ai cũng thấy ngon. Thỉnh thoảng để cải thiện bữa ăn tôi trổ tài làm bánh xèo, lúc bánh gối… với bát nước chấm pha theo kiểu miền Nam ai cũng thấy lạ miệng, cũng thích. Bạn đồng nghiệp ở cơ quan lại bảo: Cả tuần đi làm, có ngày chủ nhật được nghỉ ngơi, thế mà lại phải tiếp khách, lại cơm nước. Chúng em chịu thôi. Tôi vui vẻ: đấy là cách giữ lửa gia đình tốt nhất đấy. Hai con lập gia đình, con cháu đông, chiếc bàn ăn cơm đã chuyển từ bàn nhôm gấp sang chiếc bàn lớn hơn đủ cho các thành viên trong gia đình. Anh thường ngồi vị trí trung tâm, vợ con ngồi quây quần, vừa ăn vừa chuyện trò vui vẻ, có gì vui, buồn các con cháu đều nói ra, rồi tiếng cụng li bát lách tách thật khó quên. Các cháu nào học giỏi, có thành tích gì xuất sắc được tuyên dương. Sinh nhật vợ con, ngày lễ của phụ nữ anh đều lo chu đáo. Ông đi nước ngoài đều có quà cho các cháu, có khi sắm đồ đạc gì mới ông lại mời cả nhà đi ăn khao ở phố cổ. Nay anh Đống đã đi xa hơn 7 năm rồi, gia đình chúng tôi vẫn giữ cái nếp mỗi tuần tập trung về cùng ăn uống vui vẻ. Chiếc ghế trong phòng ăn của anh ấy vẫn giữ nguyên vị trí cũ như khi anh còn sống.

Ai làm chủ hộ

Chúng tôi chính thức thành vợ chồng từ 1967 cuối năm học thứ ba. Nhưng mỗi người vẫn phải ở riêng. Đến năm thứ tư mỗi người một chuyên môn khác nhau. Anh về Hà Nội làm đề tài tốt nghiệp, còn tôi ngày ngày vẫn lặn lội các ruộng bậc thang ở Ký Phú – Đại Từ thu mẫu. Mỗi tháng chúng tôi chỉ gặp nhau một hai ngày. Khi ra trường, tôi làm việc ở Trạm nghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh thuộc Bộ Thủy Sản. Anh ở Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Bộ Lâm nghiệp. Khi đã có hai con chúng tôi vẫn mỗi người mỗi nơi. Hộ khẩu chỉ có 3 mẹ con, tôi luôn được làm chủ hộ. Sau khi chuyển về Khoa Sinh – Nông Đại học Sư phạm Hà Nội I, ở 53 Thổ quan, Khâm Thiên, sổ hộ khẩu, sổ gạo cũng chỉ 3 mẹ con. Còn anh vẫn hộ khẩu cùng với mẹ. Rồi năm 1976 tôi về thành phố Hồ Chí Minh công tác tại khoa Sinh, Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh…, anh đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Tất nhiên tôi vẫn là chủ hộ. Thời bao cấp cực nhọc lắm. Vừa lo đi làm, đi dạy vừa lo nuôi hai con nhỏ. Dù là giảng viên ở Đại học nhưng chúng tôi cũng như mọi người dân khác một hạt gạo cõng mười hạt bo bo. Người ta có vợ có chồng có thể xoay xở thêm còn tôi một mình. Giảng viên chúng tôi thời ấy tất cả vì học sinh thân yêu, không biết mở lớp dạy thêm như bây giờ. Chúng tôi chỉ biết lao động chân tay kiếm thêm thu nhập như làm phấn viết, chăn nuôi gà vịt, heo, thỏ. Miền Nam những năm ấy lại trong tình cảnh “ngăn sông cấm chợ”, lương thực không được chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác. Miền Bắc, miền Nam dùng hai loại tiền khác nhau. Lương anh gửi lại cho con nhận theo quý, 3 tháng là 36đ, chuyển qua ngân hàng rồi đổi thành tiền miền Nam. Má tôi muốn viện trợ gạo cho mẹ con tôi phải qua chính quyền địa phương rất khó khăn. Tôi đành dùng bo bo hầm với chuối cho con ăn. Hay dùng nó nuôi heo mọi (loại heo (lợn) chỉ khoảng 15kg một con, dùng làm heo quay). Cứ 3 tháng xuất chuồng một lứa/ 3 con. Ông lái lợn đến mua và mổ ngay tại chỗ và lần nào ông cũng để lại một bộ lòng cho mấy mẹ con, vì thương cảm hoàn cảnh mẹ con tôi (do tưởng nhầm chồng tôi thuộc diện đang phải học tập cải tạo). Thỉnh thoảng có bạn từ Liên Xô về, anh lại gửi cho chúng tôi lúc thuốc bổ (nhung hươu) hay phim chụp ảnh, tôi bán đi góp tiền nuôi con. Cuộc sống cứ thế trôi qua, các con tôi lớn dần, học giỏi trò ngoan, lớp trưởng các lớp ở trường Sư phạm thực nghiệm thành phố Hồ Chí Minh cùng sự vất vả của mẹ.

Năm 1982, chồng tôi bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ (nay là Tiến sĩ) với 21/21 phiếu thuận ở Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Hè năm 1983 con gái lớn tôi vừa thi xong tốt nghiệp lớp 9 anh vào đón hai cháu ra thăm bà nội và bà con ở Hà Nội. Chúng nó thích quá ở lại luôn không về Thành phố Hồ Chí Minh nữa. Ba cha con người vừa ở nước ngoài về, kẻ từ Nam ra, lương thực, thực phẩm chỉ dựa vào tiêu chuẩn của anh. Mãi đến năm sau tôi mới xin được việc ở Viện Từ điển Bách khoa thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam nhờ vào sự giới thiệu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ đó chúng tôi mới chính thức là một gia đình theo đúng nghĩa sau 21 năm. Có vợ, có chồng và hai cô con gái. Gia đình tôi sống ở làng Đại Yên, phường Ngọc Hà.

Ảnh gia đình GS.TS Nguyễn Hữu Đống chụp kỷ niệm tại Hà Nội, năm 1972.
Gia đình GS.TS Nguyễn Hữu Đống. Chụp tại Hà Nội, năm 1972

Tôi mang sổ hộ khẩu,thường trú tại Quận 5 thành phố Hồ Chí Minh đến Quận Công an Ba Đình xin nhập hộ khẩu. Cô công an hộ tịch nhìn tôi cười hóm hỉnh: Cháu ghi tên ai là chủ hộ, hả cô? Tôi liền bảo: để nhà tôi làm chủ hộ. Tớ làm chủ hộ hơn 20 năm, chán lắm rồi. Cô bé cười rất to. Từ đó cái tên Nguyễn Hữu Đống đứng tên chủ hộ sổ hộ khẩu số nhà 135 tổ 11 Đại Yên mang số 372664.

Công việc của anh khi đó là lo việc xây dựng Phòng di truyền thuộc Viện Sinh học, Viện Khoa học Việt Nam, rồi chuyển lên Trung tâm di truyền Nông nghiệp. Nào chuyển giao công nghệ cho nông dân, cho Tổng cục Hậu cần của quân đội. Dù bận mấy nhưng hàng ngày anh cũng về nhà cùng mẹ con tôi.

Đến năm 1998 anh đi làm cộng tác viên ở Liên Xô để nâng cao trình độ trong 2 năm (1998-1990). Trước khi đi phải cắt hộ khẩu, tôi lại lên công an quận, lại gặp cô hộ tịch viên cũ. Nhìn thấy tôi cô ta hỏi: Cô lại chuyển đi đâu à! Không, mình cắt hộ khẩu cho ông xã để đi công tác. Cô bé hóm hỉnh: Cô lại làm chủ hộ nữa rồi. Chúng tôi cười rất vui.

Bẵng đi hai năm, chồng tôi về, tôi lại lên nhập hộ khẩu cho anh. Lần này tôi bảo cô hộ tịch viên đổi hẳn sổ hộ khẩu mới và phục chức chủ hộ cho anh. Cho đến khi về với tổ tiên, anh vẫn giữ chức chủ hộ, không ai tranh giành.

Trong vòng 6 năm, từ 1984 đến 1990, gia đình tôi hai lần thay chủ hộ, cùng với hai lần thay sổ hộ khẩu. Đến nay, anh ra đi đã hơn 7 năm tôi vẫn giữ sổ hộ khẩu ấy để luôn nhắc nhở con cháu: Ba của các con vẫn ở nhà hàng ngày.

Huỳnh Thị Dung

Phu nhân cố GS.TS Nguyễn Hữu Đống


 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: