26/04/2019 11:11:36 SA - Phiến đá quý hiếm

22/04/2019 8:44:19 SA - Học để làm, làm để học

17/04/2019 10:04:04 SA - Kỷ vật còn lại

16/04/2019 10:09:24 SA - Chuyến đi đáng nhớ

Trọn đời gắn bó
Cập nhật lúc: 11:16, Thứ Tư, 23/01/2019 (GMT+7)

Đến với Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi là do hoàn cảnh đưa đẩy, nhưng chính nơi đây lại trở thành ngôi nhà thứ hai gắn bó với PGS.TS Phan Văn Các từ những ngày đầu mới chập chững bước vào nghề. Và, ông đã dành cả cuộc đời cống hiến cho mái trường thân yêu này.

Năm 1969, sinh viên Phan Văn Các tốt nghiệp trường Đại học Dược Hà Nội. Với kết quả học tập xuất sắc, ông đã được giữ lại trường. Tuy nhiên, khi chuẩn bị nhận công tác, ông được phòng Tổ chức cán bộ gọi lên động viên về Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi để giảng dạy. Nghe thấy vậy, ông cảm thấy thoáng buồn bởi nếu như về địa phương công tác thì đồng nghĩa với việc phải xa gia đình, xa vợ con ở Hà Nội. Nhưng sau một thời gian dài suy nghĩ, chàng dược sĩ trẻ đã quyết định theo sự phân công của Bộ Y tế về Thái Nguyên bắt đầu sự nghiệp. Đây là một cơ duyên nhưng cũng là thử thách lớn đối với một anh sinh viên vừa mới ra trường.

Phó giáo sư Phan Văn Các không thể quên những ngày tháng gian khó cùng đồng nghiệp và học trò sơ tán ở nhiều nơi khi Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi mới được thành lập. Ban đầu, trường sơ tán ở La Hiên, Võ Nhai, người dân nơi đây chủ yếu là dân tộc Nùng. Quá trình nhà trường xây dựng cơ sở mới trong thời chiến rất khó khăn. Trường lớp phải được ngụy trang khéo léo, cẩn thận cùng với nhà dân sao cho không tạo ra sự khác biệt để tránh máy bay không người lái của Mỹ thường xuyên bay lượn săn tìm mục tiêu. Xã La Hiên thời đó chưa có điện, cả trường chỉ có một chiếc máy phát phục vụ cho những buổi họp quan trọng. Mọi sinh hoạt của nhà trường đều ở trong nhà, tuyệt đối không được học thể dục hay đá bóng ngoài trời. Đèn dầu là nguồn ánh sáng duy nhất cho sinh viên học bài và giảng viên soạn giáo án.

Đầu năm 1971, sau dịp nghỉ tết thì trường nhận được lệnh phải chia thành các nhóm lớp phân tán về các huyện Võ Nhai, Phú Lương, Phổ Yên để tránh sự phát hiện của máy bay Mỹ. Khối sơ tán về huyện Phổ Yên, gồm 5 giảng viên và gần 100 sinh viên do giảng viên Phan Văn Các là Khối trưởng.

 PGS.TS Phan Văn Các, 2018

 Thầy và trò chia nhau di chuyển nhiều chuyến bằng chiếc xe cam nhông của trường trên chặng đường 25km về thôn Xuân Trù, xã Đại Luân, huyện Phổ Yên và mang theo các dụng cụ của phòng thí nghiệm, nồi niêu, xoong chảo…. Đến nơi, mọi người được tạo điều kiện ở tạm trong các phòng họp của Bệnh viện Bộ Điện than[3]. Sau khi ổn định chỗ ở, thầy trò bắt đầu xây dựng cơ sở mới, Ban hậu cần liên hệ mua tre nứa trong dân về dựng trường. Những bó nứa to được sinh viên kết thành các bè và thả trôi sông từ bến Đẫm qua các vườn quýt, vườn trám sai trĩu quả xuôi về nơi sơ tán. Tốp sinh viên còn lại nhận nhiệm vụ đón vớt tre nứa, tập kết lên để xây dựng các gian nhà nhỏ làm giảng đường để dạy và học. Khó khăn là ở chỗ nhà trường phải dựng nhà nhưng không được chặt cây. Bởi tán lá cây có tác dụng giúp ngụy trang rất tốt. Khối trưởng Phan Văn Các chỉ đạo cán cán bộ và học trò xây dựng nhà nhưng phải đảm bảo không được chặt bất kỳ cây nào, thậm chí có thể giữ cây mọc trong nhà. Song song với nhóm dựng nhà là chuẩn bị cơ sở vật chất như bảng đen, dụng cụ thí nghiệm…Những bộ bàn ghế cũng được đóng bằng tre rất đơn sơ.

Hơn một năm ở Phổ Yên, dù gian khó nhưng thầy và trò của Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi có rất nhiều kỷ niệm. Khối trưởng Phan Văn Các ngoài việc hàng ngày lên lớp giảng dạy bộ môn Dược lý, đêm về soạn giáo án còn phải kiêm thêm nhiệm vụ sát sao với học trò. Ông luôn nhắc nhở sinh viên phải gần gũi và thân thiện với nhân dân địa phương bởi nhiều bạn sinh viên tuổi còn trẻ nên rất ham chơi, nghịch ngợm. Tuy trường có bếp tập thể nấu ăn cho sinh viên nhưng bữa cơm thường đạm bạc, thầy trò lúc nào cũng có cảm giác đói. Thấy người dân trong xóm dùng mìn để đánh cá, một nhóm sinh viên “hồn nhiên” lấy những con cá to mang về nấu nướng. Có lần, một nhóm sinh viên trèo hái hết quả của những cây trám của người dân trong làng… Vì sự hiếu động, thiếu ý thức đó nên nhiều người trong làng thường tỏ thái độ không hài lòng. Khối trưởng Phan Văn Các nhiều lần phải khuyên răn học trò và thay mặt xin lỗi người dân, nhưng ông hiểu rằng cũng vì hoàn cảnh lúc đó khó khăn nên sinh viên mới làm như vậy.

Phó giáo sư Phan Văn Các tâm sự: “Sinh viên đến từ Tây Nguyên chủ yếu là các thanh niên tập kết ra Bắc. Vì thế, khi các sinh viên khác được về nhà ăn tết thì họ phải ở lại trường. Điều kiện nhà trường khó khăn nên mỗi dịp tết đến, cán bộ phòng Hành chính thường gọi các em xuống và phát chút ít bánh kẹo để biết không khí ngày tết. Có sinh viên phải bán áo đi để lấy tiền mua đồ ăn, tôi thương quá nên đã nhường cho học trò ấy chiếc áo của mình”[4].

Tháng 9-1972, giảng viên Phan Văn Các nhận được thông báo quay về La Hiên để chuẩn bị đi thực tập sinh dài hạn tại Hungari. Sau bốn năm hoàn thành việc học về nước, ngoài việc giảng dạy tại bộ môn Dược lý, ông cùng các đồng nghiệp tích cực xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường. Ông được Hiệu trưởng Phân hiệu Y khoa miền núi Hoàng Đức Chấn giao đảm nhiệm chức vụ Phó phòng Nghiên cứu khoa học nhưng thực hiện các công việc như một trưởng phòng, bởi trưởng phòng Nông Văn Quế đã được điều chuyển sang nơi khác. Nhiệm vụ của ông là phụ trách thư viện và xây dựng phòng thí nghiệm trung tâm của trường. Nhiệm vụ đầu tiên của Phó phòng Phan Văn Các là cùng giảng viên Trần Anh Thả của bộ môn sinh học tiến hành hoàn thiện phòng thí nghiệm trung tâm, phục vụ thực hành cho khối y cơ sở với 11 bộ môn như Sinh lý bệnh, Giải phẫu, Giải phẫu bệnh, Đông y, Dược lý…Những ngày đầu đảm nhận công việc, ông cùng đồng nghiệp đưa ra một vài đề xuất trang thiết bị để trình cấp trên nhưng thường không được đáp ứng, bởi lúc đó nước ta còn nghèo, kinh phí cấp cho các trường rất khó khăn.

May mắn đến với thầy trò Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi vào năm 1977, khi một đoàn của tổ chức Y tế thế giới (WHO) phụ trách nhánh Tây Thái Bình Dương có dịp sang thăm trường và thấy được đời sống, cơ sở vật chất thiếu thốn của nhà trường, nên muốn giúp đỡ bằng cách hỗ trợ kinh phí. Trong khoản tài trợ của WHO cho Nhà nước ta có kinh phí hỗ trợ một số bệnh viện và các trường đại học mua các trang thiết bị, trong đó có Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi. Hiệu trưởng Hoàng Đức Chấn giao cho Phó phòng Phan Văn Các lên phương án lập một bản dự trù trang thiết bị. Nhận được nhiệm vụ, ông bắt tay thực hiện ngay, nhưng cũng gặp không ít khó khăn, vì cần phải nắm rõ tên gọi và tính năng sử dụng của các trang thiết bị.

Việc đầu tiên, Phó phòng Phan Văn Các về Hà Nội để xin thầy giáo Phạm Kim Mãn[5] danh mục các trang thiết bị của một phòng thí nghiệm của Viện Dược liệu. Tuy nhiên, các trang thiết bị thầy giáo đưa ra thuộc nhiều nhãn hiệu của các nước khác nhau, rất khó để đưa vào bản dự trù. Trong khi ông muốn có một bản dự trù các trang thiết bị cùng một nhãn hiệu và của cùng một nước sản xuất. Vì thế, ông đề đạt với Hiệu trưởng Hoàng Đức Chấn trực tiếp lên Hà Nội xin Viện Trang thiết bị một bản catalog các thiết bị y tế của Nhật để tham khảo. Theo quy định là các bộ môn phải đề xuất danh mục các dụng cụ cần thiết lên Phòng Nghiên cứu khoa học và Phó phòng Phan Văn Các là người tổng hợp. Nhưng do chưa có cơ hội để tiếp xúc với máy móc hiện đại nên 11 bộ môn của trường đều gặp khó khăn khi lập đề xuất. Vì vậy, một mình Phó phòng Phan Văn Các phải tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm của các phòng thí nghiệm ở Hà Nội để về hoàn thành đề án dự trù trang thiết bị. Sau khi hoàn thành, ông không ngờ được rằng, bản dự trù của Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi, do ông soạn thảo, được Bộ Y tế sử dụng chung cho các cơ sở khác như Phân viện trường Đại học Y khoa Thái Bình, Huế và Bệnh viện Bạch Mai. Một số tên trang thiết bị hồi đó được coi là rất hiện đại như: Kính hiển vi huỳnh quang, máy CT scanner, sắc ký khí… Theo bản danh mục thiết bị máy móc của trường đã được Bộ Y tế phê duyệt, hai năm sau các thiết bị được chuyển về trường. Chỉ có điều là các thiết bị của Nhật thường chạy điện áp 110kV mà điện áp của Việt Nam là 220kV, vì vậy Phó Phòng Nghiên cứu khoa học phải đề xuất trang bị thêm máy biến áp cho từng loại máy.

Sau này, khi đảm trách vai trò Hiệu phó, rồi Hiệu trưởng trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Phó giáo sư Phan Văn Các vẫn thường xuyên quan tâm đến phòng thí nghiệm trung tâm. Ông luôn tạo điều kiện tốt nhất để phòng thí nghiệm có được các máy móc hiện đại, phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Ông rất tâm đắc khi trường trang bị được chiếc máy hứng phân đoạn[6] hiện đại nhất có tên là Fractiocollector có thể chứa được 174 ống thí nghiệm 12 hoặc 13mm và có khả năng làm việc theo thời gian, số giọt và thể tích hứng.

Song song với việc xây dựng phòng thí nghiệm trung tâm, công tác thư viện cũng được Phó phòng Phan Văn Các hết sức quan tâm. Hàng năm, trên cơ sở kinh phí của nhà trường, phòng Nghiên cứu khoa học có trách nhiệm tìm kiếm các tài liệu, sách để bổ sung các tài liệu cần thiết cho thư viện. Đặc biệt, Phó phòng Phan Văn Các còn có công lớn trong việc xuất bản tập san đầu tiên của Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi. Ông chia sẻ, khoảng đầu những năm 1970, nhà trường có chủ trương khuyến khích các cán bộ trong trường đăng ký các đề tài nghiên cứu khoa học. Từ những kết quả nghiên cứu đó, giảng viên Phan Văn Các tập hợp lại và đề xuất với Hiệu trưởng cho in tập san của trường.

Tập san khoa học đầu tiên của Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi, xuất bản năm 1978.

Số đầu tiên của tập san được xuất bản năm 1978 với tên gọi Tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học của Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi. Tập san gồm tóm tắt 32 đề tài của các cán bộ và nhóm cán bộ nghiên cứu năm 1977, đầu năm 1978. Trong đó, giảng viên Phan Văn Các đóng góp đề tài “Thông báo cơ sở về thành phần hóa học cây kim sương bằng sắc ký lớp mỏng”. Phó giáo sư Phan Văn Các nhớ nhất là số tết năm 1979, sau khi in xong phần nội dung, ông muốn bìa của số lần này phải màu sắc bắt mắt, phù hợp với những ngày đầu năm mới nên ông có ý tưởng lấy hoa mai làm nền bìa tập san. Nhưng vì kinh phí có hạn, không thể đi thuê in, Phó phòng Phan Văn Các khắc phục bằng cách một mình ngồi tô vẽ hơn 100 tờ bìa. Ban đầu, ông làm các khung màu, mỗi mảng màu là một khung giấy, tô màu nào thì dùng khung đó, như thế thì sẽ không bị nhòe mực. Ông cặm cụi làm suốt nhiều ngày đêm mới xong để kịp phát hành đúng dịp tết, làm quà tặng cho các cán bộ, giảng viên trong trường. Hiện nay, hàng năm nhà trường vẫn cho xuất bản kỷ yếu khoa học sau mỗi dịp Hội nghị khoa học của nhà trường. Nhưng bây giờ việc in ấn hiện đại nên những quyển kỷ yếu có hình thức đẹp hơn xưa rất nhiều. Với vai trò quản lý, đầu những năm 2000, nhận thấy tầm quan trọng của công nghệ số, ông đã chỉ đạo xây dựng một thư viện điện tử để các cán bộ giảng viên và sinh viên thuận tiện tra cứu và mượn tài liệu.

Phó giáo sư Phan Văn Các tâm sự: Sinh viên của trường chủ yếu là thuộc vùng dân tộc ít người nên phương pháp giảng dạy của các giảng viên cũng phải chú ý rất nhiều. Giáo trình chỉ có một nhưng các bộ môn đều phải xây dựng một bài giảng riêng. Trong quá trình dạy học, người thầy giáo luôn tìm cách dạy sao cho sinh viên dễ hiểu nhất, đặc biệt là phải gắn với thực tế[7]. Dù ở cương vị nào, PGS Phan Văn Các luôn nhắc nhở bản thân và chỉ đạo các cán bộ giảng viên phải tuân thủ quy tắc trong giảng dạy theo tinh thần của lời thề Hippocrates, 12 điều y đức của Bộ y tế cũng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về y đức. Giảng viên phải dạy sao cho sinh viên tiếp thu kiến thức một cách chuẩn chỉnh nhất theo yêu cầu đào tạo của chuyên ngành Y, cụ thể sinh viên phải học các môn khoa học cơ bản như toán, lý, hóa, tiếp theo là các môn y cơ sở như giải phẫu, giải phẫu bệnh, dược lý, răng hàm mặt…rồi mới được học thực hành ở khối lâm sàng

Tham gia giảng dạy tại bộ môn Dược lý nhiều năm, giảng viên Phan Văn Các có nhiều kinh nghiệm trong việc nghiên cứu cây thuốc. Bên cạnh các kiến thức về thành phần, tính chất và công dụng, ông còn biết rõ điều kiện thổ nhưỡng của các loại cây. Sau nhiều năm học tập tại trường Đại học Dược Hà Nội, cùng nhiều lần qua trường để học hỏi kinh nghiệm, ông nhận thấy trường Đại học Y Dược Thái Nguyên cần có một khu vườn nhỏ, trồng các cây thuốc để giúp các em sinh viên có thể học tập, thực hành. Khoảng đầu những năm 90, với cương vị là Phó hiệu trưởng nhà trường, ông đã phát động phong trào trồng vườn Dược liệu. Ông cho bố trí khu vườn trường thành từng tầng lớp như ruộng bậc thang, mỗi tầng trồng một cây thuốc khác nhau và giao cho đoàn Thanh niên cùng một số cán bộ phòng Hành chính chịu trách nhiệm chăm sóc. Từ đó, khu vườn dược liệu luôn xanh ngát, giúp nhiều thế hệ học trò có được những kiến thức thực tiễn và trở thành công cụ giảng dạy thiết yếu của bộ môn Đông y.

Cho đến hiện nay, nhà trường không ngừng tăng cường đầu tư ngân sách, từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất, củng cố và nâng cấp, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, mà tiền thân là Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi đã trở thành cái nôi đào tạo ra nhiều thế hệ học trò, đáp ứng nhu cầu cán bộ y tế cho khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. Mỗi khi nhớ về những ngày đầu gian khó, PGS Phan Văn Các không khỏi xúc động và nghẹn ngào: Tôi luôn tự hào vì đã góp một phần công sức nhỏ bé cho sự nghiệp phát triển của nhà trường[8].

Khổng Thị Duyên

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 



[1] Từ năm 1968-1979 là Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi. Từ năm 1979-1994 là Đại học Y khoa Bắc Thái. Từ năm 1994 - nay là trường Đại học Y Dược Thái Nguyên.

[2] PGS.TS Phan Văn Các, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Y Dược Thái Nguyên.

[3] Nay là Bệnh viện Bắc Thăng Long.

[4] Ghi âm phỏng vấn PGS.TS Phan Văn Các,  27-10-2018, lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[5] PGS.TS Phạm Kim Mãn, khi đó là cán bộ nghiên cứu tại phòng Hóa thực vật, Viện Dược liệu.

[6] Máy hứng mẫu tự động dùng trong chiết xuất và phân lập.

[7] Ghi âm phỏng vấn PGS.TS Phan Văn Các, 27-10-2018, tài liệu đã dẫn

[8] Ghi âm phỏng vấn PGS.TS Phan Văn Các, 7-10-2018, tài liệu đã dẫn.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: