18/09/2019 5:20:22 CH - Những cảm xúc đọng lại

18/09/2019 11:37:52 SA - Kết nạp hội viên đặc biệt

17/09/2019 9:19:15 SA - Tưng bừng ngày khai trương

16/09/2019 4:56:57 CH - Quà mừng sinh nhật

16/09/2019 4:43:30 CH - Vì say sóng

12/09/2019 9:22:56 SA - Nguồn cảm hứng bất tận

Quá trình tự học đặc biệt
Cập nhật lúc: 10:24, Thứ Tư, 26/06/2019 (GMT+7)

Theo PGS.TS Nguyễn Đắc Lộc*, làm nghiên cứu sinh là "quá trình tự học đặc biệt, mà yếu tố quyết định nhất là phát huy cao độ nỗ lực bản thân"**. Những kiến thức được trang bị trong thời gian ấy đã giúp ông tự tin thử sức ở nhiều vị trí công việc sau này.

Năm 1968, khi đang là giảng viên bộ môn Luyện kim màu, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, ông Nguyễn Đắc Lộc được cử đi làm nghiên cứu sinh (NCS) tại CHDC Đức. Tháng 10-1969, sau khi hoàn thành khóa học tiếng Đức tại trường Đại học Ngoại ngữ (nay là Đại học Hà Nội), ông cùng đoàn NCS rời đất nước bằng tàu liên vận Hà Nội - Bắc Kinh, rồi tiếp tục hành trình qua Moskva, Liên Xô; Wacsava, Ba Lan và Berlin - thủ đô của CHDC Đức, rồi lên tàu di chuyển đến thành phố Leipzig. Phó giáo sư Nguyễn Đắc Lộc nhớ lại: phải mất gần hai tuần, vượt quãng đường nhiều ngàn cây số, chúng tôi đã qua hai châu lục, sáu quốc gia để đến điểm dừng chân cuối cùng. Suốt dặm đường dài, chúng tôi được chứng kiến bao điều mới lạ về con người, thiên nhiên của đất nước nước Trung Hoa bao la, của Mông Cổ nên thơ, Liên Xô hùng vĩ, Ba Lan phồn hoa và CHDC Đức hiện đại[1].

Thành phố Leipzig được thành lập từ thế kỷ 12, nơi gặp nhau của các con sông Pleiße, Elster Trắng và Parthe; một trọng điểm giao thông quan trọng của miền đông nước Đức. Thành phố còn nổi tiếng là trung tâm của ngành in sách và phát hành sách thế giới. Tại đây, trong thời gian chờ sắp xếp, bố trí nơi học tập, tìm thầy hướng dẫn..., nhóm NCS Việt Nam được chuyển về ở ký túc xá của Học viện Herder để tiếp tục học thêm tiếng Đức. Viện Herder nằm trên đường Lumumbastrasse, được thành lập năm 1951, là cơ sở nổi tiếng và có truyền thống trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy tiếng Đức và là một bộ phận của Viện Đại học Leipzig[2].

Nhóm học viên cùng cô giáo dạy tiếng Đức trước Thư viện Viện Đại học Leipzig. NCS Nguyễn Đắc Lộc đứng thứ ba từ phải

Ông may mắn liên hệ được với người quen là ông Nguyễn Văn Hải[3] đang là NCS ở đây. Thầy hướng dẫn của ông Hải là GS.TSKH Klaus Hein[4], có chuyên môn phù hợp với hướng đề tài mà ông đã chọn từ khi ở Việt Nam - nghiên cứu về vật liệu bán dẫn. Sau khi xin ý kiến thầy hướng dẫn, ông Hải bố trí để ông gặp trực tiếp GS Klaus Hein. Ông rất vui mừng vì được nhận làm luận án tiến sĩ tại bộ môn Kim loại màu[5] thuộc trường Đại học kỹ thuật Freiberg[6] dưới sự hướng dẫn chính của GS.TSKH Klaus Hein, Chủ nhiệm Bộ môn. Ông rời Viện Herder vào tháng 3-1970, trở thành người đầu tiên trong nhóm đang học tiếng Đức lúc đó về cơ sở nhận thầy hướng dẫn, bắt đầu nhiệm vụ học tập và làm luận án. Ông chia sẻ: Thế là từ đó, tôi ngày ngày làm việc trong tòa nhà Gellerbau bên đường Leipziger Str. của bộ môn và tôi đã có gần bốn năm gắn bó với Thầy K. Hein, với các thành viên của bộ môn, kể cả những người phục vụ[7].

Về trường Đại học kỹ thuật Freiberg, Nguyễn Đắc Lộc được bố trí ở một phòng tại khu ký túc xá cho NCS  nước ngoài trên đường Heinrich-Heine. Hàng ngày, để tiết kiệm thời gian, ông ăn cơm tại nhà ăn của trường chứ không tự nấu như nhiều NCS khác. Mỗi tháng, ông được nhận học bổng là 450 mác, đóng góp 50 mác vào quỹ theo quy định của Sứ quán Việt Nam tại CHDC Đức, còn lại ông chi tiêu khá thoải mái, mua trả góp một số vật dụng như đài, máy ghi âm… và có thể đóng góp để tham gia các chuyến dã ngoại kết hợp nghiên cứu của trường đến nhiều địa phương, cơ sở sản xuất nghiên cứu có liên quan đến đề tài ông thực hiện.

Sau khi ổn định chỗ ở, ông được làm việc với thầy hướng dẫn về chủ đề nghiên cứu, với định hướng bước đầu của đề tài là "Nghiên cứu sự phân bố của các cấu tử trong hệ kim loại nhiều nguyên qua quá trình kết tinh lại". Ông còn nhớ: Sau những chỉ dẫn đầu tiên về mối quan hệ thầy trò, điều kiện làm việc, tôi bước vào thời kỳ học tập mới với biết bao bỡ ngỡ và tôi lại mỗi ngày một nhận rõ thêm rằng nghiên cứu sinh là quá trình tự học đặc biệt mà yếu tố quyết định nhất là phát huy cao độ nỗ lực bản thân[8].

Thầy hướng dẫn là tấm gương để NCS Nguyễn Đắc Lộc cố gắng học theo, từ giờ giấc đến tác phong làm việc. Hàng ngày, ông đi làm từ 6h sáng đến 6h tối mới trở về, khi thành phố đã lên đèn. Ông dành mười tháng đầu tiên cho việc đọc sách và các tài liệu có liên quan nhằm bổ sung kiến thức và thu thập tư liệu làm căn cứ khoa học cho việc xác định nội dung cụ thể hơn và lập kế hoạch tiến hành nghiên cứu. Ông cho biết: Đề tài luận án là vấn đề khá mới lạ đối với những kiến thức luyện kim truyền thống mà tôi được học và tiếp cận trước đây. Vào khoảng những năm 50 của thế kỷ trước, khi các linh kiện bán dẫn và vi mạch được phát kiến, làm nên cuộc cách mạng trong ngành điện tử, đã thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ kết tinh lại những hệ vật liệu đa nguyên theo phương pháp luyện vùng và kết tinh định hướng. Bằng việc chủ động điều khiển quá trình này, người ta một mặt có thể loại các pha không mong muốn để tạo ra vật liệu siêu sạch, hoặc tạo nên sự phân bổ đồng đều một nguyên tố lạ khi pha tạp truyền tính và nuôi đơn tinh thể một loại vật liệu bán dẫn có tính năng mong muốn, phục vụ cho ngành công nghiệp mới mẻ đó[9].

Thời gian này, ông đã có điều kiện tiếp cận với nguồn tài liệu phong phú liên quan tới lĩnh vực của mình tại bộ môn, thư viện trường... Đặc biệt, ông còn gửi thư xin được nhiều bài báo của các tác giả trong và ngoài CHDC Đức (chủ yếu là tài liệu tiếng Đức, tiếng Anh và tiếng Nga). Ông chia sẻ: Có lẽ, nguồn tài liệu đó là một trong những yếu tố quyết định giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Gần như suốt ngày tôi vùi đầu vào đọc tài liệu. Đây là một thử thách không nhỏ. Một mình, giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác đối diện với những trang sách vô tri, tôi đã phải đem hết nghị lực và lòng kiên nhẫn để vượt qua mệt mỏi, những cơn buồn ngủ kéo đến... để học hỏi những kiến thức quý giá[10]

Thời gian đầu, ở bộ môn Kim loại màu ông được bố trí ngồi làm việc một mình trong phòng thí nghiệm nhỏ. Mùa đông năm đó kéo dài, nhiệt độ ngoài trời dưới 0 độ mà lò sưởi bị hỏng. Ái ngại cho ông, có lần bà phục vụ đã đốt hầu hết số đèn cồn trong phòng để ông đỡ lạnh. Trong điều kiện như vậy, ông không nản lòng mà đã nỗ lực vượt qua những khó khăn đó. 

Một trong những nội dung ông quan tâm hàng đầu giai đoạn này là tìm hiểu lý thuyết và thực tiễn của công nghệ nấu chảy vùng (tức phương pháp luyện vùng)[11]. May mắn là ông tìm được cuốn sách “Zone Melting” của W.G. Pfann[12] (xuất bản tại Moskva, năm 1960), một tài liệu được coi là cẩm nang, xuất bản ở nhiều nước và bằng nhiều ngôn ngữ. Hầu hết các công trình công bố vào thời gian đó về lĩnh vực có liên quan đều trích dẫn nguồn tham khảo từ cuốn sách này. Bằng một công thức cơ bản do Pfann nêu ra, ông đã phát triển thuật toán mà từ đó một chương trình máy tính được viết với tên LOC01, sử dụng để tính toán kết quả thực nghiệm của ông tại Trung tâm máy tính (thuộc trường Đại học kỹ thuật Freiberg) sau này. Ngoài ra, ông còn dành nhiều thời gian đọc và học các kiến thức về tính chất của hệ hai nguyên, ba nguyên; về các phương pháp định lượng các cấu tử. Cùng với các phương pháp phân tích hóa học, soi kim tướng quen thuộc,ông cũng chú ý đến các phương pháp quang phổ định lượng, các phương pháp vi phân tích không phá hoại vật mẫu... và đặc biệt là phương pháp đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ. Ông chia sẻ: Tôi luôn tìm thấy những điều hữu ích và càng ham học hỏi trong từng trang tài liệu sưu tầm được. Trong giai đoạn này tôi đồng thời tham gia lớp học tiếng Đức nâng cao để lấy chứng chỉ ngoại ngữ đối với nghiên cứu sinh nước ngoài. Tôi cũng luôn tận dụng mọi hình thức để thường xuyên nâng cao trình độ ngoại ngữ với quyết tâm không kém việc trau dồi kiến thức chuyên môn[13].

Qua nghiên cứu tài liệu, ông đã dần hình dung rõ hơn, cụ thể hơn về công việc sắp tới. Dường như càng học thêm được nhiều kiến thức mới, ông càng thấy mình còn quá nhiều điều phải học nữa... Cứ thế, ông miệt mài học, nghiên cứu. Sau đó ông nộp cho thầy hướng dẫn báo cáo tổng hợp quá trình nghiên cứu tài liệu để thầy đánh giá. Đồng thời, bằng nhiều hình thức kiểm tra trình độ tiếng Đức, GS Klaus Hein đã cho phép ông chuyển sang giai đoạn tiến hành nghiên cứu thực nghiệm. Ông cho biết: Như vậy là tôi sẽ tiến hành nghiên cứu bước tiếp theo với nhiệm vụ trọng tâm là xác định hệ số phân bố K của cấu tử Kẽm trong hệ hai nguyên kẽm – thiếc (Zn – Sn) và của hợp chất ZnSnAs2 trong hệ ba nguyên kẽm - thiếc - arsen (Zn – Sn – As)[14].

Sau khi đã có nội dung nghiên cứu tức là nhiệm vụ “chiến lược” đã được xác định. Phần thực nghiệm đối với ông được coi là nhiệm vụ “chiến thuật” và đó là sở trường của ông. 

Khi tiến hành nghiên cứu thực nghiệm, ông thường phải tiếp xúc với hóa chất độc, như arsenic - một kim loại dễ bay hơi có độc tính cao, hoặc chất độc phóng xạ nên trên ngực áo blu trắng của ông luôn gắn thẻ cảnh báo mức độ phơi nhiễm. Ông cho biết: Lý do tôi chọn hệ ba nguyên, do đây là hệ tương đối phức tạp, để tiến hành thì cần kết hợp nhiều phương pháp và ba chất này kết hợp tạo thành hợp chất bán dẫn ba nguyên[15]. Khi làm thí nghiệm tạo ra mẫu, ông phải phân tích sự phân bố của các chất, nếu dùng phương pháp phân tích bằng hóa học thì sau mấy ngày mới có kết quả của một mẫu. Để có kết quả nhanh nhất, ông dùng phương pháp đồng vị phóng xạ, trên cơ sở đó, sau khi xác định nồng độ phóng xạ của một chất có thể xác định được nồng độ của các chất còn lại phân bố trong các mẫu thí nghiệm. Trong thí nghiệm, ông dùng chất đồng vị phóng xạ kẽm Zn-65 làm chất đánh dấu. Để có được chất đồng vị phóng xạ này, ông được thầy hướng dẫn và Ban Giám hiệu nhà trường giới thiệu để ông trực tiếp đưa mẫu kim loại kẽm siêu sạch Zn đến nhờ Viện Nghiên cứu hạt nhân của CHDC Đức tiến hành công nghệ chuyển sang đồng vị Zn-65. Chất đồng vị này luôn được bảo quản trong thùng bằng chì, khi tiếp xúc và làm việc ông phải mặc quần áo bảo hộ có gắn cảm biến xác định độ nhiễm xạ. Ông chia sẻ: Sau này tôi mới biết, tôi là người nước ngoài hiếm hoi được tiếp cận cơ sở nghiên cứu với sự bảo mật chặt chẽ này. Và hình như tôi đã không chịu tác động xấu nào của các tia γ mà tôi đã phải tiếp xúc khá thường xuyên qua gần 2 năm làm việc với chất đồng vị phóng xạ này[16].

Mặc dù phương pháp đồng vị phóng xạ tương đối nguy hiểm, nhưng được ông lựa chọn, vì nó đem lại kết quả nhanh, đồng thời đảm bảo độ chính xác cao so với các phương pháp khác. Để chứng minh độ chính xác khi sử dụng đồng vị phóng xạ, ông cũng tiến hành các phương pháp khác nhau để kiểm chứng: phương pháp chụp kim tương, phân tích hóa học, phân tích vi mô bằng kính hiển vi điện tử để định lượng…, trên cơ sở đó tìm ra quy luật hệ số phân số phụ thuộc vào các điều kiện thực nghiệm cụ thể. Ông đi đến kết luận phương pháp đồng vị phóng xạ đem lại kết quả nhanh, nhiều và đủ độ tin cậy.

Ông dành 2 năm làm thí nghiệm, có thời điểm ông tiến hành song song từ 2 đến 3 hệ thống thí nghiệm để tiết kiệm thời gian và thu được kết quả nhanh nhất. Ông được tổ bộ môn cấp cho vật dụng dùng cho các thí nghiệm như thủy tinh, thạch anh… và cho mượn các trang thiết bị phục vụ đo đạc, xử lý số liệu: máy đo nồng độ phóng xạ tự động, máy tính cầm tay (lúc đó còn rất hiếm và còn phài dùng đèn để hiển thị số), được đưa số liệu về Trung tâm máy tính để xử lý số liệu thực nghiệm… Thậm chí ông luôn được đáp ứng trang thiết bị khi chủ động đề xuất mua thêm hay đặt chế tạo theo thiết kế của ông. Với kinh nghiệm của nhiều năm làm công tác giảng dạy cùng với đôi chút “khéo tay”, sau khoảng 3 tháng, ông đã hoàn thành việc xây dựng hệ thiết bị đầu tiên cho nghiên cứu với hệ hai nguyên Zn - Sn. Đối với hệ ba nguyên Zn - Sn - As, ông đã hoàn thành việc xây dựng thiết bị ngay trong thời gian tiến hành thực nghiệm với hệ thiết bị đầu.

Bên cạnh những thuận lợi như vậy, NCS Nguyễn Đắc Lộc cũng gặp không ít khó khăn. Về ngôn ngữ, để hiểu và trả lời các câu hỏi chuyên môn thì trình độ tiếng Đức của ông vẫn còn hạn chế. Ông thổ lộ: Khi ở trong nước, tôi vốn chỉ được học những thứ cơ bản, khi đi nghiên cứu sinh có những thứ thậm chí tôi còn chưa được nghe, chưa được biết. Tôi phải tìm hiểu như thế nào là đồng vị phóng xạ, cách đo nồng độ, cách sử dụng các thiết bị đo, cách lập trình để đưa số liệu vào xử lý trên máy tính điện tử...[17]. Ông đã từng bước học cách sử dụng, sửa chữa các thiết bị lâu ngày không dùng, để có thể tự tay làm tất cả các khâu công việc. Điển hình là việc ông tự sửa mâm quay với hệ tự động điều khiển VA-M-160 giúp bộ thiết bị đồng bộ đo đồng vị phóng xạ dạng mâm quay có thể hoạt động bình thường. Có thiết bị đo nồng độ phóng xạ bằng máy đo tự động này ông có thể lấy kết quả cho thấy nồng độ các chất, nhằm mục đích tính giá trị hệ số K (là hệ số thể hiện sự phân bố các chất kết tinh). Để xử lý số liệu nhanh, ông đưa kết quả đã đo được vào máy vi tính để tính toán. Chính vì vậy, ông tiết kiệm được thời gian để làm các thí nghiệm phục vụ nghiên cứu. Ông nhận xét: Có thể nói, tôi là nghiên cứu sinh đầu tiên trong số các nghiên cứu sinh cùng đợt đã xử lý các số liệu bằng máy tính điện tử. Nhà trường có máy tính thế hệ cũ, tôi tự mày mò xây dựng các mô hình toán học để xác định sai số, lập trình xử lý số liệu nhằm tạo độ tin cậy. Vào thời điểm đó, đối với những người không chuyên toán  như tôi phải cố gắng rất nhiều[18].

Tuy đã xác định được tổng thể công việc, nhưng bắt tay vào thực hành ông phải vượt qua không ít khó khăn trắc trở. Sau gần hai năm triển khai giai đoạn thực nghiệm, ông đã hoàn thành một khối lượng công việc rất lớn với số liệu đủ để đánh giá toàn diện và chặt chẽ những mục tiêu đặt ra cho giai đoạn này. Theo định kỳ, khoảng 3 tháng hay một học kỳ, ông đều đặn báo cáo kết quả và nhận sự hướng dẫn của GS K.Hein. Ông cũng đồng thời được tham gia mọi hoạt động như một thành viên của bộ môn. Tại các buổi sinh hoạt chuyên môn ông có dịp trao đổi và nhận những ý kiến giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong bộ môn về công việc của mình. Trong đó có thầy Eberhard Buhrig được phân công là người hướng dẫn thứ hai của ông. 

Để đảm bảo có một hệ thống thiết bị đồng bộ cho giai đoạn thực nghiệm, ngoài việc phải thiết kế để chế tạo, đặt mua mới ông đã tranh thủ tìm  thiết bị cũ trong các kho thiết bị vật tư của bộ môn và nhiều nơi khác trong trường. Bằng sự năng nổ, chủ động, ông nhanh chóng làm quen với nhiều bác thủ kho. Nhờ đó ông đã xin được nhiều thiết bị và các bộ phận cần thiết cho thực nghiệm mà ông cứ ngỡ như có ai đó đã chuẩn bị sẵn từ trước cho ông vậy. 

Trong quá trình tiến hành các thí nghiệm, ông đồng thời tiến hành việc phân tích, xử lý các giá trị thực nghiệm và công việc này được tiếp tục trong hơn ba tháng sau đó. Để xác định sự phân bố các cấu tử cũng như các pha mới hình thành trong quá trình kết tinh định hướng các hệ hai nguyên và ba nguyên đã nêu, ông đã được tiếp cận với rất nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Do vậy, ông đã thu được những thông tin chính xác, tin cậy giúp cho việc phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu, là linh hồn của luận án sẽ được ông tập trung hoàn thành vào giai đoạn sau. Ông hiểu rằng, để đánh giá kết quả của quá trình làm nghiên cứu sinh thì giá trị khoa học của luận án là hết sức quan trọng, nhưng những gì nghiên cứu sinh đã học được, đặc biệt là nắm bắt và sử dụng được các phương pháp nghiên cứu hay công cụ nghiên cứu cũng quan trọng không kém. Có thể coi đó là nền móng cho sự phát triển sự nghiệp lâu dài của một nhà khoa học[19].

Sau khi hoàn thành giai đoạn thực nghiệm và xử lý số liệu, ông báo cáo kết quả công việc với GS K. Hein và báo cáo tóm tắt trước bộ môn. Ông được thầy chỉ dẫn và giao tự kiểm tra, đánh giá toàn diện kết quả của hai phần nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm đã thực hiện. Với việc hoàn thành chu đáo hai phần nghiên cứu trên, NCS Nguyễn Đắc Lộc đã có trong tay khá đầy đủ tư liệu để bắt tay vào viết luận án. Điều lo lắng với ông lúc này là văn phong tiếng Đức phải chuẩn mực để trình bày về nội dung một luận án tiến sĩ sao cho xứng tầm với một cơ sở đào tạo danh tiếng là trường Đại học kỹ thuật Freiberg. Ông được biết, luận án sẽ được chuyển đến hơn 10 cơ sở đào tạo tại CHDC Đức và nước ngoài, trong đó có cả CHLB Đức, theo khuôn khổ trao đổi, hợp tác… nên luận án của ông sẽ được in tới 16 bản. 

Được thầy E. Buhrig và một bạn nghiên cứu sinh trẻ người Đức nhiệt tình giúp đỡ trong việc rà soát, sửa chữa văn phong, NCS Nguyễn Đắc Lộc đã hoàn thành viết luận án trong hơn 5 tháng. Luận án của ông chính thức mang tên “Sự phân bố vĩ mô của các cấu tử khi kết tinh định hướng trong hệ Kẽm - Thiếc - Arsen”. Sau khi được GS K. Hein thông qua, ngày 15-6-1973, ông nộp luận án lên nhà trường.

Nội dung một phần luận án của ông được GS. Klaus Hein thay mặt nhóm tác giả gồm Nguyen Dac Loc, Klaus Hein và Eberhard Buhrig, trình bày tại Hội nghị khoa học quốc tế do Viện Hàn lâm Mỏ Freiberg tổ chức vào tháng 6-1973 và đến năm 1975, công trình được công bố trong tạp chí nghiên cứu của Học viện[20].

Trong thời gian chờ hoàn tất những công việc cuối cùng, ông được GS K. Hein sắp xếp tham gia một số công việc chung của bộ môn, như cùng sinh viên và nghiên cứu sinh khoa Khoa học vật liệu đi tham quan kết hợp bồi dưỡng chuyên môn tại Tiệp Khắc từ ngày 16 đến 22-8-1973. GS K.Hein  còn đề nghị ông kiểm tra, hoàn thiện toàn bộ hệ thống thiết bị thí nghiệm ông từng dùng cho nghiên cứu với hệ hai nguyên. Bộ môn sẽ tiếp tục sử dụng thiết bị ấy cho công tác giảng dạy liên quan đến quá trình kết tinh định hướng và tính toán kệ số phân bố của bộ môn. Đồng thời ông có nhiệm vụ viết bài Hướng dẫn thí nghiệm cụ thể cho sinh viên làm thực nghiệm xác định hệ số phân bố K của Zn trong hệ Zn - Sn với chất đồng vị phóng xạ Zn-65 làm nguyên tử đánh dấu; từ khâu chuẩn bị thỏi vật liệu đến điều khiển thiết bị để tiến hành quá trình kết tinh định hướng; chuẩn bị mẫu đo, sử dụng máy tự động đo độ phóng xạ và chuyển số liệu đo đến Trung tâm máy tính để nhận kết quả thực nghiệm. Khoảng năm 1981, trong dịp trở lại trường Đại học kỹ thuật Freiberg, được biết bài hướng dẫn kể trên do ông soạn thảo vẫn được bộ môn Kim loại màu sử dụng trong giảng dạy. Điều đó khiến ông hết sức vui mừng bởi đã có một chút đóng góp vào quá trình đào tạo của bộ môn nơi ông từng học tập. 

Việc bảo vệ luận án là khâu cuối cùng ông phải hoàn thành. Ông không lo lắng về nội dung học thuật của luận án nhưng chưa thật tự tin về trình độ tiếng Đức của mình. Vì vậy, ông dành nhiều thời gian chuẩn bị cho buổi bảo vệ này. Sau khi cẩn thận viết bài báo cáo, ông nhờ một NCS người Đức là Michael giúp chỉnh sửa. Và để thật tự tin khi trình bày, ông đi xe máy vào khu rừng vắng ở ngoại ô TP Freiberg để được một mình vừa đọc to vừa học thuộc lòng báo cáo. Tuy nhiên, như ông cho biết: do hạn chế về tiếng Đức, việc hiểu các câu hỏi phản biện và trả lời gãy gọn đối với ông là tương đối khó. Đặc biệt, ông vẫn băn khoăn về kết quả đã thực hiện, chỉ đến khi thầy hướng dẫn nói: “Anh làm như vậy là đủ rồi” tôi mới yên tâm về kết quả nghiên cứu của mình[21]. Tháng 10-1973, ông bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ. Cuối năm ấy ông về nước, kết thúc giai đoạn học tập quan trọng của cuộc đời.

Ông Nguyễn Đắc Lộc nhận hoa chúc mừng sau khi bảo vệ luận án

Sau gần 40 năm giảng dạy, nghiên cứu khoa học và tham gia nhiều nhiệm vụ chuyên môn khác nhau, PGS Nguyễn Đắc Lộc có những đóng góp nhất định cho khoa học Luyện kim, sau là ngành Điện tử và Tin học tự động hóa Việt Nam. Nhớ lại khoảng thời gian “tự học đặc biệt” ấy, ông cho rằng bản thân đã có bước trưởng thành vượt bậc, tích lũy thêm nhiều kiến thức chuyên môn và xã hội, cả chiều sâu lẫn chiều rộng, là cơ sở vững chắc giúp ông hoàn thành tốt mọi công việc được giao và có cuộc sống tốt đẹp, ý nghĩa. 


Lê Thị Hằng

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

_____________

* PGS.TS Nguyễn Đắc Lộc, nguyên Phó Chủ nhiệm bộ môn Luyện kim màu, Trưởng phòng Nghiên cứu chuyên đề Vật liệu Bán dẫn, trường Đại học Bách khoa Hà Nội (1961 - 1984); Phó viện trưởng Viện Điện tử và Tin học tự động hóa (1988 - 1998), trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng (nay thuộc Bộ Công thương).

** [1] Nguyễn Đắc Lộc, hồi ký “Viết về tôi” (bản file và bản in), 2018,  lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[2] Viện Đại học Leipzig là một trong những viện đại học cổ nhất ở châu Âu, thành lập năm 1409.

[3] Học khóa 1 trường Đại học Bách khoa Hà Nội, sau là Phó Viện trưởng, Viện Hóa học, thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam.

[4] GS Klaus Hein trước đó là nhà Vật lý, từng là Giám đốc kỹ thật Nhà máy chế tạo Silicium. Sau ông được chuyển về làm Chủ nhiệm bộ môn Luyện kim màu, phó Chủ nhiệm khoa Khoa học vật liệu, trường ĐH kỹ thuật Freiberg (Technischen Universität Bergakademie Freiberg).

[5] Nguyên văn tiếng Đức: WB NE-Werkstoffe: dịch chính xác là Bộ môn Kim loại không có Sắt.

[6] Technischen Universität Bergakademie Freiberg thành lập năm 1765, là trường kỹ thuật danh tiếng và lâu đời nhất châu Âu. Sau này đổi thành Học viện Hàn lâm Mỏ Freiberg.

[7] [8] [9] [10] Nguyễn Đắc Lộc, hồi ký “Viết về tôi” (bản file và bản in), 2018, tài liệu đã dẫn.

[11] Phương pháp luyện vùng là di chuyển một vùng kim loại đã được nung chảy đến những vùng khác, nhằm tạo sự phân bố các chất như mong muốn.

[12] William Gardner Pfann (1917-1982) là nhà phát minh và nhà khoa học vật liệu người Mỹ.

[13] [14] [16] [17] [18] [19] Nguyễn Đắc Lộc, hồi ký “Viết về tôi” (bản file và bản in), 2018, tài liệu đã dẫn.

[15] Phỏng vấn PGS.TS Nguyễn Đắc Lộc, 23-3-2016, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam. 

[20] Tạp chí Freiberger Forsungshefte, B175, trang 41 đến 57 – Nhà xuất bản VEB Deutscher Verlag fuer Grundstoffindustrie, 1975.

[21] Tài liệu ghi âm PGS.TS Nguyễn Đắc Lộc, 23-3-2016, đã dẫn.


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: