13/11/2017 2:49:02 CH - Người tìm tên cho cá

09/11/2017 4:58:28 CH - Xuất chúng Nguyễn Thị Lê

Trọn vẹn nghiệp làm thầy
Cập nhật lúc: 09:11, Thứ Ba, 14/11/2017 (GMT+7)

Khởi điểm là giáo viên dạy phổ thông, rồi trở thành giáo sư dân tộc học, GS.TS Phan Hữu Dật đã có hơn 50 năm công tác trong ngành giáo dục. Trên chặng đường ấy, ông đã vượt qua mọi trở ngại, gian nan và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó.

Từ một thầy giáo vùng du kích

Giáo sư, tiến sĩ Phan Hữu Dật sinh năm 1928 tại tỉnh Thừa Thiên. Ngay từ khi học đại học, ông đã nuôi dưỡng ước mơ trở thành thầy giáo. Năm 1951, sau khi tốt nghiệp thủ khoa khóa đầu tiên của trường Trung cấp sư phạm Liên khu IV ở Hà Tĩnh, Phan Hữu Dật nhận nhiệm vụ trở vào vùng căn cứ du kích Thừa Thiên để dạy học. Và lần thứ hai, chàng thanh niên Phan Hữu Dật vượt Trường Sơn trở lại quê nhà tham gia cách mạng. Vẫn hành trình gian khổ vì bom đạn, nhưng con đường lần này không còn lạ lẫm như lần đầu tiên từ Huế ra Quảng Trị nhận công tác tại Sở Tuyên truyền Quảng Trị năm 1946. Vào đến Ty Giáo dục tỉnh Thừa Thiên, thầy giáo Phan Hữu Dật được điều động về dạy học tại trường Trung học kháng chiến Nguyễn Chí Diểu trong vùng căn cứ du kích xã Phong Chương, huyện Phong Điền.

Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra, trường Trung học kháng chiến Nguyễn Chí Diểu được thành lập trên một địa bàn nông thôn nghèo. Vì thế, cuộc sống khó khăn, từ tài liệu, sách giáo khoa cho đến đồ dùng giảng dạy và học tập đều thiếu thốn. Không chỉ dạy và học, nhà trường còn phải tham gia kháng chiến, đối phó với giặc. Thầy giáo trẻ Phan Hữu Dật được phân công dạy văn, sử, tiếng Pháp cho các lớp 5, 6, 7; đồng thời làm Bí thư chi bộ Đảng của trường Trung học kháng chiến Nguyễn Chí Diểu. Nhiều buổi học bị ngắt quãng bởi những đợt lùng sục, oanh tạc bằng máy bay của địch. Một hôm, thầy Dật đang giảng bài thì có tiếng kẻng báo động. Thầy vừa cho học sinh xuống hầm trú ẩn cạnh các bụi tre thì chiếc máy bay bà già rẹt qua và những quả lựu đạn từ máy bay quăng xuống nổ chát chúa. Rất may là thầy kịp nấp vào chiếc am gần đó, nhưng lớp học bị cháy rụi, và học sinh tất cả đều an toàn.

Sau một năm dạy tại xã Phong Chương, thầy giáo Phan Hữu Dật được Ty Giáo dục giao nhiệm vụ làm Hiệu trưởng trường cấp II[1] Phong Phú mới thành lập. Khi đó, trường này mới chỉ đào tạo đến lớp 6. Ở đây, thầy Dật còn cáng đáng công việc chỉ huy tiểu đội du kích thôn Thế Chí Đông. Quân Pháp đóng đồn, càn quét gắt gao, trường phải di dời lên vùng chiến khu . Ban đêm, thầy Dật cùng tiểu đội du kích vượt phá Tam Giang trở về xã Phong Phú để vận động các gia đình cho con em ra vùng tự do Liên khu IV tiếp tục học tập.

Năm 1953, thầy giáo Phan Hữu Dật nhận nhiệm vụ mới, vượt Trường Sơn ra Nghệ An công tác tại Sở Giáo dục Liên khu IV, rồi sau đó được tăng cường cho Ty Giáo dục tỉnh Hà Tĩnh. Trên cương vị phụ trách phòng giáo dục phổ thông của tỉnh Hà Tĩnh, thầy thường xuyên về các huyện kiểm tra việc dạy và học tại các trường phổ thông, cùng với lãnh đạo Ty Giáo dục tổ chức lớp huấn luyện bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên cấp I của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Năm học 1953-1954, thầy Phan Hữu Dật được bầu là Chiến sĩ thi đua của ngành giáo dục tỉnh Hà Tĩnh.

 

Giáo sư Phan Hữu Dật, 2017

Đến giáo sư dân tộc học

Năm 1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, thầy giáo Phan Hữu Dật là một trong 3 cán bộ của Ty Giáo dục Hà Tĩnh (cùng với Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Thái Như) được cử ra Hà Nội học trường Đại học Văn khoa. Vài tháng sau, sinh viên Phan Hữu Dật ông được sang Liên Xô học tiếp chương trình đại học ngành Lịch sử, rồi nghiên cứu sinh tại trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva.

Sau 8 năm du học, PTS Phan Hữu Dật trở về nước và được phân công làm cán bộ giảng dạy khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp từ mồng 1-1-1964. Ông chia sẻ: Mọi người ở trong nước, trong Nam ngoài Bắc thấy cuộc đời của tôi ở trường Đại học Tổng hợp rất hanh thông, mọi việc đều trôi chảy; nhưng thực ra lại không phải hoàn toàn như vậy[2].Khi đến Bộ Giáo dục nhận quyết định của Vụ Tổ chức, ông Trần Kỳ Tranh - Vụ trưởng Vụ Tổ chức có trao đổi: Tôi xin nói thẳng, đồng chí về đấy tình hình rất khó khăn, nếu đồng chí có nguyện vọng muốn chuyển cơ quan, tôi sẵn sàng giúp đỡ đồng chí về nhận nhiệm vụ ở cơ quan khác. Nhưng PTS Phan Hữu Dật đã đề nghị: Đồng chí cho tôi về trường làm việc một thời gian, nếu tôi thấy quả thật không ở được, xin đồng chí báo cáo với Bộ để phân công tôi nhận nhiệm vụ ở nơi khác[3]Khó khăn là có thực, bởi lẽ thời kỳ đó, tình hình chính trị thế giới khá phức tạp, ảnh hưởng ít nhiều đến Việt Nam. Có những người nhìn nhận Trung Quốc là giáo điều, có quan điểm coi Liên Xô là xét lại. Trong bối cảnh như vậy, những cán bộ được đào tạo ở Liên Xô trở về như PTS Phan Hữu Dật  không tránh khỏi sự hoài nghi, xét nét của một số đồng nghiệp.

Nhận công tác tại khoa Lịch sử, PTS Phan Hữu Dật được phân về tổ Dân tộc học - Khảo cổ học do ông Vương Hoàng Tuyên làm tổ trưởng. Nhóm Dân tộc học do ông Vương Hoàng Tuyên phụ trách, còn nhóm Khảo cổ học do ông Trần Quốc Vượng làm nhóm trưởng. Nhớ lại thời kỳ đầu ấy, ông Dật kể: Khi ấy, trong khoa có việc gì cần đến lao công, cờ đèn kèn trống, cần một người tạp dịch thì đó là công việc của tôi[4]. Ông được giao nhiệm vụ đi tiền trạm hai đợt tham quan của cán bộ trong khoa: thăm Khu gang thép Thái Nguyên và thăm vùng mỏ Quảng Ninh. Nay ông vẫn nhớ, ở Quảng Ninh, đoàn cán bộ khoa Sử tổ chức buổi nói chuyện với công nhân về thời sự khoa học, trong đó có tình hình các dân tộc thiểu số ở nước ta, PTS Dật không được tham gia, bởi ông là cán bộ mới.

Chấp nhận và hoàn thành tất cả những công việc được giao, dù đó là những công việc không đúng chuyên môn, PTS Phan Hữu Dật đã quyết tâm lấy kết quả công tác để chứng minh năng lực của mình. Sau một thời gian, tập thể cán bộ khoa Sử đánh giá ông hoàn thành tốt nhiệm vụ và ông đã tạo được sự tín nhiệm trong đồng nghiệp. Bởi vậy, ông được cử làm trợ lý bộ môn (1965), rồi làm Thư ký khoa học của khoa, sau đó từng bước giữ những cương vị cao hơn: Phó Chủ nhiệm khoa, rồi Chủ nhiệm khoa Lịch sử (1970-1975), Phó Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1977-1981), quyền Hiệu trưởng (1981-1985) và Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1985 - 1988). Mặc dù bận rộn với công tác quản lý nhưng thầy giáo Phan Hữu Dật vẫn hết lòng đem kiến thức và niềm yêu thích chuyên ngành Dân tộc học truyền tải cho học trò, hết khóa này đến khóa khác.

 Từ khi nhận nhiệm vụ thư ký khoa học của khoa, PTS Phan Hữu Dật bắt đầu được tham gia công tác giảng dạy, trực tiếp đào tạo sinh viên. Khoảng năm 1964-1965, chuyên gia Liên Xô E.P. Buxưghin về nước sau khi hoàn thành công việc giúp đỡ xây dựng chương trình, biên soạn cuốn Dân tộc học đại cương và giảng dạy cho mấy khóa sinh viên. Nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành Dân tộc học đặt lên vai các thầy giáo Việt Nam, trong đó có PTS Phan Hữu Dật. Ông là người được đào tạo bài bản ở Liên Xô, nên có thể nói rằng, những dấu ấn và ảnh hưởng của dân tộc học Xô viết khá đậm nét ở ông. Những bài giảng, những chuyên đề do ông đảm nhiệm tại bộ môn Dân tộc học đều theo quan điểm tiếp cận và vận dụng dân tộc học Xô viết vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam. Nội dung ông giảng đều Ông tham khảo giáo trình của những nhà dân tộc học tên tuổi ở Liên Xô như GS Buxưghin, GS Tocarev, từ những bài giảng của các thầy ở trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva và Viện Dân tộc học Liên Xô.

Giáo sư Phan Hữu Dật vẫn nhớ, bài giảng đầu tiên của ông là bài "nhập môn" dân tộc học. Ồng diễn giải cho sinh viên hiểu rằng dân tộc học nghiên cứu về con người, các cộng đồng người, nhưng dân tộc học không chỉ là ghi chép, miêu tả cách ăn, ở, mặc như thế nào, hình thức vui chơi giải trí ra sao..., mà còn ở mức cao hơn là đề cập vấn đề phát triển tộc người. Với tư cách là một ngành khoa học, dân tộc học ra đời vào thời cận đại, gắn chặt với sự nảy sinh và phát triển của chủ nghĩa tư bản, trở thành công cụ để chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản thực hiện mục đích xâm chiếm, thống trị, khai thác các thuộc địa. Thời kỳ hiện đại, với sự ra đời của nền dân tộc học Xô viết, dân tộc học có vai trò trong việc đưa xã hội con người tiến lên bước phát triển cao hơn nhằm đảm bảo sự bình đẳng dân tộc. Và dựa trên những kiến thức tự mình tích lũy trong quá trình giảng dạy, giáo trình của GS Tocarev và thực tiễn hoàn cảnh Việt Nam, PTS Phan Hữu Dật hoàn thành cuốn sách đầu tay Cơ sở dân tộc học (Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1973). Đây là cuốn giáo trình “gối đầu giường” cho giảng viên, sinh viên các trường đại học và cao đẳng có giảng dạy dân tộc học, được sử dụng đến những năm 1990.

Chuyên đề thứ hai PTS Phan Hữu Dật phụ trách là phương pháp điền dã dân tộc học. Ông kể về chuyến đầu tiên đưa sinh viên đi thực tập ở vùng người Mường huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Ông cùng với trưởng đoàn Nguyễn Dương Bình[5] hướng dẫn sinh viên tìm hiểu về quá trình di cư, văn hóa mưu sinh, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần… Một đặc điểm của dân tộc học là nghiên cứu điền dã, với phương châm “ba cùng” với nhân dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm). Thầy Dật đã dạy sinh viên như vậy, hướng dẫn sinh viên ghi lại những điều quan sát và nghe được. Dựa theo phương pháp điền dã của nhà dân tộc học Liên Xô Gromov, thầy yêu cầu sinh viên khảo sát toàn diện về vấn đề tộc người, quá trình lịch sử, các khía cạnh văn hóa, đời sống… và cả cách làm bảng thống kê, cách vẽ minh họa đối với nhà sàn, công cụ sản xuất, trang phục…

Chuyên đề thứ ba PTS Phan Hữu Dật giảng cho sinh viên là về "Các trường phái dân tộc học". Nói đến đây, ông khẳng định: Đây là một nội dung quan trọng của chuyên ngành dân tộc học, bởi lẽ nó góp phần khẳng định vai trò quan trọng của dân tộc học. Nếu như ở các nước tư bản Tây Âu, dân tộc học ra đời nhằm phục vụ cho sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc chậm tiến, thì ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, dân tộc học là một công cụ để thực hiện bình đẳng dân tộc, đưa các dân tộc chậm tiến phát triển lên con đường phồn vinh[6]Ông liên hệ với thực tế ở Việt Nam, rằng dân tộc học Việt Nam phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và vì sự tiến bộ của các dân tộc.

Giáo sư Phan Hữu Dật giảng nhiều chuyên đề về các dân tộc bắt đầu từ các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme ở Việt Nam đến các dân tộc Hmông - Dao, các dân tộc ở Đông Nam Á… PGS.TS Nguyễn Văn Huy[7] và TS Lưu  Hùng[8] còn giữ được những cuốn vở ghi bài giảng chuyên đề "Các tộc người và ngôn ngữ Môn - Khơme ở miền Bắc Việt Nam". Đó là chuyên đề được thầy Phan Hữu Dật biên soạn dựa trên những kiến thức về tộc người và ngôn ngữ mà ông đã đọc, tìm hiểu từ khi còn là sinh viên và nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Ông cũng rất chú trọng đến những vấn đề nghiên cứu xã hội nguyên thủy, cống hiến của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác về mặt phương pháp luận hay quan điểm của các học giả Xô viết về hai bước nhảy vọt trong quá trình hình thành con người.

Một chuyên đề rất quan trọng của dân tộc học Việt Nam mà giảng viên Phan Hữu Dật phụ trách là“Chính sách dân tộc của Đảng”. Ông vận dụng Cương lĩnh dân tộc của Lênin để phân tích các quan điểm trong chính sách dân tộc của Đảng ta. Trong bài giảng, ông tập trung xem xét mối quan hệ dân tộc, từ lý luận đến thực tiễn. Ông đã dày công nghiên cứu những bài học kinh nghiệm trên thế giới, chỉ ra những đặc điểm trong mối quan hệ dân tộc ở nước ta và những luận điểm nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ dân tộc hiện nay.

Trong hơn 40 năm giảng dạy dân tộc học, thầy Phan Hữu Dật đã truyền tải kiến thức của mình đến lớp lớp các thế hệ sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh. Nhiều nghiên cứu sinh do ông trực tiếp hướng dẫn đã trở thành những nhà khoa học đầu ngành trong những lĩnh vực mà họ nghiên cứu. Đó là PGS.TS Hoàng Lương[9] với những nghiên cứu về cư dân Tày - Thái ở Tây Bắc; PGS.TS Lâm Bá Nam[10] về cư dân Việt - Mường… Họ đã bước tiếp con đường dân tộc học với mục tiêu xây dựng nền dân tộc học/nhân học Việt Nam cập nhật với những thành tựu khoa học tiên tiến trên thế giới. Khẳng định vai trò của GS Phan Hữu Dật trong hoạt động giảng dạy - đào tạo, PGS Lâm Bá Nam từng viết: “Với cương vị là nhà giáo, ông đã tham gia đào tạo hàng nghìn cử nhân Dân tộc học và Sử học, hướng dẫn hàng chục nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Ông còn trực tiếp giảng dạy cho các lớp bồi dưỡng cán bộ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cũng như các trường đại học..., đồng thời tham gia giảng dạy các vấn đề dân tộc ở Việt Nam tại một số trường đại học trên thế giới như: Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva (Liên Xô), Đại học Humbolt (Đức) và nhiều hội thảo khoa học quốc tế”[11]. Bên cạnh đó, ông còn tích cực viết sách giáo trình, sách chuyên khảo dân tộc học, ví dụ như:  Văn hóa lễ hội của các dân tộc ở Đông Nam Á (chủ biên, 1992); Lễ cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam (chủ biên, 1994); Văn hóa Thái Việt Nam (đồng tác giả với Cầm Trọng, 1995); Phương sách dùng người của cha ông ta trong lịch sử (chủ biên, 1998); Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam (1998); Góp phần nghiên cứu Dân tộc học Việt Nam (2003)...

Vị trưởng lão râu dài

Ngay từ khi còn là sinh viên khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong học tiết đầu tiên của môn Dân tộc học đại cương, chúng tôi đã được các thầy nhắc đến một trong những vị trưởng lão của bộ môn Dân tộc học là GS.TS Phan Hữu Dật. Nhưng phải đến khi vào chuyên ban dân tộc học và khi bộ môn Dân tộc học tách khỏi khoa Lịch sử để trở thành bộ môn Nhân học (2011), chúng tôi mới có cơ hội được diện kiến vị trưởng lão với bộ râu dài như ông tiên trong truyện cổ tích. Khi ấy, GS Phan Hữu Dật đã ngoài 80 tuổi, nhưng vẫn nhận lời giảng chuyên đề về hôn nhân và gia đình cho sinh viên năm cuối chuyên ban Dân tộc học của khoa Lịch sử. Với giọng dõng dạc, hào sảng và đậm chất Huế, GS Phan Hữu Dật say sưa nói về những hình thức hôn nhân từ xã hội nguyên thủy đến xã hội hiện đại, từ các hình thức hôn nhân của người Vân Kiều, hôn nhân liên minh ba thị tộc đến hệ thống bốn hôn đẳng ở Tây Nguyên… Và 6 năm sau, khi tôi có dịp gặp lại, sức khỏe của thầy Phan Hữu Dật đã có phần giảm sút, nhưng niềm say mê nghề, yêu nghề của một thầy giáo suốt đời phụng sự cho sự phát triển của nền dân tộc học/ nhân học ở Việt Nam vẫn vẹn nguyên.

Người ta thường nói, thước đo sự thành công của một thầy giáo chính là sự thành đạt của học trò, điều đó cũng đúng với GS Phan Hữu Dật, nhưng dường như chưa đủ. Ông từng phát biểu về hành trình đến với cách mạng, về chặng đường gắn bó với trường Đại học Tổng hợp Hà Nội với một tấm lòng trân trọng và biết ơn: “Sinh ra tôi là cha mẹ tôi. Dẫn dắt tôi đến với cách mạng là Đảng Cộng sản Việt Nam, là Bác Hồ kính yêu. Nơi đã tôi rèn, động viên, cộng tác, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trưởng thành là mái trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nếu không có những con người ấy, những hoàn cảnh ấy thì không có tôi ngày hôm nay”[12]. Và nay, ở thời điểm sắp bước sang tuổi 90, GS Phan Hữu Dật đã nói lời tri ân cuộc đời, tri ân những người đồng hành cùng ông trong suốt mấy thập kỷ như vậy. Ông cảm thấy hạnh phúc bởi đã trọn vẹn hai chữ "làm thầy".

 

Nguyễn Thị Hiên

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 


[1] Theo cải cách giáo dục năm 1950, hệ thống giáo dục phổ thông gồm: 3 cấp học: cấp I: 4 năm, cấp II: 3 năm; cấp III: 2 năm.

[2] Ghi âm phỏng vấn GS.TS Phan Hữu Dật, 10-8-2017, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[3] Ghi âm phỏng vấn GS.TS Phan Hữu Dật, 10-8-2017, đã dẫn.

[4] Ghi âm phỏng vấn GS.TS Phan Hữu Dật, 10-8-2017, tài liệu đã dẫn.

[5] Ông Nguyễn Dương Bình, sau là Phó giáo sư, Tổng biên tập Tạp chí Dân tộc học.

[6] Ghi âm phỏng vấn GS.TS Phan Hữu Dật, 17-8-2017, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[7] PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Viện phó Viên Dân tộc học, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

[8] TS Lưu Hùng, Phó giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

[9] Nguyên Chủ nhiệm bộ môn Nhân học, sau là khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

[10] Nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

[11] http://nhanhoc.edu.vn/chan-dung/438-nguoi-tron-doi-vi-su-nghiep-giao-duc-va-phat-trien-nganh-nhan-hoc.html.

[12] Phát biểu của Giáo sư Phan Hữu Dật tại lễ mừng thọ tuổi 80 do trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, tháng 8-2008.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: