08/12/2018 8:04:14 CH - Cái tâm của nhà khoa học

08/12/2018 10:30:26 SA - Vẹn nguyên tình thầy trò

28/11/2018 5:22:11 CH - Thời sinh viên xa nhớ

27/11/2018 11:31:34 SA - Tận tâm với nghề phẫu thuật

Làm thủy điện - dấu ấn còn mãi
Cập nhật lúc: 10:15, Thứ Ba, 27/11/2018 (GMT+7)

Học chuyên ngành cơ khí tại trường Đại học Kỹ thuật Quốc gia Moskva Bauman - trường đại học kỹ thuật hàng đầu của Liên Xô, và với tinh thần của người làm khoa học, PTS Lê Văn Minh đã cùng cộng sự đảm trách việc nghiên cứu, xây dựng các công trình thủy điện phục vụ nhiệm vụ quốc phòng.

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc đầu năm 1979, những cỗ xe tăng T34, T54 của quân đội ta đã anh dũng chiến đấu ở tuyến đầu khói lửa, trở thành những công sự di động vững chắc trên chiến tuyến biên giới. Chiến trường xa xôi, hiểm trở gây khó khăn rất lớn trong việc cung cấp nguồn điện nạp ắc quy cho động cơ xe tăng. Trước đây, để có điện nạp vào ắc quy, bộ đội tăng thiết giáp sử dụng máy phát điện chạy bằng xăng hoặc dầu diesel rất tốn kém, trong khi đó nguồn năng lượng này ở nước ta chủ yếu dựa vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, phần lớn là của Liên Xô.

Việc xây dựng hệ thống nhà máy thủy điện nhỏ để phục vụ sản xuất, sinh hoạt và nhiệm vụ quốc phòng đã được Chính phủ và Bộ Quốc phòng quan tâm từ lâu. Nay tình hình trở nên cấp bách khi phải đáp ứng yêu cầu sản xuất điện phục vụ chiến đấu. Được giao nhiệm vụ xây dựng thủy điện, song Tổng cục Hậu cần không có khả năng chuyên môn thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Do đó Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ nghiên cứu cho Tổng cục Kỹ thuật. Năm 1979, Thiếu tá Lê Văn Minh khi đó đang là Phân viện phó Phân viện Thiết kế công trình công nghiệp quốc phòng, được Thiếu tá Vũ Văn Đôn - Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật trực tiếp giao nhiệm vụ này. Sau khi nhận nhiệm vụ, ông Lê Văn Minh sang làm việc với Tổng cục Hậu cần để nắm tình hình. Phó giáo sư Lê Văn Minh chia sẻ: Tôi phải tìm hiểu xem đông tây kim cổ, thế giới làm như thế nào và thực tế ở Việt Nam ra sao[1] trong việc xây dựng thủy điện nhỏ. Ông tham khảo tài liệu ở Bộ Điện than (nay là Bộ Công thương). Đồng thời nghiên cứu tài liệu của Pháp, đặc biệt là tài liệu về thủy điện nhỏ được ông Nguyễn Ngọc Trân[2] nghiên cứu tham khảo trong thời kỳ học tại Pháp. Qua đó, ông Lê Văn Minh nhận thấy rằng: Thủy điện nhỏ có nhiều loại, từ vài KW đến vài chục KW; có loại từ trên 100KW đến dưới 1000KW[3]. Song song với việc nghiên cứu tài liệu, ông tổ chức đoàn đi khảo sát hầu hết các sông suối ở vùng Tây Bắc như Hòa Bình, Yên Bái, Cao Bằng, Lào Cai… Cùng đồng nghiệp, ông nghiên cứu và tìm hiểu kỹ một số trạm bơm thủy luân ở Hòa Bình do Trung Quốc giúp đỡ xây dựng trước đó. Trạm thủy luân có công năng chắn một số dòng sông, suối, tạo độ chênh, lấy nước tưới cây, phục vụ trồng trọt, và kết hợp làm một số máy phát điện nhỏ. Qua nghiên cứu tài liệu và thực địa, PTS Lê Văn Minh đánh giá tình hình, năng lực có thể thực hiện việc xây dựng thủy điện. Sau đó, ông trực tiếp đến các quân khu để tìm hiểu các vấn đề cụ thể.

Ông Lê Văn Minh lên Thái Nguyên gặp Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1 - Trung tướng Đàm Quang Trung. Sau khi tham khảo thực tế, trao đổi, họ nhận thấy những khó khăn khi xây dựng thủy điện: thứ nhất, việc xây dựng một trạm thủy điện cỡ vừa cần phải có tài liệu nghiên cứu thủy văn khu vực hàng trăm năm; thứ hai, mùa khô thì không hoạt động được vì thiếu nước, còn mùa mưa thì dễ bị lũ cuốn trôi… Với sự tư vấn của Trung tướng Đàm Quang Trung, ông Lê Văn Minh hình thành ý tưởng xây dựng một trạm thủy điện nhỏ cơ động, khi đủ nguồn nước thì hoạt động phát điện, mùa lũ thì có thể di chuyển hệ thống máy lên khu đất cao. Trong quá trình nghiên cứu cách thức xây dựng công trình thủy công và hệ thống tuabin, máy phát điện, PTS Lê Văn Minh nhận thấy sự khác nhau giữa các loại đập thủy điện: nơi nào có tốc độ nước lớn chỉ cần đập có độ chênh thấp cũng có thế tạo ra thế năng lớn và ngược lại. Để xây dựng trạm thủy điện cơ động, áp dụng độ chênh lệch từ các công trình thủy luân và để đảm bảo thuận lợi cho việc xây dựng, ông cho tiến hành đắp đập đất tạo độ cao từ 5-6m và chế tạo một tuabin phát điện đảm bảo tính cơ động như ý tưởng ban đầu.

Việc nghiên cứu chế tạo tuabin trong một thời gian ngắn là điều khó có thể thực hiện, nhưng với những tìm tòi trong quá trình khảo sát về trạm bơm thủy luân, PTS Lê Văn Minh đã có sáng kiến sử dụng vỏ máy bơm công suất 1000m3 nước/h của nhà máy bơm Hải Dương làm thân tuabin, chỉ cần thiết kế lại bánh xe công tác, cánh quạt cũng như hệ thống ống dẫn nước cho phù hợp với tuabin. Để nghiên cứu về cánh quạt tuabin (dạng cánh xoắn), ông tìm đọc tài liệu ở thư viện và tham khảo ý kiến ông Đinh Ngọc Ái - một chuyên gia về máy thủy lực đang công tác tại bộ môn Máy và Tự động thủy khí, trường Đại học Bách khoa. Lúc này, những kiến thức được học tại trường Đại học Bauman đã hỗ trợ ông Lê Văn Minh rất nhiều trong việc tính công suất thiết kế, rồi ông trực tiếp chỉ đạo bộ phận thiết kế của Phân viện Thiết kế công trình công nghiệp quốc phòng vẽ chi tiết từng bộ phận. Sau khi hoàn thành, bản vẽ thiết kế được chuyển đến Nhà máy Z133 ở Gia Lâm để chế tạo, gia công.

 

 
Bản vẽ bánh xe công tác và cánh quạt tuabin


Tổng cục Hậu cần cung cấp máy phát điện cho nhóm nghiên cứu, PTS Lê Văn Minh và cộng sự thiết kế thêm bộ phận puli[4] để kết nối máy phát điện với tuabin. Nhà máy Z155 ở Sơn Tây giúp nhóm nghiên cứu chế tạo bảng điều khiển hệ thống điện.

Khi các khâu chuẩn bị đã hoàn tất với đầy đủ các bộ phận của tuabin, hệ thống ống, máy phát điện, PTS Lê Văn Minh chỉ đạo lắp đặt trạm thủy điện. Trước đó, ông cùng trợ lý đã lên Cao Bằng làm việc với các đơn vị bộ đội về việc huy động sức người đắp đập, trong vòng một tuần việc đắp đập tạo độ chênh đã hoàn thành. Trạm thủy điện nhỏ đầu tiên được lắp đặt nhanh chóng và thuận lợi vào khoảng sau năm 1979 tại Cao Bằng. Tuabin và máy phát điện chạy ổn định với công suất phát điện từ 5-10kw, đủ cấp điện cho một trạm nạp ắc quy cho xe tăng.

 

Tuabin được tận dụng từ vỏ máy bơm 1000m3nước/h

 

Sau thành công của trạm thủy điện nhỏ đầu tiên tại vùng núi Cao Bằng, ông Lê Văn Minh tiếp tục chỉ đạo xây dựng nhiều trạm thủy điện thuộc khu vực Hòa Bình, Lào Cai, Tây Nguyên... Để thực hiện một cách thuận lợi, ông ký hợp đồng với nhà máy Z153 ở Gia Lâm, Hà Nội để mua thân máy bơm, tận dụng các tuabin và thiết kế lại phần bên trong: cánh, ổ bi...; ký hợp đồng với nhà máy Z155 ở Sơn Tây để chế tạo máy phát và bảng điện. Năm 1982, ông Lê Văn Minh tham gia xây dựng thành công một trạm thủy điện nhỏ ở tỉnh Hủa Phăn, Lào. Trạm phát điện nhỏ này đã giải quyết được một phần nguồn điện phục vụ cho bộ đội nước bạn.

Những Trạm thủy điện nhỏ được xây dựng trong những năm 1979-1980, đã giải quyết được tình trạng thiếu điện nạp ắc quy xe tăng cho các đơn vị xe tăng của Quân đoàn 2, kịp thời phục vụ quân đội ta chiến đấu bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Không chỉ vậy, sau này những trạm thủy điện được nâng cấp, tăng công suất phát điện phục vụ sinh hoạt của người dân vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa. Những thành tựu về thủy điện nhỏ này luôn gắn liền với tên tuổi PTS, Thiếu tá Lê Văn Minh - một nhà nghiên cứu chuyên ngành cơ khí.

Lê Nhật Minh

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 



[1] Phỏng vấn PGS.TS Lê Văn Minh, ngày 22-3-2016, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[2] Sau là GS Nguyễn Ngọc Trân, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa IX, X, XI.

[3] Phỏng vấn PGS.TS Lê Văn Minh, ngày 22-3-2016, tài liệu đã dẫn.

[4] Bánh xe gắn trên trục máy phát điện kết nối với tuabin bằng dây curoa, khi tuabin quay sẽ kéo puli chạy làm cho máy phát điện hoạt động.


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: