18/09/2019 5:20:22 CH - Những cảm xúc đọng lại

18/09/2019 11:37:52 SA - Kết nạp hội viên đặc biệt

17/09/2019 9:19:15 SA - Tưng bừng ngày khai trương

16/09/2019 4:56:57 CH - Quà mừng sinh nhật

16/09/2019 4:43:30 CH - Vì say sóng

12/09/2019 9:22:56 SA - Nguồn cảm hứng bất tận

“Tình yêu không có tuổi”
Cập nhật lúc: 16:19, Thứ Tư, 26/06/2019 (GMT+7)

Câu chuyện tình yêu của GS.TS Đỗ Thế Tùng* rất mộc mạc, giản dị, chân thành, nhưng ẩn sâu bên trong là sự thấu hiểu, sẻ chia, cùng nhau vượt qua biết bao gian khó của cuộc đời để xây dựng một ngôi nhà hạnh phúc.

Tình yêu lớn dần trong gian khó

Năm 1958, Đỗ Thế Tùng được lãnh đạo Tiểu đoàn 17 – F320 cử đi đào tạo hạ sĩ quan bộ binh đóng ở sân bay Kiến An (Hải Phòng). Kết thúc khóa đào tạo, ông được giữ lại làm Tiểu đội trưởng. Dù khi ấy đã 25 tuổi, nhưng chàng lính bộ binh chưa tính đến chuyện kết hôn, trong khi thanh niên ở quê thường lập gia đình từ 17 – 18 tuổi. Một lần, Đỗ Thế Tùng nghỉ phép về thăm gia đình ở Thái Bình, chị dâu Bùi Thị Thao thấy sốt ruột liền khuyên: Em phải lấy vợ đi, nếu không chê trình độ văn hóa thấp chị giới thiệu cho cô Nhũ gần nhà, đảm bảo về hình thức, sức khỏe, tính nết và làm ăn tốt lắm[1]. Ông chỉ tủm tỉm cười, rồi cũng chủ động ra nhà Vũ Thị Nhũ với lý do thăm gia đình, nhưng chính là để xem mặt. Không may, cô Nhũ vắng nhà, chỉ nghe cha mẹ giới thiệu cô làm nghề hàng xáo (mua thóc về xay xát rồi bán gạo). Đỗ Thế Tùng thầm nghĩ, chắc là không có duyên, nên liền quay lại đơn vị. Trên đường đi, ông gặp đoàn các bà, các cô đi chợ Hôm (chợ họp buổi chiều ở xã bên), một cô gái trong đoàn trông hiền dịu, xinh đẹp, và nhanh nhẹn chào: Anh đi trả phép à![2]. Ông đoán đây đúng là cô gái mà chị dâu đã “chấm”, nên liền quay trở lại nhà nhờ chị sang ngỏ ý xin làm quen giúp. Chỉ qua ánh mắt và đôi câu chào hỏi, Đỗ Thế Tùng và Vũ Thị Nhũ đã đem lòng thương mến nhau. Tình cảm của hai người càng thêm đậm sâu qua những bức thư thăm hỏi, động viên, hẹn ước… Đơn giản vậy thôi, nhưng họ vẫn luôn tin tưởng, chờ đợi nhau.

Thuở ấy anh là lính

Còn em cô gái quê

Gặp nhau ngày anh về

Chỉ nhìn thôi chẳng nói

Ánh mắt mới hẹn thầm

Mà sắt son chờ đợi

Đơn vị xa vời vợi

Mang theo hình bóng em…[3]

Ở Hải Phòng, Đỗ Thế Tùng được người em họ giới thiệu, mai mối với một vài người là giáo viên, công nhân… nhưng ông nhất định từ chối, bởi ông đã một lòng son sắt với bà Nhũ. Dịp Tết năm 1959, đơn vị hành quân qua nhà, ông xin phép nghỉ hai ngày để tổ chức đám cưới. Lễ kết hôn được tổ chức vội vã tại ngôi nhà nhỏ, dưới sự chứng kiến của đông đảo người thân, hàng xóm. Dù không pháo nổ rước dâu, không tiệc lớn, chỉ có trà, trầu cau mời khách, nhưng ông bà đều cảm thấy lâng lâng một niềm hạnh phúc khó tả. Sau đám cưới hai ngày, Đỗ Thế Tùng lại phải xa người vợ hiền để trở lại đơn vị, mang theo hình bóng, sự nhớ thương:

…Chỉ hai ngày trăng mật

Đã lại phải xa nhau

Ngày gần sao quá mau

Mà ngày xa giằng giặc…[4]

Năm 1960, đơn vị ông thực hiện việc điều động nhân sự theo ba hướng: Người nhiều tuổi theo Tham mưu trưởng lên nông trường trồng chè ở Sơn La; người trung tuổi chuyển lên công tác tại khu hóa chất Việt Trì (Phú Thọ); còn những người trẻ tuổi sẵn sàng đợi lệnh đi B. Vào một buổi sáng, Đỗ Thế Tùng đang tập luyện thì nhận lệnh được nghỉ phép 10 ngày, sau đó quay lại thực hiện nhiệm vụ mới. Ông chắc mẩm chuyến này sẽ đi B. Về thăm nhà, ông căn dặn: Em cứ yên tâm, nếu anh không gửi thư về chắc chắn là đi B[5]. Thật bất ngờ, trở lại đơn vị ông được chuyển ngành sang làm công tác ngoại thương ở Tổng kho xuất nhập khẩu khoáng sản (Hải Phòng), bởi ông có biết ngoại ngữ.

Đỗ Thế Tùng quyết định đón vợ từ quê ra Hải Phòng để ổn định cuộc sống gia đình. Dẫu biết rằng, cuộc sống xa quê, không nhà cửa, hai người sẽ rất vất vả. Ông xin cho vợ làm công nhân bốc vác xi măng, phân loại sắt thép ở kho cảng Hải Phòng. Ban đầu, không có chỗ ở, may mắn được một người bạn đưa thư cùng cơ quan cho vợ ông đến sống cùng 3 cô con gái. Vậy là, hai người lại phải sống xa nhau, nhưng sáng nào ông cũng chuẩn bị sẵn cơm nắm, muối vừng chờ bà đến cùng ăn, rồi vào làm. Trưa và tối hai người cùng ăn cơm tập thể. Sau bữa tối, ông bà dắt tay nhau vào rạp xem phim, ông đi bộ đưa bà về tận nhà cách 5 cây số. Thấy vậy, nhiều người trêu: Hai người này còn đang trong giai đoạn tìm hiểu nhau[6]. Ngày qua ngày cứ như thế, cho đến khi ông gặp lại người bạn làm công nhân ở xưởng đóng tàu mà ông Tùng chỉ vô tình quen qua thư. Gia đình người bạn đang sống trong gian nhà thuê rộng 50m2 có mẹ già và cháu nhỏ. Phát hiện được hoàn cảnh vợ chồng trẻ Đỗ Thế Tùng đang mỗi người ở một nơi nên anh bạn đã mời về nhà. Anh bạn đã căng dây thép, mua vải về quây thành buồng riêng cho vợ chồng ông Tùng.

Bé gái đầu lòng Đỗ Thị Kim Liên được sinh ra trong ngôi nhà ấy. Có con, vợ chồng ông Tùng càng thêm vất vả, ngoài thiếu thốn vật chất, từ sáng sớm, hai người phải nhanh nhanh nấu cháo cho con ăn, rồi bồng con đi bộ đến cổng cảng gửi con để vào làm.

Năm 1962, Đỗ Thế Tùng được Tổng kho cử đi học, ông quyết định nộp hồ sơ và thi vào khoa Quan hệ quốc tế, Đại học Kinh tài[7]. Ngày đó, lương của ông được 46 đồng, đi học bị trừ 10% còn 41,4 đồng, ông gửi về cho vợ 10 đồng nuôi con, nộp tiền ăn 18 đồng, 5 đồng để mua vé xe lửa khứ hồi về thăm nhà ở Hải Phòng, còn lại phải đóng sinh viên phí, đảng phí, công đoàn phí, mua tài liệu… đến mức không có tiền ăn sáng. Sáng nào lên lớp học thì quên đi cái đói, nếu được nghỉ thì ông phải lên thư viện đọc, chứ ở nhà là không chịu được. Ông vẫn luôn kể, nếu ngày đó không đi học thì gia đình sẽ không phải chịu đói khổ như thế, bởi đi làm, ngoài lương hàng tháng thì ngày chủ nhật ông đi làm thêm, cùng vài người bạn thường mượn xe cải tiến của kho đi chở thuê thùng phi đựng tinh dầu xuất khẩu. Một ngày chủ nhật thu nhập bằng 1/4 tháng lương, như vậy, làm thêm bốn chủ nhật ông sẽ có thu nhập cao gấp đôi lương tháng. Trong khi ông đi học, gia đình không có thu nhập thêm, vợ ông một mình chăm sóc con nhỏ, làm lụng vất vả, nhiều người thương bà còn bảo: Ai bảo cô thích chồng cử nhân, tú tài, tôi thì tôi chẳng cần cử nhân tú tài, tôi bắt về làm nuôi vợ con[8]. Thế nhưng, bà chẳng nề hà gian khổ và luôn nghĩ cho chồng, nên vẫn vui vẻ: Thôi, mình đã dốt rồi, nên đừng để chồng chịu dốt như mình[9]. Dẫu nhọc nhằn, nhưng bà vẫn luôn ủng hộ ông trên con đường học tập. Bà luôn giấu đi những gian khổ cho riêng mình, để chồng yên tâm phấn đấu. Bà phần gạo nấu cháo cho con, sáng chỉ ăn khoai luộc, trưa ăn bánh đúc ngô, chuối xanh nấu tóp mỡ… bán ở cổng cảng, cho qua ngày. Năm 1965, bé Đỗ Thị Thùy Trang, con gái thứ hai cất tiếng khóc chào đời, khó khăn càng chồng chất lên đôi vai cặp vợ chồng trẻ. Không có người trông con giúp, mà vợ ông không thể ở nhà, nên đành xin chuyển sang làm cô giáo nuôi dạy trẻ cho trường mầm non của Tổng kho, chấp nhận mức lương thấp, để tiện cho việc chăm sóc con nhỏ. Sáng nào bà cũng tay dắt, tay bồng con đi bộ đến chỗ làm. Thương vợ, ông Tùng đi học tiết kiệm mua được một chiếc xe đẩy “cũ kỹ” để vợ đẩy con cho khỏi mệt. Ngày ấy, dẫu nhọc nhằn, dẫu gian khổ là thế, nhưng ông bà luôn thấu hiểu, luôn dành cho nhau tình yêu thương ngày càng thêm thắm đượm.

Vẹn tròn hạnh phúc đến cuối cuộc đời

Năm 1967, ông Đỗ Thế Tùng tốt nghiệp trường Ngoại thương, ở Hải Phòng có ba công ty đề xuất xin ông về công tác, nhưng SV Đỗ Thế Tùng có thành tích học tập tốt, nên khi tốt nghiệp nhà trường đã giữ ông lại làm giảng viên. Thời đó trường Ngoại thương sơ tán về Mỹ Đức (Hà Tây), ông có nguyện vọng đón vợ con cùng ông sơ tán theo trường. Trớ trêu, vợ con ông không được chuyển hộ khẩu, nên tem phiếu (gạo, chất đốt, xà phòng, nước mắm, thịt…) đều phải mua ở Hải Phòng. Do điều kiện đi lại khó khăn, nên vợ chồng ông thường phải nhờ người quen mua giúp những đồ khô có thể để lâu, rồi gửi cho gia đình ông.

Giảng viên Đỗ Thế Tùng xin được cho vợ làm cấp dưỡng ở khoa nghiệp vụ. Thời gian đầu, gia đình ông bị chia tách ra ở hai nơi, bà và hai con gái ở nhờ nhà của một gia đình có chồng đi bộ đội. Nhưng cả nhà vẫn sum vầy với nhau trong bữa ăn cơm tập thể. Sau đó, phát hiện có một khu nhà của công nhân khai thác quặng dừng hoạt động bỏ hoang do chiến tranh, nên gia đình ông được nhà trường xin cho ra ở nhờ. Được ở một nơi một chốn, đời sống gia đình ông khá hơn, bởi bà vốn là người nông thôn cần cù, chăm chỉ, nên buổi trưa thường tranh thủ đi ra cánh đồng mò cua, bắt ốc cải thiện bữa ăn cho chồng con. Trong những đợt người dân tát cá, họ nghĩ bà là người Hà Nội nên cho vào mò hến, trai, nhưng không biết rằng bà có thể dùng chân dẫm cá trê, cá quả ngạt thở, rồi giấu dưới giỏ đem về nhà thả vào nước cá sẽ sống lại. Giai đoạn này, ông bà sinh thêm hai người con trai là Đỗ Thế Phong và Đỗ Thế Phú, nhưng nhờ sự đảm đang, chịu khó của bà mà gia đình được no đủ hơn.

Năm 1972, gia đình ông theo trường Đại học Ngoại thương trở lại Hà Nội, được cấp gian nhà cấp bốn rộng khoảng 18 m2 ở cạnh làng Láng, chưa mua được giường nên ông phải mượn vài tấm phản, kê thành giường, lấy gạch làm chân giường để ngủ. Ông làm thêm gác xép cho hai con trai vì nhà chật hẹp. Do tem phiếu gạo vẫn ở Hà Tây, nên mỗi tháng một lần ông lên mua khoảng 60kg gạo. Thương ông đi lại vất vả, nhà trường đã chiếu cố bán cho một chiếc xe đạp Thống nhất cũ theo giá phân phối để đi lại. Ông vẫn nhớ chuyến chở gạo gian nan ngày ấy. Từ Mỹ Đức về đến dốc Bình Đà xe đạp bị tuột xích, hỏng phanh ông không kịp dừng nên líp xe bị rơi mất hết bi. Mồ hôi nhễ nhại, ông dắt xe đến cửa hiệu nào cũng bị từ chối vì không có bi thay, ông đành dắt bộ chở 60kg gạo đi hơn 20 cây số về nhà. Thường ngày, khoảng 18 giờ ông đã có mặt ở nhà, nay thấy ông về muộn vợ con ra ngóng, vào trông và lo lắng. Đến 22 giờ đêm ông về đến nhà, cả nhà mừng rỡ, bà ra đỡ xe, ông nằm lăn ra vì mệt. Hôm sau, ông lên xin ban lãnh đạo nhà trường: Hộ khẩu của vợ con tôi vẫn ở Hải Phòng, ông cho tôi về Hải Phòng, ở đây tôi thấy khổ quá[10]. Nhưng lãnh đạo trường động viên ông cố gắng, vì trường đang thiếu giảng viên.

Ngày đó, ông còn được gắn với biệt danh “người bổ củi”, do tiêu chuẩn gạo, chất đốt và một số nhu yếu phẩm không đủ nên hàng ngày ông tranh thủ đi tìm các gốc cây, bổ thành củi để đun nấu. Ông nhớ mãi lần đào được gốc cây xà cừ rất to, phải nhờ sinh viên chở về góc sân để bổ dần, nhiều người nhìn thấy tỏ vẻ ái ngại, thậm chí là dè bỉu: Cái lão rồ, gốc to vậy sao mà bổ được?[11]. Ông kiên trì mỗi ngày một chút, chỉ vài ngày sau ông đã bổ xong khiến nhiều người khâm phục. Chính người vợ hiền hết mực yêu chồng, cùng các con chăm ngoan đã làm động lực cho ông hăng say lao động, công tác.

Năm 1973, niềm vui đến với ông, khi được nhà trường cử đi đào tạo nghiên cứu sinh ngành Kinh tế chính trị, ở trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc[12]. Năm 1976, ông tốt nghiệp và được giữ lại làm giảng viên. Sự nghiệp nghiên cứu khoa học của ông bắt đầu từ đây. Được sự ủng hộ, động viên của vợ, ông đã dần khẳng định mình bằng nhiều đóng góp qua các công trình nghiên cứu và đào tạo cán bộ cho ngành Kinh tế chính trị.

GS.TS Đỗ Thế Tùng bên vợ nhân dịp ông nhận học hàm        Giáo sư  năm 1996

Sau một chặng đường dài cống hiến hết mình trong sự nghiệp, trải qua biết bao thăng trầm, gian khó, nhìn lại GS.TS Đỗ Thế Tùng hiểu rằng, phía sau những thành công đều có bóng dáng của người vợ luôn hết mực thương yêu, ủng hộ chồng con. Ông tâm sự: Nhìn lại, nếu không lấy bà, mà lấy người khác chắc tôi sẽ không được tạo điều kiện học hành, phấn đấu để đạt được như ngày hôm nay[13]. Tình yêu của ông bà rất mộc mạc, giản dị, nhưng đầy yêu thương, ẩn bên trong là sự thấu hiểu, chân thành sẻ chia cùng nhau vượt qua biết bao gian khó của cuộc đời để xây dựng một ngôi nhà hạnh phúc.

Đến nay, khi con cháu đã thành đạt và xây dựng tổ ấm riêng, ông bà lại cùng nhau hưởng tuổi già với một cuộc sống yên ả, bình lặng tại căn nhà nhỏ ở phố Chùa Láng. Mỗi lần đến nhà, tôi cảm nhận được tấm chân tình của ông bà dành cho nhau, vẫn nồng ấm, đượm đầy, tựa như nụ cười của ông mỗi khi kể cho tôi nghe về bà. Cuối năm 2018, ông đã sáng tác bài thơ “60 năm ngày cưới” để đọc nhân lễ kỷ niệm:

… Chung thủy yêu nhau vẹn tròn hạnh phúc

Thì khó khăn nào cũng đều vượt được

Và đời sẽ nhiều trái ngọt hoa thơm

Sang tuổi xế chiều đời lại đẹp tươi hơn

Vì chắt, cháu, con sum vầy vui vẻ

 

Tạ Anh

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 


Nguyên Trưởng khoa Kinh tế Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

[1] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Đỗ Thế Tùng, 1-9-2018, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản CNKHVN.

[2] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Đỗ Thế Tùng, 1-9-2018, tài liệu đã dẫn.

[3] GS.TS Đỗ Thế Tùng, “Tình yêu không có tuổi”, đăng trên báo Văn nghệ, năm 1999.

[4] GS.TS Đỗ Thế Tùng, “Tình yêu không có tuổi”, tài liệu đã dẫn.

[5] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Đỗ Thế Tùng, 1-9-2018, tài liệu đã dẫn.

[6] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Đỗ Thế Tùng, 22-12-2018, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản CNKHVN.

[7] Năm 1964, khoa Quan hệ quốc tế tách khỏi trường Đại học Kinh tài, để thành lập trường Đại học cán bộ Ngoại giao – Ngoại thương; Năm 1966, trường Đại học cán bộ Ngoại giao – Ngoại thương tách thành trường Đại học Ngoại giao và trường Đại học Ngoại thương.

[8] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Đỗ Thế Tùng, 22-12-2018, tài liệu đã dẫn.

[9] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Đỗ Thế Tùng, 22-12-2018, tài liệu đã dẫn.

[10] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Đỗ Thế Tùng, 14-2-2019, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản CNKHVN.

[11] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Đỗ Thế Tùng, 14-2-2019, tài liệu đã dẫn.

[12] Nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

[13] Ghi âm hỏi thông tin GS.TS Đỗ Thế Tùng, 14-2-2019, tài liệu đã dẫn.

 

 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: