14/11/2017 9:11:58 SA - Trọn vẹn nghiệp làm thầy

13/11/2017 2:49:02 CH - Người tìm tên cho cá

09/11/2017 4:58:28 CH - Xuất chúng Nguyễn Thị Lê

Ký ức về hai bậc thầy ngành Tai Mũi Họng
Cập nhật lúc: 09:27, Thứ Hai, 23/10/2017 (GMT+7)

Giáo sư Trần Hữu Tước và Giáo sư Võ Tấn là hai thầy giáo có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Ngô Ngọc Liễn. Nhắc đến các thầy, những kỷ niệm, những mảng màu sáng tối, buồn vui năm xưa ùa về trong ký ức của GS Ngô Ngọc Liễn.

Giáo sư Ngô Ngọc Liễn từng là sinh viên lớp Đại học Y Hà Nội khóa 1954-1960. Đây là lớp sinh viên đặc biệt, tựu trường sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc và sau này trở thành những cốt cán của nền y học Việt Nam. Sau khi tốt nghiệp đại học, Ngô Ngọc Liễn được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy, đồng thời cũng là bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng ở Bệnh viện Bạch Mai. Bước vào nghề, ông may mắn được dẫn dắt bởi hai bậc thầy của ngành Tai mũi họng là bác sĩ Trần Hữu Tước và bác sĩ Võ Tấn.

 
 GS Trần Hữu Tước (thứ 3 từ trái) cùng các học trò tại Tuần Châu, Quảng Ninh, 1963. Bác sĩ Ngô Ngọc Liễn (bên trái)

Thời sinh viên khóa 1954-1960 (Y54-60) thường được nghe GS Hồ Đắc Di, GS Trần Hữu Tước nhắc nhở: Không gì khổ bằng thầy thuốc dốt. Khám cho bệnh nhân mà không biết chẩn đoán, không biết cho thuốc gì thì thật là khổ tâm! Cũng chính từ những lời thầy dạy mà sinh viên thời đó đều cố gắng và giúp đỡ nhau trong học tập. Họ thường xuyên trao đổi tài liệu, bài vở để bổ sung kiến thức cho nhau. Đó là thời kỳ đẹp, khó có thể lặp lại trong lịch sử của trường Y.

Đối với bác sĩ Ngô Ngọc Liễn, bộ môn Tai mũi họng trường Đại học Y Hà Nội để lại ấn tượng khá lớn vì có thầy giáo giỏi. Nổi tiếng nhất khi ấy là GS Trần Hữu Tước từ Pháp về, thầy tham gia nhiều công tác, có tiếng trong ngành y. Theo nhiều sinh viên thì thầy Tước giảng không hay, khi giảng thầy hay nói “quả nhiên là”, đến nỗi nhiều người gọi là thầy “quả nhiên là”. Tuy nhiên, sinh viên Ngô Ngọc Liễn và không ít người lại rất thích thú cách giảng của thầy Tước, vì thầy luôn giảng từ lý thuyết cơ bản để suy ra lâm sàng, từ lâm sàng để tìm ra cơ sở cho chẩn đoán và điều trị. Những bài giảng của thầy Tước đều rất súc tích. Còn thầy Võ Tấn chủ yếu hướng dẫn thực hành.

Như GS Ngô Ngọc Liễn cho biết, ông theo chuyên khoa tai mũi họng cũng có nhiều điều bất ngờ, giống như cuộc đời có nhiều cái lạ, khó lường trước được. Khi học năm thứ 5, sinh viên được ghi nguyện vọng về ngành học. Thời ấy sinh viên học hết năm thứ 5 đã bắt đầu đi chuyên khoa, năm cuối cùng sẽ học chuyên khoa. Thực ra, Ngô Ngọc Liễn đăng ký chuyên khoa nhi và vệ sinh dịch tễ, nhưng do nhà trường có kế hoạch củng cố các bộ môn, nên danh sách cuối cùng ông được phân công vào chuyên khoa mắt – một chuyên khoa mới lúc đó. Có đến 99% dân nông thôn bị bệnh mắt hột, vì chủ yếu do chưa có nước sạch; câu “cả làng toét mắt riêng mình em đâu” là câu rất phổ biến bấy giờ. Vì thế, nhà trường quyết định tăng cường cho bộ môn Mắt.

Thực hiện theo sự phân công, Ngô Ngọc Liễn về bộ môn Mắt và ở đây được 2 tuần. Nhưng theo ông giải thích: Có lẽ GS Nguyễn Xuân Nguyên không thích lớp của tôi, vì GS Nguyên nhắm tới lớp anh em học quân y. Lúc đó đi theo chuyên khoa Tai mũi họng có 4 sinh viên trong lớp tôi là anh Cầu (đã nhiều tuổi, chúng tôi gọi là Cầu bố, có 3 con rồi), anh Bảng (Bảng đen), anh Cường (Cường phệ) và anh Lâm (anh Lâm là đoàn viên, kém tôi một tuổi và anh không có khả năng ngoại ngữ tốt, thuộc diện sẽ là nòng cốt ở bộ môn Tai mũi họng). Lúc đó GS Trần Hữu Tước đặt vấn đề xin trường thêm một cán bộ là đoàn viên. Không biết ai giới thiệu mà thầy Tước lên bộ môn Mắt, trao đổi với thầy Nguyên để xin tôi về bộ môn Tai mũi họng. Giáo sư Nguyên đồng ý. Khi yêu cầu tôi về bộ môn Tai mũi họng, tôi không chút ngại ngần. Thầy Tước hẹn gặp tôi ở bộ môn Tai mũi họng, thầy hỏi: “Liễn thích chuyên khoa gì?”. Tôi chần chừ: “Thực ra, trong các chuyên khoa, em xin đi nội nhưng em cũng thích cả ngoại nữa”. Thầy Tước nói một câu mà tôi rất thích: “Thế thì Liễn về Tai mũi họng là hợp lý, vì vừa phải giỏi nội và phải giỏi ngoại. Vì thế tôi đi theo chuyên khoa Tai mũi họng.. Do thầy Tước xin trực tiếp về nên tôi sẽ là cán bộ ở lại bộ môn, được thầy Tước lưu tâm[1].

Chuyên ngành Tai mũi họng thời kỳ đó là một khoa của Bệnh viện Bạch Mai do Giám đốc bệnh viện - GS Trần Hữu Tước kiêm Chủ nhiệm khoa. Khoa Tai mũi họng chỉ có 4 phòng là B1, B3, B5, B7 nằm ở khu B. Mỗi một phòng có khoảng 20 giường bệnh. Khi Ngô Ngọc Liễn về khoa Tai mũi họng (1960) thì đó là một chuyên khoa đang nổi, vì thầy Trần Hữu Tước là người rất năng động, sáng tạo, luôn đặt ra vấn đề phải phân chuyên khoa, như: tai mũi họng nhi, tai mũi họng cấp cứu, tai mũi họng tai xương chũm, mũi xoang...

Việc tổ chức học thực hành của các ông chủ yếu do thầy Tước và thầy Võ Tấn phụ trách. Nhưng thầy Tước còn bận nhiều công tác khác nên việc học ở khoa do thầy Võ Tấn hướng dẫn. Trong khoa lúc đó còn có bác sĩ Lương Sỹ Cần và bác sĩ Lợi. Ông cho biết: Chúng tôi phải tự xác định là bám hai thầy Tước và thầy Tấn, và tranh thủ học anh Lợi, anh Cần, nhưng tự học là chính[2].

Việc học về chuyên môn rất thuận lợi vì bệnh nhân nhiều, thầy thuốc thì ít nhưng các thầy đều giỏi. Thầy Tước dạy thiên về lý luận. Giáo sư từng học ở Pháp và làm bác sĩ nội trú các bệnh viện ở Paris, rồi làm trợ lý cho một giáo sư hàng đầu về tai mũi họng của Pháp và thế giới. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, GS Trần Hữu Tước đã theo Người về nước và tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. GS Trần Hữu Tước có trình độ chuyên môn cao, đặc biệt sâu về lý thuyết. Cụ biết tiếng Anh, Pháp, Trung và có trình độ văn hóa tốt, uyên thâm. Sau này BS Liễn còn có thiên hướng nghiên cứu văn học, sử học cũng là nhờ ảnh hưởng từ thầy Tước.

Theo GS Ngô Ngọc Liễn, thầy Trần Hữu Tước là người khai sinh ra ngành Tai mũi họng ở Việt Nam. Vào những năm 60-70 thầy có vai trò rất lớn trong ngành. Thầy Tước là người tiên phong đưa phẫu thuật và kiến thức chuyên môn sâu vào chuyên ngành tai mũi họng, đồng thời sẵn sàng hướng dẫn lớp cán bộ kế cận và sinh viên. Đặc biệt, trong mỗi bài giảng, mỗi lần hướng dẫn học trò, thầy Tước luôn nhấn mạnh và yêu cầu tinh thần trách nhiệm, lòng yêu thương của bác sĩ đối với người bệnh. Tôi còn nhớ, có lần xem kịch ở Nhà hát Lớn cùng thầy. Đến giờ nghỉ, thầy nói rằng phải chạy về viện xem lại bệnh nhân mới mổ lúc sáng. Bao giờ thầy cũng tự thăm khám lại bệnh nhân của mình[3] - Ông Liễn nhớ lại.

Giáo sư Trần Hữu Tước cũng là người đầu tiên đề xuất những hướng phát triển tương lai cho ngành tai mũi họng mà khi ấy còn khá xa lạ với ngành y tế nước nhà và không ít người cho là viển vông. Năm 1963, trong buổi họp phát triển chuyên ngành, ngoài nhấn mạnh việc phải giải quyết được các bệnh đã có từ lâu như mổ tai xương chũm, mũi xoang..., thầy còn đặt vấn đề phải nghiên cứu và giải quyết vấn đề câm điếc của trẻ em. Đặc biệt thầy gặp riêng Ngô Ngọc Liễn để phân tích, thuyết phục học trò của mình đi vào một lĩnh vực rất mới là tai mũi họng công nghiệp. Thầy nói rằng: Tai mũi họng không phải mãi mãi chỉ là chữa các bệnh chảy mủ, thò lò mũi, amidan, mà tai mũi họng phải phát triển cùng sự phát triển của xã hội... Ngành tai mũi họng phải phục vụ công nghiệp, công nhân mỏ than, khai khoáng, mà sau này sẽ có thêm ngành sản xuất cơ khí, điện lực...đều rất cần được các bác sĩ tai mũi họng chăm sóc sức khỏe. Tôi thấu hiểu vấn đề đó và lúc đầu hơi băn khoăn khi đi sang lĩnh vực chưa biết gì là tai mũi họng công nghiệp. Nhưng chính tầm nhìn sớm của thầy mà tôi đi vào lĩnh vực tai mũi họng công nghiệp, và sau này mở ra một lĩnh vực mới là điếc nghề nghiệp[4].

Thầy Trần Hữu Tước còn luôn nhắc nhở Ngô Ngọc Liễn phải đặc biệt chú ý tới nghiên cứu khoa học, bên cạnh giảng dạy và công tác lâm sàng. Từ năm 1960 đến năm 1965, bác sĩ Ngô Ngọc Liễn đã có được 6-7 công trình đăng báo hoặc tham dự hội nghị. Trong số các công trình, ông thích thú với đề tài Viêm tai xương chũm hài nhi thể ẩn. Khi tìm hiểu về hiện tượng nhiều trẻ em bị tử vong do ỉa chảy ở Hà Nội, bác sĩ Ngô Ngọc Liễn đã rút ra được nhiều kinh nghiệm. Ông cho biết, khi ấy có nhiều trẻ em bị ỉa chảy, nhiễm độc và tử vong. Các bác sĩ tiến hành giải phẫu tử thi nhưng không tìm được bệnh tích nào. Ông trao đổi, xin ý kiến GS Trần Hữu Tước và thầy chỉ cho nên cố gắng mổ tai xương chũm xem có bị tổn thương không. Làm theo gợi ý của thầy, ông nhận thấy mặc dù không thủng tai nhưng có dịch trong tai. Từ đó đi tới một khuyến cáo là khi trẻ nhỏ bị đi ngoài cần phải khám và kiểm tra kỹ càng màng tai. Phát hiện màng tai có dịch, mủ, đó là biểu hiện, phải xử lý ngay, dễ xảy ra nhiều biến chứng. Nhờ vậy khá nhiều cháu bé đã được cứu chữa. Công trình nghiên cứu này được báo cáo ở hội nghị khoa học toàn trường Đại học Y năm 1963 và được nhà trường khen thưởng.

Giáo sư Ngô Ngọc Liễn có được những thành tựu khoa học như ngày nay là nhờ định hướng, sự quyết liệt của thầy Tước dành cho ông. Nói về sự tin tưởng và kỳ vọng của GS Trần Hữu Tước khi cử ông theo học về bệnh điếc nghề nghiệp, ông kể: Khi tôi được cử đi học về lĩnh vực điếc nghề nghiệp tại CHDC Đức, khi mà ngay đến máy đo điếc tôi chưa từng thấy. Nhưng thầy Tước đã cho rằng điếc nghề nghiệp, điếc trong bệnh tai mũi họng, điếc do tiếng ồn là vấn đề rất lớn của xã hội. Sau 20-30 năm và nhất là đến giờ tôi càng hiểu thấu vấn đề đó. Tôi rất phục thầy, tầm nhìn của thầy, và tiếc rằng nhiều vấn đề không duy trì, không thực hiện được tiếp[5].

Bác sĩ Ngô Ngọc Liễn là người ở cạnh thầy Trần Hữu Tước trong những ngày tháng cuối đời. Ông chia sẻ về những gì đã chứng kiến, đến nay vẫn giữ trong lòng. “Khi bệnh thầy đã ở giai đoạn cuối, tôi luôn túc trực bên giường thầy trong bệnh viện. Ngoài ra còn anh y tá tên Toàn. Độ 9h sáng vào một ngày tháng 10 năm 1983, ông Lê Đức Thọ - khi đó là Trưởng ban Tổ chức Trung ương đến thăm thầy Tước cùng một thư ký, ông Thọ ân cần hỏi thăm và nói đại ý: “Tôi thay mặt Đảng, Chính phủ đến thăm anh, gửi quà cho anh”. Đó là năm 1983, quà của Đảng và Chính phủ tặng cho GS Trần Hữu Tước chỉ có một chai mật ong rừng và 5 củ tam thất. Ông Thọ nói tiếp: “Đảng, Chính phủ ghi nhận công lao và đóng góp của anh qua hai cuộc kháng chiến; xây dựng không chỉ ngành tai mũi họng, Viện Tai mũi họng mà xây dựng chung ngành y tế Việt Nam. Về việc công, anh đã hoàn thành trách nhiệm. Anh còn khó khăn hay đề xuất gì về việc riêng, tôi sẽ cố gắng thực hiện”. Lúc đó thầy Tước đề đạt hai việc: xin cho con gái Trần Tố Dung, bác sĩ nội trú tai mũi họng được đi Pháp học. Ông Thọ nói rằng: “Nếu chỉ có thế thì tôi tham gia được, để cháu Dung đi Pháp nếu bên đó họ nhận”. Có mặt lúc đó, tôi trình bày thêm rằng thầy Tước có nhiều bạn và nhiều giáo sư quen biết ở Paris nên đã có những nơi nhận cháu Dung. Ông Thọ bảo thư ký ghi lại việc đó. Việc thứ hai thầy Tước đề đạt: Con trai tôi - cháu Khôi đủ điểm đi nước ngoài, được phân đi Liên Xô và không đi vào ngành y. Tôi có một cháu trai, muốn cho đi vào ngành Y và nếu được thì xin với Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp để cháu đi Đức, cháu Khôi sẽ cùng học với con gái anh Liễn, khi anh Liễn sang Đức tu nghiệp không những giúp được con anh ấy mà cả con tôi nữa”. Ông Thọ hỏi lại tôi, tôi cũng trình bày rõ hoàn cảnh như vậy. Ông Thọ hứa sẽ trao đổi thêm với Bộ trưởng. Mấy hôm sau cháu Khôi được chuyển sang diện đi học ở Đức. Trong buổi gặp ấy, không hề có đề xuất, ý kiến nào về việc ai sẽ kế tục làm Viện trưởng Viện Tai mũi họng, tức là thầy Tước không can thiệp vào nhân sự của Viện Tai mũi họng nữa[6].

Thầy Trần Hữu Tước ra đi để lại niềm tiếc nhớ đối với nhiều thế hệ học trò của trường Y. Riêng với bác sĩ Ngô Ngọc Liễn, thầy Tước không chỉ là một người thầy giáo, mà còn giống như một người cha. Ông khẳng định: Tôi có được cuộc sống như ngày nay, vừa làm tốt chuyên môn, vừa nghiên cứu văn học, lịch sử cũng là nhờ tiếp thu từ GS Trần Hữu Tước. Thầy luôn nhắc: “Muốn làm thầy thuốc giỏi phải có văn hóa tốt"[7].

Trái với vẻ bề ngoài sôi động của thầy Trần Hữu Tước là sự điềm đạm, giản dị của thầy Võ Tấn. Bác sĩ Ngô Ngọc Liễn có cơ hội được làm việc bên cạnh thầy nhiều năm và có may mắn được thầy yêu quý. Bác sĩ Võ Tấn là người “làng Tây”, con một đốc phủ sứ ở Nam bộ. Sau khi ra Hà Nội học trường Y, ông sang Pháp học tiếp và tốt nghiệp bác sĩ ở Pháp. Ông có quốc tịch Pháp, mang tên Giăng Võ Tấn.

Khi Ngô Ngọc Liễn làm công tác công đoàn của bộ môn Tai mũi họng, trường Đại học Y Hà Nội, được nhà trường giao nhiệm vụ vận động bác sĩ Võ Tấn từ bỏ quốc tịch Pháp, thì thầy chỉ cười mà không giải thích. Trước năm 1954, thầy Tấn là Phó chủ nhiệm khoa Tai mũi họng của Bệnh viện Bạch Mai (Chủ nhiệm là một người Pháp). Thời sau 1954, cũng có tin đồn rằng thầy Tấn có ý định vào Nam, nhưng đó không phải là sự thật. Theo ông Liễn thì: Vốn người làng Tây, thầy Giăng Võ Tấn muốn đi Nam lúc nào chỉ cần báo với sứ quán Pháp. Nhưng tôi phục thầy là dù mang quốc tịch Pháp nhưng trong thầy luôn nặng lòng yêu nước. Sau này thầy mới kể: thầy tham gia tổ chức bí mật cứu quốc trong những năm 1950 ở Hà Nội, do đồng chí Nguyễn Bắc phụ trách (sau công tác ở Thành ủy Hà Nội). Thầy đưa cho tôi xem những giấy chứng nhận về việc nuôi giấu cán bộ bị thương ở nhà mình. Vì thầy Tấn là người làng tây, nên cảnh sát không được vào khám nhà. Thầy chăm sóc đồng chí cán bộ bị thương khoảng hơn 10 ngày, mổ lấy đầu đạn và chữa trị vết thương; sau đó đưa anh cán bộ đó thoát ra vùng tự do. Thầy kể, để anh cán bộ nằm ở sàn xe, khi đến trạm gác, thầy giơ thẻ Giăng Võ Tấn và nói rằng đi hóng mát là lính cho qua, chỉ cần qua trạm gác ở phía nam Văn Điển là có du kích đón. Sau này, khi nhà trường đề nghị thầy đưa giấy chứng nhận của Thành ủy để xét khen thưởng nhưng thầy từ chối. Thầy bảo: “Làm vậy không phải để được khen thưởng, làm vì lòng yêu nước”, nhưng tôi được thầy cho xem giấy đó để mọi người có thể tin tưởng mà thôi[8].

Trong những năm 60-70, kinh tế miền Bắc nước ta khó khăn. Việc Mỹ đánh phá miền Bắc càng làm cho đời sống nhân dân khó khăn hơn về mọi mặt. Sách báo, tài liệu ở các thư viện cũng khan hiếm. Tuy nhiên, thầy Võ Tấn vẫn có các tài liệu mới về y học, đặc biệt là về chuyên khoa tai mũi họng. Biết Ngô Ngọc Liễn là người chăm chỉ nên thầy bảo đến nhà tìm tài liệu để đọc, thậm chí thầy cho mang về, khi nào đọc xong thì trả. Ông Liễn cho biết: Ngay đến Thư viện Trung ương cũng không có được đầy đủ sách báo chuyên môn về y học như của thầy. Do thầy có một số tiền gửi ngân hàng ở Pháp, với số tiền lãi hàng tháng, hàng năm thầy đặt mua các tạp chí cơ bản, yêu cầu gửi về theo địa chỉ ở Việt Nam và người ta cứ thế gửi về. Tôi có hỏi thầy số tiền ấy còn được đến bao giờ thì thầy nói: “Tôi không biết vì tôi không theo dõi sát sao cho lắm, có nhiều năm tiền lãi đủ mua sách báo, có năm thâm hụt vào tiền gốc, nhưng còn được lâu dài[9].

 

 GS Võ Tấn (bên phải) cùng bác sĩ Ngô Ngọc Liễn tại Đại hội

của Hội Tai Mũi Họng Việt Nam, Đà Nẵng, 1997

Những năm khó khăn ấy, thầy Võ Tấn chưa có học hàm giáo sư, chưa có tiêu chuẩn gì đáng kể. Làm việc với thầy Võ Tấn, Ngô Ngọc Liễn thấy thầy thường ở lại bệnh viện vào buổi trưa, phần do công việc hàng ngày của thầy là các ca mổ, giảng bài ở trường Y, thăm bệnh nhân. Ông Liễn nhớ lại: Buổi trưa thầy chỉ ăn cái bánh mì và 2 quả chuối. Thầy bảo bị huyết áp nên chỉ ăn như thế. Tôi rất thán phục lối sống kham khổ của thầy Tấn. Thầy Tấn chỉ có bộ bàn ghế làm việc ở bộ môn, buổi trưa thầy nằm nghỉ ngay trên bàn làm việc[10].

Có một kỷ niệm với thầy Võ Tấn mà đến tận bây giờ GS Ngô Ngọc Liễn vẫn còn nhớ như in: Năm 1967, có lần đi tiền trạm ở Hà Đông về muộn, tôi đạp xe vào nhà thầy Tấn để báo cáo tình hình. Thầy hỏi tôi ăn chưa. Tôi bảo chưa và thú thực là lúc ấy rất đói. Thầy nói: “Muộn rồi, tôi hỏi nhà tôi xem có gì cho Liễn ăn tạm”. Tôi thấy gia đình thầy rất đầy đủ, có phòng ăn, bàn ăn với ghế đẹp, khăn trải bàn. Trong vòng 10 phút vợ thầy chuẩn bị cho tôi mấy lát bánh mì, bơ và mấy quả trứng ốp lết, ăn bằng dao dĩa và có khăn ăn. Khi tôi làm tổ trưởng công đoàn ở bộ môn, trường có đợt bán phân phối xe đạp Thống nhất, thầy xin mua chiếc xe đạp, tôi biết thầy có 2 ô tô, nhưng hàng ngày thầy toàn đi xe đạp[11].

Theo GS Ngô Ngọc Liễn thì GS Võ Tấn, cũng như GS Trần Hữu Tước, là một tấm gương sáng cho toàn ngành tai mũi họng. Đặc biệt, ông học ở thầy Tấn hai điều: Thứ nhất, khi giàu sang cũng như lúc khó khăn thầy đều sống dân dã, giản dị; thứ hai, thầy luôn giữ được niềm say mê nghề nghiệp và đặc biệt là không bao giờ xa rời lao động nghề nghiệp. Khi đã ngoài 80, thậm chí ngoài 90 rồi nhưng thầy vẫn giữ thói quen một tuần 2-3 lần đến khám bệnh ở Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Là Giáo sư, Bác sĩ cao cấp, nhưng thầy đến làm việc rất đúng giờ, về đúng giờ. Ngoài việc khám chữa bệnh, thầy còn hướng dẫn, giảng giải cho các bác sĩ nội trú. Bên cạnh đó, thầy vẫn tham dự các buổi sinh hoạt chuyên môn, đặc biệt là các hoạt động của Hội Tai mũi họng ở Đà Nẵng, Đà Lạt và đóng góp nhiều ý kiến bổ ích, tuy thầy bị căn bệnh ung thư, đã qua hai lần phẫu thuật.

Thầy giáo là người mang đến cho học trò tri thức, phương pháp để họ tiếp bước trên con đường nghiên cứu, học tập. Nhưng đối với GS Ngô Ngọc Liễn, hai thầy Trần Hữu Tước, thầy Võ Tấn không chỉ cho ông tri thức, phương pháp, sự thành công trong khoa học, mà còn góp phần tạo lên một Ngô Ngọc Liễn mang phong cách của các thầy: tận tụy, giản dị, giỏi trong chuyên môn, am hiểu văn hóa, lịch sử.

 

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam



[1] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[2] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

[3] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

[4] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

[5] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

[6] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

[7] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

[8] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

[9] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

[10] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

[11] Ghi âm hỏi thông tin GS Ngô Ngọc Liễn, 18-1-2017, tài liệu đã dẫn.

 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: