14/11/2017 9:11:58 SA - Trọn vẹn nghiệp làm thầy

13/11/2017 2:49:02 CH - Người tìm tên cho cá

09/11/2017 4:58:28 CH - Xuất chúng Nguyễn Thị Lê

Niềm đam mê của “Bà đồ nho”
Cập nhật lúc: 17:12, Thứ Hai, 25/09/2017 (GMT+7)

Giới nghiên cứu, phê bình văn học đặt cho PGS.TS Trần Thị Băng Thanh biệt danh “Bà đồ nho” bởi phong thái đĩnh đạc trong nghiên cứu cũng như trong cuộc sống. Đặc biệt phải kể đến sự nghiệp nghiên cứu của bà dành cho văn học trung đại suốt nhiều triều đại phong kiến Việt Nam.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (1-1973), Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam bắt đầu mở các lớp nghiên cứu sinh nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ nghiên cứu, tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau mà số cán bộ theo học còn ít. Năm 1974, Ủy ban tiếp tục mở lớp đào tạo phó tiến sĩ khóa 2 và số lượng tuyển sinh được mở rộng. Trần Thị Băng Thanh là cán bộ của Viện Văn học, được cử đi học trong bối cảnh ấy.

Trong những thập niên 70-80, việc làm luận án phó tiến sĩ ở trong nước không bị giới hạn về mặt thời gian. Nghiên cứu sinh có thể thực hiện nghiên cứu, từ đó lựa chọn đề tài và đăng ký bảo vệ khi đã hoàn thành luận án. Sau gần một năm, tính đến thời điểm giải phóng miền Nam, bà Trần Thị Băng Thanh vẫn chưa chọn được đề tài luận án. Những khó khăn về mặt vật chất khiến bà chưa thể tập trung cho công việc này. Phó giáo sư Băng Thanh hồi tưởng: “Những năm ấy cực kỳ khó khăn, cả nước đã khó rồi, gia đình tôi lại bị chia tách. Bà chồng tôi bảo vào Huế sống cùng… Nhưng mẹ đẻ ở cùng tôi tại Hà Nội lại không đồng ý nên tôi đành ở lại”[1].

Trong quá trình làm nghiên cứu sinh và đã học xong các chương trình cơ bản nhưng bà Trần Thị Băng Thanh vẫn loay hoay tìm hướng cho đề tài luận án. Hồi đó giới nghiên cứu văn học đánh giá cao triều đại Tây Sơn. Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về văn học Tây Sơn, ví dụ ông Nguyễn Ngọc Nhuận nghiên cứu về Phan Huy Ích, Mai Quốc Liên tìm hiểu về Ngô Thì Nhậm, ông Hoàng Lê nghiên cứu về tác giả Ninh Tốn, ông Tuấn Lương đi sâu về tác giả Nguyễn Tuấn... Nói chung những tác giả đinh chốt của thời Tây Sơn đều có người nghiên cứu, chỉ có Nguyễn Du là tác giả lớn chưa ai dám đi sâu, bà Thanh cũng không dám. Bà nảy ra ý định nghiên cứu về Phan Huy Ích và đã chuẩn bị tương đối tư liệu về nhân vật này, nhưng ông Phạm Thiều[2] khuyên bà không nên vì đã có người đang nghiên cứu, nếu cùng làm luận án về một tác giả thì khó tránh khỏi bị trùng lặp. Bà chia sẻ: “Thật ra tôi đọc Phan Huy Ích cũng không thấy hay lắm. Nếu mình bỏ công làm thì phải điều chỉnh lại những cảm nhận, cảm xúc của mình nên tôi nhất trí với cụ Thiều. Cũng thời gian ấy, bộ Thơ văn Lý - Trần mà tôi tham gia biên soạn đang chuẩn bị ra được một tập, công việc chiếm khá nhiều thời gian, nên việc tìm đề tài luận án phải tạm dừng lại”[3].


PGS.TS Trần Thị Băng Thanh

Lúc ấy, trong số nghiên cứu sinh khóa 2 của Viện Văn học chỉ còn Trần Thị Băng Thanh chưa có đề tài. Thấy đồng nghiệp của mình đang ở thế bí, ông Nguyễn Huệ Chi khuyên bà thử nghiên cứu về Ngô Thì Sĩ[4] vì bố của ông là Nguyễn Đổng Chi từng đánh giá Ngô Thì Sĩ có những đặc sắc khác biệt so với các tác giả thế kỷ 18. Nhận được gợi ý đó, bà Thanh tiến hành tìm hiểu ngay. Bà cho biết: “Lúc đó Ngô gia văn phái đang được nghiên cứu. Có lần kỷ niệm ngày mất của Ngô Thì Nhậm, các nhà nghiên cứu mở rộng khai thác Ngô gia văn phái, tôi cũng thử nghiên cứu về Ngô Thì Sĩ bằng những bài dịch, tham gia hội thảo ở Lạng Sơn. Tôi bắt đầu đọc, khai thác và thấy thích nên nhất trí chọn Ngô Thì Sĩ làm đề tài nghiên cứu sinh. Chùm thơ “Khuê ai lục” của Ngô Thì Sĩ là điều mới lạ so với văn học cổ. Các cụ ngày xưa, đến thế kỷ 18 chỉ làm văn tế vợ, hoặc người ta làm theo kiểu viết về tình yêu, như Truyền kỳ mạn lục, dưới dạng Truyền kỳ Hồ Ly, hoặc phải là trung hiếu tiết nghĩa như Nhị độ mai. Mạnh dạn hơn là Truyện Kiều, chứ trực tiếp viết về một mối tình là không có. Ngay khi tế, lời văn tế cũng chỉ nói về mối tình của mình rất khái quát. “Khuê ai lục” là chùm thơ nói trực tiếp về mối tình với người vợ và rất hiện đại, mới mẻ. Nhưng lúc đó ở Viện Triết học, khi nghiên cứu về dòng thơ văn Tây Sơn người ta không đánh giá cao Ngô gia. Một số báo cáo, bài viết đăng trên tạp chí Triết học cho rằng Ngô Thì Sĩ làm quan cho Chúa Trịnh, rất ủng hộ triều đình Lê - Trịnh, ở thời kỳ đang sụp đổ thì cố níu kéo và là người thành đạt trên con đường quan chức nên ông không cảm thông, không có tư tưởng tiến bộ. Và chỉ Ngô Thì Nhậm được đánh giá cao vì ông ủng hộ phong trào Tây Sơn. Kể cả Lê Quý Đôn cũng có ý kiến cho là xu phụ chính thể Lê - Trịnh, không ủng hộ phong trào Tây Sơn…”[5].

Trong thời kỳ bà Trần Thị Băng Thanh làm nghiên cứu sinh cũng là lúc Viện Văn học đang hoàn thiện bản thảo cho tập 2 của bộ Thơ văn Lý - Trần. Bà Băng Thanh đảm nhiệm việc đọc bản thảo cho GS Đặng Thai Mai nghe để duyệt, vì lúc đó thị lực của cụ Mai đã suy giảm khá nhiều. Những người đọc cho GS Mai nghe thường được gọi là “thị độc”. Mỗi khi đến gặp, Giáo sư Mai thường khuyến khích “thị độc” hỏi về các vấn đề chuyên môn. Được làm việc cùng GS Đặng Thai Mai cũng là một cơ hội để bà củng cố thêm kiến thức của mình.

Thời gian đầu, khi làm việc cùng GS Đặng Thai Mai, bà Băng Thanh thường rất ý tứ, được hỏi thì trả lời, không dám trao đổi gì khác. Phó giáo sư Băng Thanh kể: “Một lần tôi đưa con trai nhỏ đến chúc Tết cụ. Tôi bảo con trai chào cụ, nó khép nép chào. Hôm đó con tôi mặc áo nhung có túi. Cụ Mai hỏi “có cái túi gì kia”? Cháu ngơ ngác không hiểu. Cụ bảo “mở túi ông xem”. Cháu mở túi và được cụ bốc kẹo cho vào túi. Rồi cụ nói: “thế đã đầy túi tham chưa?”. Như được giải tỏa, tôi thấy rất cởi mở và nói chuyện thoải mái hơn. Cụ hỏi tôi: “Cô có làm nghiên cứu sinh không?”. Tôi trả lời: “Có, cháu là nghiên cứu sinh khóa 2”. Sau đó cụ hỏi “chọn đề tài gì?”. Vì vậy tôi được dịp trao đổi với Giáo sư về những băn khoăn của mình khi thực hiện đề tài Ngô Thì Sĩ: “Cháu chọn đề tài mà thấy khó quá, hiện nay những đề tài mới thì cháu chưa biết, mà những phần cháu tiếp cận được, đã có đọc qua, biết ít nhiều thì chỉ có xung quanh thơ văn Lý - Trần và phong trào Tây Sơn thôi. Và băn khoăn lớn nhất của cháu là đánh giá nhân cách chính trị của Ngô Thì Sĩ như thế nào”. Cụ Mai nghiêm giọng: “Thế cô cho rằng nhân cách chính trị của ông ấy thì kém Ngô Thì Nhậm à?”. Tôi nói: “Cháu chỉ ngại lý giải chặng đường Ngô Thì Sĩ cộng tác với nhà Lê - Trịnh”. Theo cụ Mai Ngô Thì Nhậm đã làm quan dưới triều Lê - Trịnh lại bỏ đi theo Tây Sơn một cách dễ dàng, mà về nhân cách thì như thế là không được, vì vậy cụ không thích Ngô Thì Nhậm. Cụ phẩy tay và bảo tôi: “Ngô Thì Sĩ là nhân vật lớn thứ hai của thế kỷ 18”. Nghe được câu ấy thì tôi rất vui. Cảm giác như đang nặng nhọc trên một quãng đường xa, không biết lúc nào đến nơi, thì có người nhấc đi cho mình một cái gánh rất nặng trên vai. Tôi hỏi: “Thưa bác cháu có thể chọn Ngô Thì Sĩ?”. Cụ bảo “ừ” rồi cụ nói tiếp: “Nếu có gì chưa biết rõ, cần cái gì cứ xuống, tôi sẽ giảng cho cô”. Lúc đó tôi thấy mình đã có chỗ dựa thật là vững”[6]. Tuy nhiên sau đó sức khỏe cụ Đặng Thai Mai yếu dần, mắt mờ nên phải đi Cộng hòa Dân chủ Đức chữa bệnh, khi cụ về nước thì chỉ làm một số việc của Viện, không có thời gian cho dành cho bà Băng Thanh.

Như đã nói ở trên, ông Huệ Chi đã gợi ý một vấn đề nghiên cứu mới để bà Thanh thực hiện. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu thơ văn Lý - Trần, những quan niệm về phương pháp hay văn bản học, ông Nguyễn Huệ Chi đều trao đổi với các thành viên của nhóm. Đó là những gợi ý rất tốt, và sau này bà Thanh cũng như các thành viên của nhóm tự bồi đắp thêm để có những quan niệm riêng và tự làm công việc của mình. Có thể nói, ông Nguyễn Huệ Chi có một vai trò quan trọng đối với quá trình làm nghiên cứu sinh của bà Trần Thị Băng Thanh.

Bà Băng Thanh và ông Huệ Chi vừa có mối quan hệ bạn bè thân thiết, vừa có mối quan hệ đồng nghiệp, cùng học lớp đại học Hán học (1966-1968), hỗ trợ nhau một cách khăng khít trong công việc, nên hai người có thể trao đổi thẳng thắn, thậm chí là tranh luận căng thẳng.

Về thầy hướng dẫn thực hiện luận án - ông Vũ Đức Phúc (Viện phó Viện Văn học từ 1970-1984), bà Trần Thị Băng Thanh kể: “Được cụ Phúc nhận hướng dẫn, lại được cụ Đặng Thai Mai nhận xét Ngô Thì Sĩ là một nhân vật lớn thứ hai của thế kỷ 18, tôi rất vui mừng bắt tay triển khai đề tài. Tôi không nhớ đó năm bao nhiêu. Thời ấy khá thoải mái về mặt thời gian, có đề tài cứ làm, bao giờ xong thì bảo vệ, không ai o ép gì cả. Thậm chí bảo vệ không được, chữa bao giờ được thì thôi, bảo vệ một lần không được thì lại chữa, lại bảo vệ. Có người bảo vệ tới lần thứ ba, cũng không sao cả”[7].

Từ năm 1974-1987, Ban Văn học cổ - cận đại tập trung biên soạn để xuất bản các tập sách, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Khuyến, Trương Hán Siêu, Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi… nên công việc rất nhiều. Bị cuốn vào các công trình đó cũng là dịp để bà Băng Thanh thu thập tài liệu. Bà cho rằng mình có một mảnh vườn riêng, mỗi khi thu nhặt được nguồn giống gì thì mang về trồng. Khi tìm hiểu về Ngô Thì Sĩ, bà đọc rộng ra cả văn phái họ Ngô, Ninh Tốn, văn phái Tây Sơn, Nguyễn Bá Xuyến. Bà tìm hiểu khá kỹ, tiến hành ghi chép từng bài, bài nào đã dịch thì điền thêm thơ chữ Hán vào. Từ đó bà thấy được bối cảnh chung của thế kỷ 18, thấy được Ngô Thì Sĩ là người có trách nhiệm với tình hình xã hội, việc học thi, việc nông dân đói khổ, nông dân bỏ làng..., ông hiện thân như một nhân vật tiêu biểu của thế kỷ này.

Năm 1987, sau khi hoàn thành bản thảo luận án “Ngô Thì Sĩ - Những chặng đường trước tác”, bà Trần Thị Băng Thanh làm các thủ tục để bảo vệ. Bà kể: “Tôi đến gặp PGS Hoàng Hữu Yên, tính cụ hơi cổ, chặt chẽ trong nhận xét, nhưng rất thoải mái khi trao đổi, nhiều lúc tôi còn tranh luận với cụ. Sở dĩ như vậy vì tôi từng qua lại đặt bài, làm việc phục vụ các hội thảo về Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi trình bày luận án trước hội đồng thì các thầy cũng rất thoải mái, chỗ nào nghiên cứu sinh bảo lưu thì cũng cho bảo lưu, vì đề tài về Ngô Thì Sĩ còn rất mới, người ta chưa làm, tư liệu tôi đưa ra rất thuyết phục. Những nhận định của tôi cũng rất mới. Trước đây chỉ có cụ Nguyễn Đổng Chi và hai nhà nghiên cứu khác đã từng viết về Ngô Thì Sĩ trong lịch sử văn học. Và vì Ngô Thì Sĩ không phải là tác giả trọng điểm nên không viết kỹ, vì vậy tôi rất rộng chỗ, “tha hồ múa”[8].

Hội đồng chấm luận án của nghiên cứu sinh Trần Thị Băng Thanh gồm 11 thành viên, trong đó GS Vũ Khiêu là Chủ tịch, ông Nguyễn Huệ Chi là thư ký, ngoài ra có các thành viên như Đặng Đức Siêu, Bùi Duy Tân, Hoàng Hữu Yên, Bùi Trương Chính, Vũ Đức Phúc… Không khí buổi bảo vệ luận án khá cởi mở, không căng thẳng. Có một số quan điểm trong luận án không được các thành viên hội đồng ủng hộ, như việc bà Băng Thanh dùng khái niệm “cuộc nổi dậy nông dân”, hay không đưa ra đánh giá thời Lê Trịnh là “chế độ phong kiến thối nát trên bờ sụp đổ”[9]. Tuy nhiên, khi đánh giá tổng thể luận án của Trần Thị Băng Thanh thành viên hội đồng đều trên tinh thần bình đẳng, coi trọng, có phần ưu ái. Luận án của bà được hội đồng cho điểm xuất sắc.

Cũng trong năm 1987, ông Hà Ân (biên tập viên của Nxb Hà Nội) đã giúp đỡ bà Thanh in cuốn sách tuyển dịch và giới thiệu cuốn Ngô Thì Sĩ – Tuyển tập thơ văn (1987). Cuốn sách in trước khi bảo vệ luận án nên bà Thanh được đánh giá là người chững chạc trong nghiên cứu, những bài viết đã trải qua thử thách.

Trong cuốn luận án, những chặng đường làm quan, những chặng đường thơ văn, những chặng sinh hoạt, đời tư của Ngô Thì Sĩ đều được phản ánh rõ ràng. Ngô Thì Sĩ là một tác giả lớn cả về nhân cách và tài năng. Ông từng giữ rất nhiều chức vụ quan trọng (Giám sát ngự sử đạo Sơn Tây, Hiến sát sứ Thanh Hoa (tức Thanh Hóa), Tham chính Nghệ An, Đốc trấn Lạng Sơn…) có tài về chính trị - trị sự, điều hành các công việc dân chính và có tài năng thơ ca. Ông cũng là một nhà thơ lãng mạn, bay bổng, rất yêu thiên nhiên. Đi bất cứ đâu thấy núi non đẹp ông đều ghé thăm và nỗ lực tìm cách lưu giữ lại cảnh quan đó. Một trong số đó là việc ông giữ lại động Nhất Thanh (Lạng Sơn) để xây dựng đền thờ Tam giáo. Khi đi công cán ở Thanh Hóa, Ngô Thì Sĩ đến ngọn núi Bàn A bên bờ sông Mã (còn gọi là núi Vồm, Thiệu Khánh, Thiệu Hóa), thấy cảnh quan đẹp, bên dưới là thuyền bè qua lại, bên trên có mỏm đá, có thể trải chiếu cho 5-7 người ngồi uống rượu, uống trà, nên ông đã xây dựng ngôi nhà nhỏ tại đó, sửa sang đường lên và đặt tên là “Quan lan sào”, rồi khai thác thêm một số ngách làm bếp, nơi dừng thuyền, bãi sông… Ngô Thì Sĩ thành lập hội Quan lan, hội có quy định các thành viên đến Quan lan sào chơi chỉ nói chuyện thơ văn, tình cảm cá nhân, tuyệt nhiên không nói chuyện công việc, ai vi phạm thì bị phạt uống rượu, rồi bị thuyền đưa ra bỏ ngoài hòn đá ở giữa sông. Chỉ có một trường hợp ngoại lệ là nếu có việc gấp của tỉnh thì Ngô Thì Sĩ sẽ nghe báo cáo. Phó giáo sư Băng Thanh đánh giá: “Tôi thấy đó là con người vừa biết làm, vừa biết chơi, vừa có tư tưởng, vừa có nhân cách nhà thơ. Sau này đọc thêm Việt sử tiêu án, tôi thấy những lời bình của Ngô Thì Sĩ rất xác đáng và hào hùng, rất nhiều chất văn chương. Luận án chỉ là bước đi đầu tiên. Những gì tôi phác họa là “Những chặng đường trước tác” là chính xác, vì vậy sau này khi lý giải sự nghiệp thơ văn của ông tôi vẫn đi theo mạch đó. Sẽ rất phí nếu cuốn luận án làm tử tế mà lại nằm yên trong Thư viện Quốc gia. Ngô Thì Sĩ rất xứng đáng được công bố rộng rãi, vì vậy tôi quyết định viết thành sách. Mặt khác, Viện Khoa học xã hội cũng khuyến khích các nghiên cứu sinh phát triển luận án thành sách và được hỗ trợ kinh phí. Vì vậy sau đó tôi sửa luận án và làm thành cuốn sách”[10].

Khi chuẩn bị xuất bản sách, PGS Băng Thanh xin bản nhận xét luận án của Chủ tịch hội đồng chấm luận án - GS Vũ Khiêu để đưa vào lời giới thiệu sách. Giáo sư Vũ Khiêu nói: “Cô cứ dùng bản nhận xét luận án của tôi, tôi không sửa thêm, cô sửa lại một chút cho phù hợp với sách và đem đến tôi ký”. Theo bà Băng Thanh: “Đó là bài nhận xét hay và thậm chí còn thể hiện sự trọng thị, tôi nghĩ mình chưa được mức như thế. Tôi rất quý trọng khi được đưa vào lời nói đầu cuốn sách Ngô Thì Sĩ - Những chặng đường thơ văn[11].

Phó giáo sư Băng Thanh cho rằng nếu nói đại thể về chân dung một tác giả thì những nghiên cứu của bà trong luận án là tương đối đủ. Tuy nhiên, vẫn còn một số khoảng trống, đó là nghiên cứu Ngô Thì Sĩ với tư cách là một sử gia và tư cách một chính trị gia thì chưa được tìm hiểu triệt để.

Trong cuốn sách Ngô Thì Sĩ - Những chặng đường thơ văn, (với nội dung chính là từ cuốn luận án Phó tiến sxi) xuất bản năm 1992, trong lời giới thiệu, GS Vũ Khiêu dùng chữ “đáng kính phục” để chỉ về những đóng góp của bà Băng Thanh và những người mà năm này qua năm khác, hầu như dành cả cuộc đời để “qua lớp bụi dầy của các chồng sách cổ đi vào một thế giới diệu kỳ, thế giới của tâm hồn dân tộc”. Quả thật, bà Thanh đã dành hàng chục năm để nghiên cứu về Ngô Thì Sĩ, và chỉ với quá trình tích lũy đó, bà mới có thể nghiên cứu sâu sắc về một tác giả. Về tác giả cuốn sách, GS Vũ Khiêu viết: “Với tinh thần suy nghĩ độc lập, tác giả đã ra khỏi con đường mòn của cách nghiên cứu công thức về những nhà trước tác thời xưa. Tác giả mạnh bạo nên lên sự đánh giá của riêng mình về xã hội đương thời, về các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn. Không quy mọi tội lịch sử vào đầu chúa Trịnh, tác giả thanh minh cho thái độ của những người trí thức đã đi theo chúa Trịnh với tấm lòng phò chúa, giúp dân”[12]. Nói về thành công của cuốn sách này, GS Vũ Khiêu đánh giá: “Những quan điểm của Băng Thanh về Ngô Thì Sĩ có thể được đồng tình hoặc phản bác, có thể được bổ sung thêm hoặc trao đổi lại. Đó là hiện tượng thông thường đối với mọi công trình có ý nghĩa. Thành công của cuốn sách trước hết ở chỗ lần đầu tiên Ngô Thì Sĩ được giới thiệu công phu và toàn diện với những xúc cảm tinh tế của nhà văn và nhận định nghiêm túc của nhà khoa học”[13].

Nghiên cứu về Ngô Thì Sĩ, có lẽ không ai vượt qua được PGS.TS Trần Thị Băng Thanh. Đối với bà, Ngô Thì Sĩ là tác giả mà bà đã dành nhiều tâm huyết, nhiều thời gian nhất để đầu tư, nghiên cứu. Những thành quả đạt được từ quá trình nghiên cứu cũng là sự công nhận xứng đáng cho những tháng ngày lao động cần mẫn của bà.

Bên cạnh thành công khi nghiên cứu về Ngô Thì Sĩ, PGS Trần Thị Băng Thanh còn có nhiều đóng góp trong những phát hiện, nghiên cứu về thơ văn Lý-Trần, hoặc những tác giả của văn học trung đại. Cuốn sách Những nghĩ suy từ văn học trung đại (Nxb Khoa học xã hội, 1999) là một công trình nghiên cứu góp phần khẳng định tên tuổi của “bà đồ nho” Trần Thị Băng Thanh.

Đây là cuốn sách được PGS Trần Thị Băng Thanh khai thác theo hướng khác biệt so với cuốn Ngô Thì Sĩ - những chặng đường thơ văn. Bà cho biết, văn học Việt Nam thời trung đại bao gồm thành tựu của gần một ngàn năm trước tác, là đối tượng và hấp dẫn nhiều người nghiên cứu. Tuy nhiên, khi tự đánh giá về những kết quả nghiên cứu về thơ văn trung đại, bà rất khiêm tốn và cho rằng: “Dường như những “mảnh vườn riêng” cũng mới chỉ khai phá sơ sài, trái lại công việc thời vụ đáp ứng yêu cầu trước mắt của cơ quan, của ngành hoặc những vấn đề nảy sinh lại thường cho phép có thành quả. Những thu hoạch này đã được trình bày trên các tạp chí chuyên ngành và nhiều công trình chung. Dẫu sao chúng cần được thu thập, sắp xếp để người viết có thể tự nhìn lại và hi vọng có thể trình bày trước độc giả một cách tương đối tập trung những suy ngẫm cá nhân về một đối tượng lớn lao, đó là di sản văn hóa nước nhà”[14].

Với suy nghĩ như vậy, bà bắt tay vào việc lựa chọn những bài viết sắc sảo, hay của mình đã được công bố từ 1972 đến 1999, đồng thời có những bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp để đưa vào cuốn Những nghĩ suy từ văn học trung đại.

Đặc biệt, bà còn đưa vào cuốn sách này những bài viết có tính phát hiện về văn bản học trong quá trình làm thơ văn Lý - Trần và một số bài viết đề cập đến vấn đề Ngô gia văn phái là một hiện tượng của văn học cổ Việt Nam điều mà bà chưa thực hiện được khi làm luận án và sách về Ngô Thì Sĩ. Trước khi xuất bản, cuốn sách cũng nhận được sự góp ý của các nhà nghiên cứu như Hà Minh Đức, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Huệ Chi…

Sau khi nghỉ hưu (1998), PGS Băng Thanh có điều kiện tập trung nghiên cứu theo hướng của mình. Bà là tác giả hoặc đồng tác giả nhiều tác phẩm như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, danh nhân văn hóa (Bộ văn hóa Thông tin và Thể thao – Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1991); Tiếng khóc Nguyễn Gia Thiều, tiếng khóc nhân loại (Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao Hà Bắc, 1992); Gương mặt văn học Thăng Long (Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám, 1994); Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ (Nxb Giáo dục, 1994); Nguyễn Quang Bích- nhà yêu nước, nhà thơ (NxbVăn hóa Thông tin, 1995); Chân dung nữ văn nghệ sĩ Việt Nam (Nxb Văn hóa Thông tin, 1995); Nguyễn Công Trứ - con người, cuộc đời và thơ (Nxb Hội nhà văn, 1997); Huyền Quang - cuộc đời thơ và đạo (Chủ biên, Nxb TP Hồ Chí Minh, 2001); Xuyến Ngọc Hầu – tác phẩm (Nxb Khoa học xã hội, 2006)... Một số bài viết của bà về dòng văn Ngô gia văn phái sau này đăng trên Tạp chí Hán Nôm như “Tìm hiểu thêm về văn bản bộ sách Ngô gia văn phái”, “Ngô gia văn phái, một hiện tượng của văn học trung đại Việt Nam”…

Có dịp tiếp xúc với PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, nhiều người có cảm nhận ở bà sự nhẹ nhàng, dễ mến nhưng vô cùng sâu sắc. Đằng sau vẻ đẹp sang trọng của người phụ này còn là sự cần cù, tỉ mỉ, niềm đam mê của một nhà nghiên cứu văn học cổ-cận đại. Đã ở tuổi 80, nhưng bà vẫn đang miệt mài, quét những lớp bụi thời gian để làm sáng tỏ nhiều gương mặt, nhiều vấn đề về lịch sử văn học Việt Nam.... Sự tận tụy, đam mê của bà thật đáng để thế hệ sau học hỏi và phấn đấu.

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam


[1] Phỏng vấn PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, 16-8-2016, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[2] Phạm Thiều (1904-1986) là nhà nghiên cứu Hán Nôm, khi ấy là Trưởng ban Hán Nôm (tiền thân của Viện nghiên cứu Hán Nôm) thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam.

[3] Phỏng vấn PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, 16-8-2016, tài liệu đã dẫn.

[4] Ngô Thì Sĩ (1726-1780) là nhà sử học, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế kỷ 18 của Việt Nam.

[5] Phỏng vấn PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, 16-8-2016, tài liệu đã dẫn.

[6] Phỏng vấn PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, 16-8-2016, tài liệu đã dẫn.

[7] Phỏng vấn PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, 16-8-2016, tài liệu đã dẫn.

[8] Phỏng vấn PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, 16-8-2016, tài liệu đã dẫn.

[9] Phỏng vấn PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, 16-8-2016, tài liệu đã dẫn.

[10] Phỏng vấn PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, 23-8-2016, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[11] Phỏng vấn PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, 23-8-2016, tài liệu đã dẫn.

[12] Trần Thị Băng Thanh, Ngô Thì Sĩ - Những chặng đường thơ văn, Nxb Khoa học xã hội, 1992, tr.8.

[13] Trần Thị Băng Thanh, Ngô Thì Sĩ - Những chặng đường thơ văn, tài liệu đã dẫn, tr.10.

[14] Trần Thị Băng Thanh, Những nghĩ suy từ văn học trung đại, Nxb Khoa học xã hội, 1999, tr.5.


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: