20/07/2017 5:18:17 CH - Buổi làm việc đặc biệt

13/07/2017 3:00:58 CH - Thầy Long của chúng tôi

Tâm huyết cả đời với nguyên lý kết hợp Đông-Tây y
Cập nhật lúc: 10:06, Thứ Tư, 24/05/2017 (GMT+7)

Giáo sư Hoàng Bảo Châu* thuộc thế hệ y, bác sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Cả đời làm nghiên cứu, giảng dạy, ông luôn theo đuổi, tìm tòi để kết hợp những thành tựu của y học cổ truyền với sự tiến bộ của nền y học hiện đại nhằm cứu chữa, giúp đỡ nhiều nhất cho người bệnh.

Chúng tôi may mắn được tiếp xúc, làm việc với GS Hoàng Bảo Châu và vô cùng cảm phục khi được nghe về một thế hệ sinh viên trường Y trong kháng chiến chống Pháp, về những năm tháng gian khó vừa học vừa đi chiến dịch, rồi phấn đấu với nghị lực phi thường, nhiều người trong số họ đã trở thành những cán bộ y tế cốt cán của đất nước. Gần đây, tình cờ có một phụ nữ tìm đến Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam hỏi mua cuốn sách Khí công của tác giả - GS Hoàng Bảo Châu vì trên website của Trung tâm chúng tôi đã đăng tải danh mục những công trình nghiên cứu trong Hồ sơ khoa học của Giáo sư. Họ nói rằng đã tìm khắp các hiệu sách ở Hà Nội, nhờ người tìm kiếm cả ở thành phố Hồ Chí Minh mà không sao mua được và rất tha thiết muốn có cuốn sách để phục vụ cho việc tập luyện, nâng cao sức khỏe. Bất chợt, tôi nhớ rằng mình từng được GS Hoàng Bảo Châu tặng cuốn sách ấy và đã không ngần ngại tặng nó cho vị khách không quen biết. Sau đó, tôi có kể câu chuyện này với GS Hoàng Bảo Châu, ông cười rất vui và cho rằng nếu làm được gì tốt cho người khác thì cứ làm. Có lẽ cả đời ông đã sống theo phương châm đó.

Bác sĩ Hoàng Bảo Châu sinh năm 1929 tại Hưng Yên. Năm 1950, ông vào học tại trường Đại học Y ở Việt Bắc và tham gia nhiều chiến dịch ác liệt trong thời kỳ này khi còn đang là sinh viên y khoa. Năm 1953, ông được cử sang Trung Quốc để đào tạo về chuyên ngành thần kinh học. Năm 1962, ông về nước công tác tại Viện Nghiên cứu Đông y (nay là Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương), và gắn bó với nơi này cho đến khi nghỉ hưu.

Có thể nói, cả đời nghiên cứu, làm việc của mình, bác sĩ Hoàng Bảo Châu luôn kiên trì theo đuổi đường lối kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại và ông đã có nhiều đóng góp khi ứng dụng đường lối này trong công tác nghiên cứu, khám chữa bệnh. Con đường đi của ông cũng đặc trưng, tiêu biểu cho một thế hệ các bác sĩ luôn làm việc với tấm lòng, sự tận tụy, sự nhiệt thành lớn nhất.

 Cũng ngay trong năm 1962, bác sĩ trẻ Hoàng Bảo Châu được học chỉ thị 101/TTG (1961) của Thủ tướng về định hướng kết hợp đông y và tây y để tăng cường khả năng phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân. Với việc xác định hướng nghiên cứu như vậy, từ năm 1973 đến 1989, ông đã công bố nhiều bài viết trên Tạp chí Hoạt động khoa học của Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước.

Giáo sư Hoàng Bảo Châu, 2011 (Ảnh từ internet)

Theo GS Hoàng Bảo Châu, đường lối kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại là một đường lối đúng đắn, không chỉ đơn thuần là đông y, là phục cổ. Nó cũng không phải chỉ là tây y, vì nếu vậy sẽ bỏ mất những kinh nghiệm hay của cha ông đã được thực tiễn lâm sàng chứng minh là có kết quả tốt. Trên cơ sở thấy rõ những chỗ mạnh yếu của đông y và tây y, để có sự kết hợp phù hợp và hiệu quả nhất.

Muốn làm được việc này, GS Hoàng Bảo Châu cho rằng cần phải đào tạo một đội ngũ cán bộ nắm được đường lối và chủ trương y tếcủa Đảng và nhà nước, đồng thời phải hiểu rõ đông y, tây y. Việc kết hợp đông y và tây y mở ra cho những người nghiên cứu một chân trời mới, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dân, xây dựng một nền y học mới.

Nội dung thừa kế y học cổ truyền là kiến thức trong các tài liệu y văn và được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày, qua các lương y đang hành nghề. Đối tượng thừa kế là thầy thuốc lớn tuổi làm y học cổ truyền, nắm được lý luận và thực hành tốt, những kinh nghiệm tốt trong nhân dân, những tài liệu y học. Bên cạnh đó là hiện đại hóa y học cổ truyền với phương pháp và trang thiết bị hiện đại.

Những vấn đề về mặt lý luận được nêu ra ở trên được bác sĩ Hoàng Bảo Châu trình bày, đăng tải trên nhiều phương tiện truyền thông khác nhau trong nhiều năm công tác. Còn trên thực tế, là bác sĩ thực hành, ông đã trực tiếp nghiên cứu một số vấn đề về châm cứu dưỡng sinh, bào chế và sử dụng thuốc. Trên cương vị quản lý (quyền Viện trưởng, rồi Viện trưởng) Viện Nghiên cứu Đông y (1977-1995), ông đã hướng dẫn và tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu, chương trình nghiên cứu, nhằm xác định giá trị khoa học và thực tiễn của những vấn đề y học cổ truyền, mà ông đã đúc kết, tổng quát ở những vấn đề sau đây:

Xác định giá trị thực tiễn của châm cứu

Tập trung tìm hiểu tri thức của người xưa về kinh lạc, khí và huyệt qua các tài liệu đông y, trong quá trình tìm hiểu, bác sĩ Hoàng Bảo Châu nhận thấy có sự thiếu thống nhất giữa các nội dung này nên đã chỉnh sửa, hiệu đính, mô tả vị trí rõ ràng theo cách hiện đại. Qua thực tiễn châm cứu, nhất là qua tổng kết kết quả nghiên cứu của các đồng nghiệp trong nước, ông đã xác định được tác dụng điều khí (điều hòa rối loạn chức năng) và giảm đau của châm cứu. Theo ông, châm cứu không có tác dụng trực tiếp diệt các nguyên nhân gây bệnh, cũng như không thể phục hồi tế bào tổ chức thần kinh đã thoái hóa[1].

Xác định giá trị của châm tê

Năm 1971, Bộ trưởng Bộ Y tế Vũ Văn Cẩn giao cho bác sĩ Hoàng Bảo Châu, khi ấy là Trưởng khoa Châm cứu, Viện Nghiên cứu Đông y, nghiên cứu về lâm sàng châm tê. Trong thời gian chuẩn bị tài liệu nghiên cứu, ông cùng với bác sĩ Nguyễn Thường Xuân[2] và bác sĩ Bùi Quang Hiền[3] được GS Tôn Thất Tùng[4] mời đến và giao cho nhiệm vụ giải đáp một số câu hỏi: Châm vào huyệt có gây tê được không? Mức độ tê có đảm bảo được để phẫu thuật hay không? Những khả năng và giới hạn của châm tê trong ứng dụng vào phẫu thuật; Cơ chế và tác dụng của châm tê.

Với những vấn đề cần được giải đáp, bác sĩ Hoàng Bảo Châu và đồng nghiệp đã miệt mài nghiên cứu các tài liệu đồng thời tổng hợp kết quả lâm sàng từ thực tiễn, trả lời được những vấn đề chuyên môn mà GS Tôn Thất Tùng đặt ra. Thứ nhất, châm vào huyệt cổ điển và không phải huyệt cổ điển, châm có đắc khí và không có đắc khí đều gây được tê ở da toàn thân (chiếm 66-70%) hoặc một bộ phận của thân thể (chiếm 15-21%). Thứ hai, mức độ tê của nhóm huyệt Nội quan - Hợp cốc (là nhóm huyệt hay dùng nhất trong châm tê) tương đương với 70-80% mức độ tê do tiêm 1% novocaine dưới da. Với mức độ tê này có thể đảm bảo cho bệnh nhân qua được cuộc phẫu thuật. Tuy nhiên, mức độ này vẫn còn hạn chế vì khi phẫu thuật bệnh nhân vẫn đau và còn gây ra phản ứng với nội tạng trong cơ thể. Thứ ba, tủy sống, thần kinh ngoại vi có vai trò quan trọng trong châm tê, tuy nhiên trong quá trình châm tê đã có một chất nào đó sản sinh ra, ngăn cản việc dẫn truyền xung động đau vào tủy não ngăn cản thì mới không cảm thấy đau. Thứ tư, mấu chốt thành công của châm tê là lượng kích thích thích hợp do châm gây nên và đồng thời còn vai trò đáp ứng với châm của cơ thể[5]. Kết quả nghiên cứu trên được công nhận tại Hội nghị Gây mê hồi sức diễn ra vào năm 1975 và châm tê được đưa vào danh mục phương pháp vô cảm ở Việt Nam. Ngoài ra, những kết quả nghiên cứu trên được bác sĩ Hoàng Bảo Châu tập hợp thành công trình: “Nghiên cứu phương pháp châm tê: các kết quả và ứng dụng lâm sàng”. Đây cũng chính là công trình được ông sử dụng để trình bày trước hội đồng xét công nhận học vị tương đương phó tiến sĩ vào năm 1991.

Xác định giá trị lâm sàng của phương pháp dưỡng sinh.

Bác sĩ Hoàng Bảo Châu cho biết, năm 1970, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng[6] bị tai biến mạch máu não lần thứ hai và có nguy cơ tàn phế. Nhưng với nghị lực phi thường, bác sĩ Hưởng đã tập khí công, xoa bóp, vận động phù hợp với điều kiện sức khỏe của mình trong từng giai đoạn nên sau ba năm đã phục hồi khả năng hoạt động một cách bình thường. Năm 1975, bác sĩ Hưởng cho xuất bản tài liệu “Phương pháp dưỡng sinh”, tổng kết phương pháp, kinh nghiệm tập luyện của chính bản thân ông để khôi phục sức khỏe. Cũng trong năm ấy, Bộ trưởng Vũ Văn Cẩn giao cho bác sĩ Hoàng Bảo Châu, khi ấy là Viện phó Viện Nghiên cứu Đông y đánh giá lâm sàng phương pháp này. Để có thể làm đúng phương pháp ấy, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng được mời hướng dẫn trực tiếp cho cán bộ Viện Nghiên cứu Đông y những kỹ thuật cụ thể mà ông đã đề cập trong tài liệu “Phương pháp dưỡng sinh”.

Từng làm Tổ trưởng tổ Khí công của Viện Nghiên cứu Đông y nên bác sĩ Hoàng Bảo Châu nắm rất chắc phương pháp dưỡng sinh. Đồng thời thông qua phương pháp, kinh nghiệm tập luyện thực tế của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, ông đã cùng với khoa Châm cứu của Viện tổ chức nghiên cứu, kết hợp với trường Đại học Y Hà Nội, Học viện Quân y, Viện Quân y 108, Viện Nhi…, đánh giá giá trị của phương pháp dưỡng sinh. Và sau 10 năm nghiên cứu, ông đã đưa ra đánh giá lâm sàng phương pháp dưỡng sinh như sau: Phương pháp dưỡng sinh là phương pháp luyện tập toàn diện thích hợp với người có tuổi, người mất sức lao động, người có bệnh mạn tính. Tuy nhiên một số nội dung vận động chưa thật phù hợp với người lớn tuổi, có huyết áp cao; Phương pháp này có tác dụng nâng cao sức khỏe, cải thiện chức năng hô hấp, thần kinh, tuần hoàn, chuyển hóa mỡ; Phương pháp cũng có tác dụng cải thiện trạng thái bệnh tật ở người có tuổi và chỉ có tác dụng nếu tập đều đặn. Năm 1989, Bộ Y tế đã cho phổ cập phương pháp dưỡng sinh trong các cơ sở y tế. Viện Lão khoa công nhận đây là phương pháp luyện tập của người có tuổi, nhiều câu lạc bộ dưỡng sinh ở các tỉnh miền Bắc đã được thành lập để đáp ứng nhu cầu tập luyện của nhân dân. Bạn bè quốc tế cũng đánh giá cao phương pháp dưỡng sinh này.

Xác định giá trị (hiệu lực, tính an toàn) của nhiều vị thuốc, bài thuốc

Bên cạnh nghiên cứu, đánh giá các phương pháp chữa bệnh theo y học cổ truyền, bác sĩ Hoàng Bảo Châu còn nghiên cứu, đánh giá một số loại thuốc như: Độc hoạt Lai Châu (của Bộ Y tế), Độc hoạt II (của Viện Y học cổ truyền), Bổ phế chỉ khái lộ (của Liên hiệp xí nghiệp Dược Hà Nội). Bằng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, bác sĩ Hoàng Bảo Châu đã có những đánh giá khách quan về tính vị, dược lý của các vị thuốc tạo điều kiện cho Xí nghiệp dược Hà Nam Ninh sản xuất thuốc Bổ phế chỉ khái lộ và được đưa vào danh mục thuốc cổ truyền thiết yếu. Những kinh nghiệm về phương pháp nghiên cứu y học cổ truyền của ông đã có đóng góp ít nhiều vào quy chế “Đánh giá tính an toàn và hiệu quả của thuốc cổ truyền” (số 371/1996) của Bộ Y tế.

Với GS Hoàng Bảo Châu, việc nghiên cứu, thực hành y học cổ truyền là chưa đủ, mà còn phải phổ biến kiến thức bằng cách viết sách, xuất bản tài liệu. Có thể kể đến một số cuốn sách được sử dụng và phổ biến rộng rãi trong giới nghiên cứu và nhân dân như: Lý luận cơ bản y học cổ truyền, Nxb Y học, 1997; Phương thuốc cổ truyền, Nxb Y học, 1998; Châm cứu chữa một số bệnh thông thường, Nxb Y học, 1988; Nội khoa học cổ truyền, Nxb Y học, 1997; Thuốc cổ truyền và ứng dụng lâm sàng, Nxb Y học, 1999, Khí công, Nxb Y học, 1972… Những cuốn sách trên được giới nghiên cứu đánh giá cao, đồng thời được nhiều người tìm đọc, áp dụng thực hành.

Trong những năm 50 của thế kỷ trước, Việt Nam đã đề ra đường lối “thừa kế phát huy y học cổ truyền, kết hợp với y học hiện đại để xây dựng nền y học Việt Nam”. Và những nghiên cứu của bác sĩ Hoàng Bảo Châu đã làm sáng tỏ những nội dung của đường lối, tổng kết kết quả đã đạt được và góp phần khẳng định đường lối y học này là phù hợp với nhu cầu, điều kiện thực tiễn ở Việt Nam.

Với những đóng góp và nghiên cứu không biết mệt mỏi, năm 1996, GS Hoàng Bảo Châu được công nhận danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân và được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ vào năm 2000 cho cụm công trình “Nghiên cứu về y học cổ truyền - Kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại”.

Đã vào tuổi bát tuần, nhưng GS Hoàng Bảo Châu vẫn miệt mài để hoàn thành những dự định của cuộc đời, vì sức khỏe cộng đồng theo nguyên lý Đông-Tây y kết hợp.

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 



* GS Hoàng Bảo Châu, chuyên ngành Y học, nguyên Viện trưởng Viện Y học cổ truyền Việt Nam (nay là Bệnh viện Y học cổ truyền Việt Nam).

[1] Kết quả này được GS Hoàng Bảo Châu công bố trong báo cáo: “Kết quả chữa bệnh bằng châm cứu trên 1937 trường hợp”, Hội nghị Đông y quốc tế lần thứ 6 tại Tokyo, Nhật .

[2] GS Nguyễn Thường Xuân (1925-2010), nguyên Trưởng khoa Giải phẫu Thần kinh, Bệnh viện Việt - Đức.

[3] Bác sĩ Bùi Quang Hiền.

[4] Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt-Đức.

[5] Trích nguyên văn trong hồ sơ đăng ký Giải thưởng Hồ Chí Minh của GS Hoàng Bảo Châu, 12-1999.

[6] Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng (1906-1998), từng là Bộ trưởng Bộ Y tế (1969-1974).

 

 

 

 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: