15/09/2017 4:15:53 CH - Một thời đèn sách

14/09/2017 8:17:23 SA - Một buổi làm việc thú vị

13/09/2017 1:04:59 SA - Một đêm nhạc đặc biệt

Người đặt nền móng chọn tạo giống dâu mới ở Việt Nam
Cập nhật lúc: 14:38, Thứ Ba, 29/08/2017 (GMT+7)

Đó là PGS.TS Hà Văn Phúc, nguyên Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Dâu tằm tơ Trung ương. Ông đã dành cả đời để nghiên cứu, lai tạo ra những giống dâu cho năng suất cao và thích ứng với các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của nước ta.

 Kỳ 1: Thành công đầu tiên với những giống dâu lai nhân giống vô tính

Nghề trồng dâu nuôi tằm được du nhập và phát triển ở Việt Nam từ rất lâu. Ngay từ thời Pháp thuộc, nhiều trại tằm tơ đã được thành lập ở nước ta, nhưng chủ yếu chỉ thuần hóa các giống nhập nội cho phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của các địa phương.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), việc nghiên cứu dâu tằm tơ ở nước ta vẫn chưa được quan tâm, chú trọng. Hầu hết các địa phương vẫn sử dụng những giống dâu bản địa như: giống dâu Hà Bắc, giống dâu Quang Biểu (trồng vùng ven biển), giống dâu Đa Liễu (trồng chủ yếu ở Thái Ninh, Thái Bình), giống dâu Chân vịt (trồng chủ yếu ở Sơn Tây và Hà Đông)… Ưu điểm của các giống dâu này là thích ứng với điều kiện khí hậu, nhưng khả năng chống chịu sâu bệnh kém, lá mỏng, quả nhiều, và năng suất không cao. Ông chia sẻ: Trước những năm 60, giống dâu Hà Bắc được cho là giống bản địa tốt nhất, được trồng phổ biến ở nhiều nơi, nhưng năng suất chỉ đạt 20 tấn/ ha[1].

Năm 1964, trước yêu cầu phát triển ngành Dâu tằm tơ ở nước ta, Bộ Nông nghiệp đã quyết định thành lập Cục Dâu tằm và cử ông Nguyễn Văn Phương, khi đó là Chủ tịch tỉnh Sơn Tây[2] làm Cục trưởng, cử ông Lê Văn Liêm[3] làm Cục phó. Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu dâu tằm tơ cũng được Bộ Nông nghiệp chú trọng thực hiện.

Năm 1968, Hà Văn Phúc tốt nghiệp trường Đại học Nông nghiệp I [4]. Mang trong mình hoài bão được cống hiến cho thực tiễn sản xuất, ông đã khước từ đề nghị của thầy hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp (thầy Nguyễn Tâm Đài, khi đó là Chủ nhiệm bộ môn Cây công nghiệp, muốn ông ở lại trường giảng dạy) để theo triệu tập của Cục Dâu tằm, kỹ sư trẻ Hà Văn Phúc hăng hái gia nhập đoàn chỉ đạo sản xuất dâu tằm cùng chuyên gia Trung Quốc tại Hà Tây, rồi chuyển sang làm việc trong đoàn cán bộ chỉ đạo sản xuất cùng chuyên gia Nhật Bản tại Thái Bình. Trong quá trình làm việc với các chuyên gia, ông vừa được thỏa nguyện vọng đi khắp nơi, vừa được tiếp cận và tích lũy được nhiều kiến thức chuyên môn, đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm về lai tạo các giống dâu theo phương pháp tạo đột biến – một khái niệm hoàn toàn mới đối với ngành Dâu tằm tơ ở nước ta bấy giờ.

Năm 1970, sau khi kết thúc giai đoạn tham gia chỉ đạo sản xuất, Hà Văn Phúc được Bộ Nông nghiệp chính thức điều về công tác tại Cục Dâu tằm, bấy giờ đang sơ tán tại trại tằm Mai Lĩnh (Chương Mỹ, Hà Tây). Tại đây, Hà Văn Phúc có điều kiện làm việc trực tiếp với Cục phó Lê Văn Liêm, và được ông Liêm giao nhiệm vụ đi sâu nghiên cứu lai tạo các giống dâu cho năng suất cao. Phó giáo sư Hà Văn Phúc bồi hồi nhớ lại: Lúc đó, khi được Cục phó Lê Văn Liêm định hướng, giao nhiệm vụ, tôi thấy được con đường khoa học mở ra ngay trước mắt, hăng hái bắt tay ngay vào công tác nghiên cứu[5].

Thời gian làm việc với chuyên gia dâu tằm Nhật Bản, Trung Quốc và Cục phó Lê Văn Liêm đã làm cho cán bộ trẻ Hà Văn Phúc nhận thức sâu sắc được rằng, phương pháp gây đột biến là yếu tố đầu tiên và then chốt trong quy trình tạo giống. Sau này, PGS.TS Hà Văn Phúc chia sẻ: Thực ra, vấn đề tạo đột biến trong sinh học đã được các nước phát triển áp dụng từ lâu, nhưng ở miền Bắc Việt Nam bấy giờ vẫn hết sức sơ khai[6].

Gây tạo thành công đột biến tứ bội thể trên cây dâu

Được sự giới thiệu của  ông Lê Văn Liêm, ông Hà Văn Phúc đã liên hệ và phối hợp làm việc với ông Trịnh Bá Hữu, bấy giờ là Trưởng bộ môn Di truyền học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội[7], để nghiên cứu sử dụng một số tác nhân hóa-lý, nhằm tạo ra đột biến trên cây dâu.

Trong điều kiện khó khăn, trang thiết bị thiếu thốn, hóa chất khan hiểm, được Trưởng bộ môn Di truyền học Trịnh Bá Hữu tạo điều kiện, ông Hà Văn Phúc đã tận dụng một số hóa chất có sẵn ở bộ môn Di truyền học (phần lớn do Liên Xô viện trợ), và các trang thiết bị trong phòng thí nghiệm của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, để tiến hành gây đột biến trên giống dâu Hà Bắc (giống dâu bản địa có năng suất cao nhất bấy giờ). Trước tiên, ông đã sử dụng tác nhân phóng xạ, tức là chiếu tia Gamma với nguồn phóng xạ Coban-60, để tạo ra đột biến.

Trong quá trình thực hiện, ông đã trực tiếp liên hệ với Bệnh viện K Trung ương để nhờ hỗ trợ trong việc chiếu tia phóng xạ Coban-60v, liên tục nghiên cứu thí nghiệm với liều lượng từ 2000 – 10000R. Kết quả là ông đã chọn ra được 3 đột biến gen trên cây dâu (ký hiệu là 1R7, 1R10, 3R10), có hình thái lá hoàn toàn khác nhau, gọi là đột biến thể khảm. Đây cũng là dạng đột biến trên cây dâu đầu tiên do ông tạo ra. Phó giáo sư Hà Văn Phúc chia sẻ: Lúc đã tạo ra đột biến, tôi vui lắm. Tuy các đột biến này chưa có giá trị cao về thực tiễn sản xuất, nhưng có ý nghĩa lớn về mặt lý luận, là minh chứng cho việc con người có thể làm biến đổi gen bên trong cây trồng, và thay đổi các hình thái lá trên cùng một cây dâu[8].

Không dừng lại ở việc thử nghiệm, ông tiếp tục nghiên cứu để tạo ra đột biến đa bội thể bằng hóa chất cônxisin[9]. Được sự hỗ trợ của ông Đỗ Văn Cát, giảng viên trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Văn Phúc đã tiến hành ngâm hạt giống dâu Hà Bắc trong hóa chất cônxisin với các nồng độ khác nhau như 0,2%, 0,3%, 0,4%... kéo dài liên tục trong 24 giờ theo quy định. Sau đó, ông rửa sạch hạt giống rồi để nảy mầm thành cây.  

Sau khi hạt giống nảy mầm, ông tiếp tục theo dõi quá trình phát triển của các cây dâu tại trại tằm Mai Lĩnh. Dựa trên các hình thái sinh trưởng như rễ quăn và phình to; lá dày, to và có vết răng cưa sâu…, ông lựa chọn được cây dâu mang đột biến tứ bội thể, ký hiệu là C70 (ký hiệu viết tắt của hóa chất cônsixin được ông sử dụng năm 1970). Đến năm 1971, ông tiếp tiếp tục áp dụng phương pháp trên, và tạo ra được cây dâu mang đột biến tứ bội thể C71A (ký hiệu viết tắt của hóa chất cônsixin được ông sử dụng năm 1971).

Nhờ sự hỗ trợ của TS Phạm Bá Phong, giảng viên trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau này là Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng), cán bộ Hà Văn Phúc đã tiến hành phân tích các tế bào nhiễm sắc thể trên lá cây dâu mang đột biến C70 và C71A. Quan sát trên kính hiển vi ở độ phóng đại khoảng 4000 lần, ông đã xác định được C71A chính là đột biến tứ bội thể (4n=56).

Phó giáo sư, Tiến sĩ Hà Văn Phúc

Đột biến tứ bội thể trên cây dâu mang tên C71A là công trình đầu tiên mà ông phối hợp cùng bộ môn Di truyền học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1984, trong Hội nghị Quốc tế lần thứ 14 về Dâu tằm tại Ấn Độ, ông Lê Văn Liêm đã thay mặt Cục Dâu tằm (Bộ Nông nghiệp) báo cáo những thành tựu nghiên cứu về dâu tằm của Việt Nam, trong đó có nhắc đến công trình tạo ra đột biến tứ bội thể C71A của cán bộ Hà Văn Phúc.

Ba giống dâu lai đầu tiên

Cây dâu mang đột biến tứ bội thể C71A có những tính trạng tốt như lá to, dày, năng suất cao…, tuy nhiên sự phát triển lại quá chậm chạp nên năng suất lá thấp. Để khắc phục hạn chế này, ông Hà Văn Phúc tiếp tục tìm kiếm, lựa chọn các giống dâu địa phương có ưu thế về khả năng sinh trưởng và phát triển, đem lai hữu tính với cây dâu có đột biến tứ bội thể C71A, nhằm tạo ra những giống dâu tam bội thể (3n=42) mới, thừa hưởng được những ưu điểm về sinh trưởng của các giống lưỡng bội.

Giống dâu chân vịt (có đặc điểm sinh trưởng tốt, lá to và dày, được trồng phổ biến ở Hà Tây) được ông lựa chọn trước tiên để lai hữu tính với dâu đột biến C71A. Ông tâm sự: Lúc bấy giờ ở Hà Tây, tôi thấy người nông dân ca ngợi giống chân vịt có lá nuôi kén tằm rất dày, phát triển tốt, nên đem thử nghiệm lai, chứ thực ra không có số liệu phân tích cụ thể[10].

Tuy nhiên, trong quá trình lai, ông gặp khó khăn vì thời điểm ra hoa của cây dâu chân vịt thường diễn ra trước cây dâu mang đột biến C71A, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình thụ phấn. Để khắc phục, ông nghĩ ra cách đưa phấn hoa đực của cây dâu chân vịt vào ống nghiệm, hãm lạnh và bảo quản, để thụ tinh vào đúng thời điểm ra hoa của cây dâu mang đột biến C71A. Thời gian trung bình từ khi thụ phấn đến khi ra quả, tách hạt kéo dài khoảng 25-30 ngày.

Trong thời gian cây dâu ra quả, ông cùng đồng nghiệp của Cục Dâu tằm phải túc trực theo dõi, chăm sóc, Ông cho biết: Lúc đó bên cạnh trại tằm có trường cấp 1 Nguyễn Viết Xuân nên chúng tôi phải trông chừng học sinh trèo vào vườn thí nghiệm vặt trộm quả, hoặc theo dõi để đề phòng chim ăn mất[11].

Từ nhiều cây lai khác nhau, kỹ sư Hà Văn Phúc đã lựa chọn được giống dâu tam bội thể số 7 (ký hiệu là No.7) có ưu điểm là lá to và dày, sinh trưởng khỏe, năng suất lá cao hơn giống dâu Hà Bắc trên 15%, chống chịu bệnh tốt (đặc biệt là bệnh gỉ sắt và nấm bạc thau[12]).

Từ năm 1980, giống dâu No.7 đã được Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Dâu tằm tơ Bảo Lộc, Lâm Đồng (Giám đốc khi đó là bà Tô Thị Tường Vân) đưa vào trồng thử nghiệm, và rồi phổ biến rộng rãi, cho năng suất lá trung bình đạt 15,75 tấn/ha, cao hơn các giống dâu địa phương như giống Bầu đen, S28…[13] .

Để khắc phục nhược điểm lá xẻ thùy và thành thục nhanh của giống dâu No.7, ông Hà Văn Phúc tiếp tục tiến hành lai hữu tính giữa giống dâu Ngái (có đặc điểm lá to, bóng, được trồng phổ biến ở khu vực Mai Lĩnh, Hà Tây và được người nuôi tằm con ưa chuộng) với cây dâu mang đột biến C71A. Từ nhiều cây lai khác nhau, ông chọn được giống dâu tam bội thể số 12 (ký hiệu là No.12) có đặc điểm lá to, dày, bóng vượt kích thước của giống dâu No.7, cho năng suất đạt từ 25-30 tấn/ha.

Toàn bộ quá trình lai tạo giống dâu No.12 được kỹ sư Hà Văn Phúc tiến hành tại trại tằm Mai Lĩnh. Trong thời gian cây dâu ra hoa, có khi sáng sớm, ông thường lặng lẽ một mình đi bộ đến vườn ươm để trực tiếp tiến hành thụ phấn. Công việc lặp đi lặp lại đòi hỏi sự kiên nhẫn và tỉ mỉ rất cao nhưng không có phút giây nào ông cảm thấy chán nản. Trái lại, ông cảm thấy vô cùng hào hứng, và luôn giữ tinh thần tập trung cao độ. Phó giáo sư Hà Văn Phúc tâm sự: Giờ nhớ lại hồi đó mới thấy mình ngô nghê, chỉ vì nghĩ ra được những phương pháp thụ phấn cho hoa đực và hoa cái cùng thời điểm – điều mà ở các nước tiên tiến áp dụng từ lâu, cũng khiến tôi vui mừng khôn xiết như phát minh ra điều gì vĩ đại lắm[14].

Để ý thấy ông Hà Văn Phúc hay rời phòng, một mình ra ngoài, cán bộ Lê Khắc Tư (lúc đó phụ trách hành chính ở Cục Dâu tằm) sinh nghi, nên đã đi theo dõi đến tận vườn ươm. Mỗi lần nhớ lại chuyện này, PGS.TS Hà Văn Phúc đều cười tươi: Thời đó, theo quy định, cán bộ ở Cục Dâu tằm phải tuân thủ đúng nội quy làm việc, ai làm việc riêng đều bị kỷ luật rất nặng. Khi gặp anh Tư ở vườn ươm thì trời đã khuya, tôi cũng giật mình, nhưng rồi khi nhận ra đồng nghiệp thì đã bình tĩnh giải thích, và anh hiểu ra[15].

Năm 1986, khi giống dâu No.12 được đưa về trồng thử nghiệm ở Gia Quất (Long Biên, Hà Nội), lãnh đạo Cục Dâu tằm đã tổ chức một cuộc họp mời đại diện các địa phương tham gia. Phó giáo sư Hà Văn Phúc nhớ lại: Theo nội dung Cục Dâu tằm giới thiệu ai cũng thấy rõ được giá trị kinh tế của giống dâu No.12, nên mặc dù chưa được trồng phổ biến nhưng mọi người rất hào hứng, thậm chí có ông chủ nhiệm hợp tác xã Xuân Hồng (Nam Định) chờ đến đêm lén ra cắt hom dâu đem về trồng thử ở địa phương[16].

Giống dâu No.12 được trồng nhiều ở Hà Tây, sau được nhân rộng ra nhiều nơi khác ở Thái Bình, Nghệ An… Đến mùa gieo trồng dâu, người dân khắp nơi nườm nượp đổ về Hoài Đức (Hà Tây) để mua hom dâu No.12 về nhân giống, tạo nên khung cảnh rất nhộn nhịp. Ông Hà Văn Phúc chia sẻ: Tôi ấn tượng nhất với người dân ở Nghệ An, thuê ô tô tải ra chở hom dâu, và có cả người áp tải với trang phục công an, trên đường vận chuyển[17].

Người dân khu vực Hoài Đức nhờ bán hom dâu No.12 mà đời sống kinh tế được nâng lên, nhiều gia đình mua được cả tivi, đài cassette... Hiện nay, giống dâu No.12 vẫn được người dân tin tưởng và trồng phổ biến ở khu vực Thuần Mỹ (Ba Vì, Hà Nội).

Năm 1976, sau khi đi khảo sát dọc sông Thu Bồn, Cục phó Lê Văn Liêm đã chỉ đạo cho cán bộ Hà Văn Phúc tập trung nghiên cứu lai tạo một giống dâu chịu mặn để phù hợp với điều kiện ven biển.

Ngay sau đó, một đội chỉ đạo sản xuất được thành lập, gồm một số cán bộ Cục Dâu tằm, và sinh viên trường Đại học Nông nghiệp I, do ông Hà Văn Phúc làm đội trưởng, xuống vùng ven biển Thái Bình để nghiên cứu giống dâu chịu mặn.

Hàng ngày, đội trưởng Hà Văn Phúc trực tiếp đi khảo sát tại các vùng trồng dâu, trò chuyện với người dân và làm việc với cán bộ địa phương để thu thập số liệu và điều tra tình hình phát triển sản xuất ở Thái Đô, Thái Thụy, Thái Bình. Qua khảo sát, ông đã lựa chọn được giống dâu Quang Biểu (trồng phổ biến ở vùng Thái Thụy, Thái Bình) để lai hữu tính với cây dâu có đột biến C71A, tạo ra được giống dâu số 11 (ký hiệu là No.11), có ưu thế về năng suất, và khả năng chịu mặn tốt, sau này được áp dụng rộng rãi ở các vùng ven biển như Hải Hậu (Nam Định), Thái Thụy (Thái Bình), Quảng Nam...

Ba giống dâu No.7, No.11, No.12 do kỹ sư Hà Văn Phúc và đồng nghiệp lai tạo thành công và được trồng thí nghiệm tại trại tằm Mai Lĩnh. Thời gian trồng thử nghiệm, trung bình khoảng 3 năm, Cục Dâu tằm đã cử kỹ sư Nguyễn Thị Tám hỗ trợ với ông để theo dõi và so sánh năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh... của ba giống dâu lai tạo với các giống địa phương.

Sau thời gian theo dõi và thử nghiệm, các giống dâu lai được trồng thí điểm ở một số địa phương. Sau mỗi vụ thu hoạch, Cục Dâu tằm đứng ra tổ chức các hội nghị đầu bờ[18], để tập hợp ý kiến đánh giá của các cán bộ và người nông dân địa phương, làm cơ sở báo cáo với Hội đồng khoa học của Bộ Nông nghiệp, qua đó Bộ có những quyết định quy hoạch, khu vực hóa trồng các giống dâu này (với diện tích 10-20ha/vùng). Sau 3-5 năm tiến hành mở rộng diện tích và khu vực gieo trồng, ông tiếp tục thu thập số liệu, kết quả, ý kiến đánh giá của các địa phương, báo cáo đề xuất với Bộ Nông nghiệp công nhận là giống chính thức, để phổ biến rộng rãi trong cả nước.          

Cả 3 giống dâu lai No.7, No.12, No.11 không ra quả, nên dinh dưỡng tập trung vào phần lá, có ưu thế về năng suất, sinh trưởng nhanh, thích nghi với với các điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau, được nhiều vùng sản xuất trên cả nước tiếp nhận, được người nông dân ưa chuộng, và lần lượt được công nhận là giống chính thức vào các năm 1988 (giống No.7 và No.12) và 1994 (giống No.11).

Với thành tích lai tạo thành công 3 giống dâu tam bội thể trên, PGS.TS Hà Văn Phúc cũng vinh dự được nhận nhiều giải thưởng như Huy chương bạc (đối với giống dâu No.7) và Huy chương vàng (đối với giống dâu No.12) tại Hội chợ Nông nghiệp tổ chức ở Giảng Võ, Hà Nội (1986); Giải thưởng Bông lúa vàng (đối với giống dâu No.11) tại Hội chợ Nông nghiệp quốc tế Cần Thơ (1997)…; Bên cạnh đó, tài liệu về Phương pháp gieo trồng, chăm sóc các giống dâu này được Bộ Nông nghiệp cho in và phổ biến rộng rãi về các địa phương.

Thành công bước đầu với những giống dâu lai tam bội thể nhân giống vô tính là cơ sở để PGS.TS Hà Văn Phúc tiếp tục đi sâu nghiên cứu, hoàn thiện và đổi mới phương pháp tạo đột biến, để tạo ra các giống mới, đạt hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thực tiễn sản xuất.

 

Phạm Ngọc Hải

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam



[1] Phỏng vấn ghi hình PGS.TS Hà Văn Phúc, 17-5-2017, TL lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[2] Nay là thị xã Sơn Tây, trực thuộc thành phố Hà Nội.

[3] Sau này là GS Lê Văn Liêm, nguyên Cục phó Cục Dâu tằm, Bộ Nông nghiệp.

[4] Tên gọi của Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 1967-2008.

[5] Phỏng vấn ghi hình PGS.TS Hà Văn Phúc, 17-5-2017, TL đã dẫn.

[6] Phỏng vấn ghi hình PGS.TS Hà Văn Phúc, 17-5-2017, TL đã dẫn.

[7] Nay là trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

[8] Phỏng vấn ghi hình PGS.TS Hà Văn Phúc, 17-5-2017, TL đã dẫn.

[9] Một loại hóa chất do CHDC Đức sản xuất, có tác dụng làm thay đổi quá trình phân bào giảm nhiễm.

[10] Phỏng vấn ghi hình PGS.TS Hà Văn Phúc, 17-5-2017, TL đã dẫn.

[11] Phỏng vấn ghi hình PGS.TS Hà Văn Phúc, 17-5-2017, TL đã dẫn.

[12] Một loại bệnh phổ biến trên cây dâu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kén tằm.

[13] Số liệu tham khảo sách “Tóm tắt kết quả một số công trình nghiên cứu khoa học chủ yếu về dâu tằm tơ giai đoạn 1986-1995”, Trung tâm Nghiên cứu và thực nghiệm Dâu tằm tơ Bảo Lộc, Liên hiệp các xí nghiệp Dâu tằm tơ Việt Nam, NXB Nông nghiệp, 1995.

[14] Hỏi thông tin PGS.TS Hà Văn Phúc, 5-6-2017, TL lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[15] Phỏng vấn ghi hình PGS.TS Hà Văn Phúc, 17-5-2017, TL đã dẫn.

[16] Phỏng vấn PGS.TS Hà Văn Phúc, 17-5-2017, TL đã dẫn.

[17] Phỏng vấn ghi hình PGS.TS Hà Văn Phúc, 17-5-2017, TL đã dẫn.

[18] Đây là buổi họp của những nhà khoa học và cán bộ nông nghiệp địa phương với người nông dân, được tổ chức ngay tại bờ ruộng, để thảo luận, giới thiệu các loại nông sản mới, thuốc bảo vệ thực vật mới hoặc các phương pháp, kỹ thuật nông nghiệp mới…  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: