15/09/2017 4:15:53 CH - Một thời đèn sách

14/09/2017 8:17:23 SA - Một buổi làm việc thú vị

13/09/2017 1:04:59 SA - Một đêm nhạc đặc biệt

Trọn một đời vì công minh lịch sử
Cập nhật lúc: 15:21, Thứ Ba, 25/04/2017 (GMT+7)

Cho đến nay, hiếm thấy một nhà nghiên cứu nào có con đường học tập, nghiên cứu giống với GS Văn Tạo*. Ông là một nhà sử học đi lên bằng con đường tự học, tự nghiên cứu mà không có trong tay lấy một tấm bằng, dù đó chỉ là tấm bằng Thành chung (Diplôme). Trở thành nhà nghiên cứu sử học, ông đã đưa ra quan điểm “công minh lịch sử, công bằng xã hội” và chứng minh nó bằng những công trình nghiên cứu về một số nhân vật, dòng họ trong lịch sử Việt Nam.

Nhà sử học không bằng cấp

Giáo sư Văn Tạo tên thật là Nguyễn Xuân Đào[1], sinh ngày 29-4-1926 tại làng La Tỉnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Cha là Nguyễn Văn Lộc, từng làm lý trưởng, sau là bá hộ của làng. Mẹ là Phạm Thị Nhỡ (còn gọi là Nhã), con gái của một thầy đồ cùng làng. Năm 6 tuổi, Nguyễn Xuân Đào vào học tại trường Tiểu học Hương Sư, Tứ Kỳ, Hải Dương, sau đó theo học ở trường huyện. Tháng 4-1939, ông thi đậu bằng Sơ đẳng tiểu học (Certificate) và được gia đình cho xuống Hải Phòng học trung học. Khi Nhật vào Đông Dương, việc học của ông ở Hải Phòng bị lỡ dở. Cuối năm 1941, ông lên Hà Nội học trường Trung học Văn Lang ở phố Hàng Bột. Nhưng năm 1942, tình hình chiến sự có nhiều biến động phức tạp, trường học đóng cửa nên ông phải dừng hẳn việc học của mình ở đây. Những diễn biến thời cuộc, không cho phép Nguyễn Xuân Đào có cơ hội được tiếp tục đến trường lớp và học tập một cách bài bản, chính quy.

Khi việc học bị dở dang, Nguyễn Xuân Đào trở về quê, mang theo niềm nuối tiếc và phẫn uất của một người ham học nhưng bất lực trước thời thế. Người thanh niên trẻ tuổi ấy luôn mong muốn làm được điều gì đó giúp ích cho quê hương, và thỏa chí tang bồng của kẻ làm trai đã sinh ra ở vùng đất khoa bảng - Tứ Kỳ, Hải Dương. Ông có nguyện vọng được lên Việt Bắc tham gia kháng chiến nhưng vì là con trai duy nhất trong nhà, bố mẹ đã mất nên gia đình kiên quyết phản đối.

Cuối năm 1947, sau một thời gian ấp ủ, Nguyễn Xuân Đào quyết định bày tỏ kế hoạch về việc thành lập một trường tư thục với Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Tứ Kỳ - Trần Đình Long và Bí thư huyện ủy - Nguyễn Văn Tuynh. Được sự đồng ý của lãnh đạo huyện, ông đã xúc tiến các thủ tục thành lập một trường tư thục nhằm “chấn dân khí”. Nhưng một thanh niên chưa có bằng Diplôme khó có thể đứng ra thành lập trường và chiêu mộ học sinh. Để có được sự đồng ý của huyện thì bắt buộc phải có những cử nhân, tú tài đứng ra đảm bảo. Ông đã cùng với chú ruột của mình là ông Nguyễn Đức Nghiêm (mới chỉ có trình độ Đệ tứ) đi đến các làng lân cận, mời các ông cử, ông tú tham gia giảng dạy cho trường. Nhiều người ủng hộ, nhiều người ái ngại mà từ chối khéo không tham gia. Năm 1948, khi thuyết phục được ông cử Trần Văn Dư tham gia, Nguyễn Xuân Đào cùng các ông Nguyễn Văn Hiền, Trần Hữu Thu… đứng ra thành lập trường Trung học Phan Bội Châu ở Tứ Kỳ, Hải Dương và ông Trần Văn Dư được cử làm Hiệu trưởng nhà trường.

   

                             Giáo sư Văn Tạo

Trường học mở ra đã góp phần đào tạo con em địa phương trong vùng và cả con em những vùng lân cận. Ngoài dạy các kiến thức phổ thông như văn, sử, địa, toán… trường còn tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, như diễn thuyết về văn học, biểu diễn văn nghệ, làm báo tường. Trường mở được hai khóa, từ năm 1948 đến năm 1950, hoạt động và học tập sôi nổi, số học sinh lúc đông nhất lên tới 200 người. Gần hết niên khóa 1949-1950, Pháp đánh mạnh vào đồng bằng Bắc bộ, nhằm chia cắt vùng hậu phương của Việt Minh với Việt Bắc. Trường Phan Bội Châu nằm trong vùng địch càn quét, trụ sở trường bị giặc Pháp chiếm đóng làm đồn bốt. Trường giải tán, thầy trò của trường mỗi người một nơi, nhiều người xung phong lên vùng Việt Bắc tham gia kháng chiến.

Trong tình thế giặc tràn về làng, Nguyễn Xuân Đào nhanh chóng quyết định phải lên Việt Bắc, không thể sống kìm kẹp, không thể chịu nhục. Mang theo giấy giới thiệu của đảng bộ địa phương, ông rời khỏi vùng tạm chiếm với một hành trình khá dài, tưởng chừng có lúc nguy hiểm tới tính mạng. Tại Việt Bắc, Nguyễn Xuân Đào được giao nhiệm vụ công tác đoàn thanh niên, hoạt động chủ yếu ở hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Ninh. Cũng trong thời gian này (1950-1953) ông tham gia học bổ túc tại trường Hàn Thuyên, đóng ở Bắc Ninh, nhằm bồi dưỡng thêm các kiến thức về khoa học tự nhiên. Đầu năm 1953, ông viết thư cho Bí thư Trung ương Đoàn - Nguyễn Lam, trình bày những suy nghĩ, thắc mắc và khao khát cống hiến sức trẻ cho sự nghiệp kháng chiến. Ông Nguyễn Lam đã giới thiệu Nguyễn Xuân Đào đến công tác tại Ban Sử-Địa-Văn mới thành lập. Ông rất tự hào và háo hức, với suy nghĩ một lòng phục vụ tổ quốc trên hết. Sau này, ông kể lại: “Từ Thái Nguyên tôi lên Ban Sử-Địa-Văn Trung ương, đó là bước ngoặt cuộc đời, từ một thanh niên trở thành một trí thức, vào một cơ quan khoa học của Đảng. Tôi nhận được giấy triệu tập do đồng chí Nguyễn Lãm - Bí thư Trung ương Đoàn ký. Công văn nói rằng: hiện nay Trung ương thành lập Ban Sử-Địa-Văn… được biết có đồng chí Nguyễn Xuân Đào công tác tại Đoàn thanh niên Việt Bắc là người có học vấn và từng làm công tác giáo dục. Nay Ban Sử-Địa-Văn cần ba người, với trình độ là hết phổ thông, nếu có được ngoại ngữ gì cũng tốt, trong ba người đó trước tiên là ưu tiên lấy đồng chí Nguyễn Xuân Đào, đồng chí Đào không đi mới lấy người khác”[2].

Tháng 12-1953, Ban Sử-Địa-Văn được thành lập do ông Trần Huy Liệu làm Trưởng ban, trực thuộc Ban Bí thư Trung ương Đảng. Nguyễn Xuân Đào được nhận về làm việc tại Ban và sự nghiệp nghiên cứu lịch sử của ông bắt đầu từ đó. Ông được làm việc bên cạnh nhiều trí thức lớn như Trần Huy Liệu, Khuất Minh Tranh, Tôn Quang Phiệt, Trần Văn Giáp, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Tố… và học hỏi được từ họ rất nhiều. Ông cũng là một trong số nhiều người đi đầu trong việc xây dựng Ban Sử-Địa-Văn ở Tân Trào, Tuyên Quang, từ việc đi chọn từng cây tre, nứa về xây dựng các ngôi nhà để làm việc. Thời gian công tác ở Ban Sử-Địa-Văn, Nguyễn Xuân Đào từng là Chánh văn phòng, cán bộ nghiên cứu. Dưới sự chỉ đạo của Trưởng ban Trần Huy Liệu, ông và các đồng nghiệp đã tập hợp và biên soạn được các bộ sách quan trọng về lịch sử cận đại Việt Nam, về cuộc Cách mạng tháng Tám… Đối với nghiên cứu viên Nguyễn Xuân Đào, Trưởng ban Trần Huy Liệu là người có ảnh hưởng lớn nhất tới phong cách sống cũng như cách làm sử của ông. Như ông từng chia sẻ: “Trần Huy Liệu vốn khảng khái,… Ông là người làm khoa học nhưng có quan điểm đại chúng, luôn luôn tiếp xúc với những người đại chúng, những anh em mới làm sử học, sinh viên, nghiên cứu sinh, những ông già thất thế không có việc làm, Trần Huy Liệu không tiếc thời giờ để tiếp ai”[3].

Tháng 3 năm 1960, Viện Sử học được thành lập, ông Trần Huy Liệu được cử làm Viện trưởng. Ông Văn Tạo cũng công tác tại Viện Sử học và được bổ nhiệm làm Trưởng ban Thư ký khoa học Viện. Ông ở cương vị này không lâu thì nhận được thông báo chuẩn bị đi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Có lẽ, thời kỳ ở Liên Xô (1961-1964) là khoảng thời gian ông được học có hệ thống và bài bản nhất. Tuy nhiên, do bối cảnh chính trị, nghiên cứu sinh Văn Tạo và nhiều học viên ở Liên Xô phải trở về nước. Vì vậy luận án phó tiến sĩ ông đang thực hiện nhưng không kịp bảo vệ. Chuyện bằng cấp, vì hoàn cảnh mà ngoảnh mặt với ông. Nhưng điều ấy chẳng làm ông quá bận tâm. Ông trở về công tác tại Viện Sử học và tiếp tục giữ cương vị Trưởng ban Thư ký khoa học. Đây là giai đoạn Viện Sử học phát triển mạnh và hoàn thiện tổ chức quản lý cũng như chuyên môn. Văn Tạo lúc này đóng vai trò như một trợ lý đắc lực cho ông Trần Huy Liệu. Năm 1969, Viện trưởng Trần Huy Liệu qua đời, ông Văn Tạo trở thành người quản lý đắc lực của Viện Sử học vì ông Nguyễn Khánh Toàn khi đó là Chủ nhiệm Ủy ban khoa học xã hội được giao kiêm nhiệm Viện trưởng Viện Sử học.

Đến năm 1972, nghiên cứu viên Văn Tạo được bổ nhiệm làm Phó Viện trưởng Viện Sử học, chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp Viện Sử học, dưới sự điều hành chung của Chủ nhiệm Nguyễn Khánh Toàn. Thời gian này, ông hoàn thành cuốn sách “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, 1972). Năm 1980, ông được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Sử học[4]. Ông giữ vai trò Viện trưởng đến năm 1989, sau khi nghỉ quản lý ông vẫn tiếp tục làm công tác chuyên môn với tư cách là chuyên viên cao cấp, rồi chuyên gia cao cấp.

Người đi tìm sự thật của lịch sử

Có thể khẳng định, GS Văn Tạo là một nhà sử học dám dấn thân tìm sự thật vốn có của một số vấn đề lịch sử. Đã theo nghiệp làm sử, ai cũng mong muốn nghiên cứu các nhân vật, sự kiện theo đúng vị trí của nó, nhưng giữa mong muốn và việc hiện thực hóa nó thì không phải nhiều người làm được. Rõ ràng, việc nghiên cứu lịch sử ở đâu cũng vậy, đều bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó hoàn cảnh chính trị xã hội ở mỗi thời đoạn có vai trò chi phối quan trọng.

Trong hơn nửa thế kỷ làm công tác nghiên cứu lịch sử, GS Văn Tạo đã để lại một sự nghiệp khoa học khá đồ sộ với gần một trăm cuốn sách do ông biên soạn, chủ biên hay tham gia biên soạn, hơn 200 bài nghiên cứu, bài báo đăng trên các tạp chí nghiên cứu, các hội thảo khoa học trong nước, quốc tế. Từ năm 1996, ông đưa ra quan điểm “Công minh lịch sử và công bằng xã hội”. Với việc lấy quan điểm này làm kim chỉ nam trong nghiên cứu, ông đã góp phần nhìn nhận lại một số vấn đề lịch sử từng gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu.

Giáo sư Văn Tạo tham gia nhiều đề tài, chương trình nghiên cứu và đào tạo. Năm 2000, cụm công trình “Chúng ta kế thừa di sản nào?” và “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam” được tặng thưởng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và công nghệ. Đây là một phần thưởng xứng đáng cho những đóng góp của ông cho khoa học lịch sử và sự phát triển của sử học Việt Nam.

Năm 2012, công trình “Nạn đói ở Việt Nam năm 1945 - Những chứng tích lịch sử” do ông làm chủ biên được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và công nghệ. Bằng những số liệu chi tiết, cụ thể và rõ ràng công trình này đã lên án tội ác chiến tranh của phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp cho dân tộc Việt Nam. Để hoàn thành công trình này, GS Văn Tạo và cộng sự đã phải lặn lội về nhiều địa phương để thống kê nhân khẩu, số người chết, phỏng vấn và thu thập tư liệu ký ức… Với cách làm như vậy, công trình đã thuyết phục được độc giả và các nhà nghiên cứu, nó cũng thể hiện thái độ nghiêm túc, công minh của một người làm lịch sử. Đến nay, công trình “Nạn đói ở Việt Nam năm 1945 - Những chứng tích lịch sử” đã được Nhật Bản dịch nguyên bản sang tiếng Nhật và Mỹ dịch sang tiếng Anh. Nói về công trình này, GS Văn Tạo từng chia sẻ: “Phần bi thương nhất của cuốn sách và cũng chính là phần được dư luận quốc tế chú ý nhất, trân trọng nhất chính là lời kể của các nhân chứng. Mỗi khi đọc lại những đoạn này tôi đều khóc và tôi cũng không dám nghe lại các băng ghi âm vì nó ám ảnh tôi về nỗi bi thương của nạn đói khủng khiếp này”[5].

Nhiều người trân trọng GS Văn Tạo bởi ông chính là người đã dầy công nghiên cứu để trả lại sự thật cho một số nhân vật trong lịch sử. Động lực để ông làm việc đó xuất phát từ cái tâm trong sáng và suy cho cùng, đối với ông đó là trách nhiệm của một người viết sử. Sinh thời ông luôn tâm niệm, lịch sử có công minh, rõ ràng thì xã hội mới có công bằng. Quan điểm ấy của ông được Báo Nhân dân đăng tải vào năm 1996, và đã được các nhà nghiên cứu, học giả hưởng ứng, bởi đó thể hiện tâm - trí và mục đích phụng sự khoa học và xã hội của ông.

Những vấn đề nổi bật trong quá trình nghiên cứu, đánh giá lại một số sự kiện, nhân vật lịch sử của GS Văn Tạo, đó là: Làm rõ công lao lịch sử của họ Khúc, nhờ sự nghiệp cải cách hành chính mà giành được quyền tự chủ, mở đầu cho truyền thống cải cách, đổi mới của dân tộc ta; Giải oan cho họ Mạc với quan điểm nhà Mạc không phải là ngụy triều và đã có cống hiến đáng trân trọng vào lịch sử dân tộc; Dựng lại công tích của họ Trịnh - dòng họ đã góp phần tích cực vào việc giữ gìn độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, nổi bật nhất là việc đã thu hồi lại được mỏ đồng Tụ Long và một vùng lãnh thổ cho Tổ quốc; Góp phần làm rõ sự nghiệp cải cách của Hồ Quý Ly, coi thất bại của nhà Hồ chủ yếu là do ngoại xâm, khẳng định những cống hiến nhất định của cải cách Hồ Quý Ly cho lịch sử dân tộc; Đánh giá đúng và ghi nhận cống hiến của Tự lực văn đoàn cho văn học cận đại nước nhà từ khi tổ chức này ra đời cho đến năm 1940; Góp phần đánh giá, nhìn nhận lại công lao, vao trò của chủ bút báo Nam Phong - Phạm Quỳnh… Đồng thời, ông làm rõ rất nhiều những vấn đề lịch sử liên quan đến các nhân vật như Trần Thủ Độ, Đào Duy Từ, Minh Mệnh, Phan Thanh Giản, Phan Châu Trinh…

Nguyên phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Khánh từng nhận xét: “Anh Văn Tạo là một nhà sử học chân chính, khách quan, trung thực. Và tôi rất tâm đắc với anh về quan điểm công minh lịch sử. Tôi cho rằng đó là thái độ, cách nhìn khách quan, vô tư, nhất thiết phải có của mọi người Việt Nam có ý thức và có tri thức, có hiểu biết về lịch sử nước nhà và lịch sử thế giới…”[6]. Giáo sư Furuta Motoo, Đại học Tokyo (người cộng tác quan trọng của GS Văn Tạo trong công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945) cũng đánh giá: “Giáo sư Văn Tạo là một nhà sử học có ý thức trách nhiệm cao đối với dân tộc và xã hội. Điểm xuất phát của ý thức trách nhiệm này nằm ở tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử…”[7].

Còn mãi một chữ tình

Khi còn là sinh viên khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, tôi hay lên thư viện trường đọc sách. Và khi ấy tôi đã tìm mượn một số cuốn sách của GS Văn Tạo như: Sử học và hiện thực; Nạn đói ở Việt Nam năm 1945 - Những chứng tích lịch sử. Chúng tôi đọc những tài liệu đó vừa để tìm hiểu về những vấn đề lịch sử, vừa phục vụ cho những bài thảo luận, kiểm tra ở trên lớp. Trong số sinh viên chúng tôi khi ấy, hầu như không ai biết về GS Văn Tạo, mà chỉ đơn thuần nghĩ đó là một nhà nghiên cứu lịch sử. Tốt nghiệp đại học, tôi về làm việc ở Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam. Và ngay từ những ngày đầu mới học việc, tôi được PGS.TS Nguyễn Văn Huy cầm tay chỉ việc, cùng ông đến gặp những nhà khoa học hàng đầu, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có GS Văn Tạo.

Tôi thật ngỡ ngàng, hóa ra tác giả của những cuốn sách mà mình từng đọc thời sinh viên là một học giả uyên thâm, nay đã ở tuổi xưa nay hiếm, sống giản dị trong căn nhà tập thể cũ chật hẹp ở phường Bách khoa. Kể từ lần ấy, tôi hay đến thăm và làm việc với GS Văn Tạo. Ông là một trong những nhà khoa học đầu tiên ủng hộ hoạt động và cách làm việc của Trung tâm và cũng là người nhận thức được giá trị, tầm quan trọng của việc gìn giữ lại di sản của các trí thức.

Làm việc với ông, chúng tôi cảm thấy được sự chân thành, tâm thế ung dung của một người nghiên cứu đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã chứng kiến nhiều sự đổi thay của lịch sử đất nước. Là một người yêu ca trù, ông còn thỉnh thoảng biểu diễn đánh trống trầu và hát mấy điệu hát ca trù. Với ông, một nhà khoa học, nhưng chúng tôi không có khoảng cách và rất gần gũi. Nhiều lần tôi gọi điện, ông nhận ngay ra tôi: “Hóa đấy à, dạo này cậu có khỏe không? Cho mình gửi lời hỏi thăm Huy (PGS Nguyễn Văn Huy) nhé. Mình rất vui vì những công việc mà các cậu đã làm được”.

   Giáo sư  Văn Tạo (thứ 2 từ trái), trong một lần thăm   Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, 3-2010

Cứ như vậy, GS Văn Tạo dần bàn giao toàn bộ di cảo cuộc đời mình cho Trung tâm lưu trữ. Đặc biệt, ông là nhà khoa học tiên phong khi thực hiện lưu giữ di sản ký ức, qua việc tự ghi âm những lời tự sự của chính ông về cuộc đời mình vào 118 băng cassette, lấy nhan đề “Một thế kỷ qua những mẩu chuyện đời”, với những nội dung phong phú, đa dạng, đúng như tên gọi mà ông đã đặt cho nó. Trước khi bàn giao sưu tập băng ghi âm cho chúng tôi, ông nhấn mạnh rằng, những mẩu chuyện đó là tâm huyết của ông, do ông đúc kết lại, chắc sẽ giúp ích trong nghiên cứu sử học sau này. Đó không chỉ là một kho tư liệu quý về cuộc đời và hoạt động của nhà sử học Văn Tạo – Nguyễn Xuân Đào, mà còn cả những vấn đề, những câu chuyện về một thời kỳ lịch sử cùng những nhân vật gắn với những giai đoạn đó.

Nhìn lại cuộc đời GS Văn Tạo (Nguyễn Xuân Đào), với những công trình nghiên cứu, những quan điểm về sử học thì rõ ràng có rất nhiều điều để đưa ra phân tích, bình luận. Tuy nhiên, xét về nghị lực vượt khó, vươn lên trong cuộc sống, trong khoa học thì không nhiều người làm được như ông. Ông vừa đại diện cho một thế hệ trí thức sống thanh bạch, suốt đời đặt cái chung lên trước cái riêng; vừa có chất riêng của Văn Tạo, điềm đạm, khiêm tốn và thủy chung. Cả cuộc đời ông, không một tấm bằng trong tay nhưng vẫn trở thành một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong giới sử học hiện đại.

Trong dòng người vào tiễn đưa ông, có đầy đủ đại diện của các cơ quan nơi ông đã từng cộng tác, làm việc, đại diện của họ Khúc, họ Mạc… Chúng tôi lặng lẽ vào gặp ông lần cuối mà lòng không cầm được nước mắt. Ông đã mãi mãi ra đi, nhưng những cống hiến và di sản nghiên cứu của ông sẽ vẫn được thế hệ sau lưu giữ, kế thừa.

   

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 


* GS Văn Tạo (1926-2017), chuyên ngành Sử học, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).

[1] Bút danh Văn Tạo được dùng từ năm 1958. Kể từ đó, Văn Tạo trở thành cái tên quen thuộc trong giới sử học.

[2] Văn Tạo, "Một thế kỷ qua những mẩu chuyện đời", băng số 6, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[3] Văn Tạo, "Một thế kỷ qua những mẩu chuyện đời", băng số 22, tài liệu đã dẫn.

[4] Theo quyết định số 78CP của Hội đồng Chính Phủ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 06-3-1980

[5] http://www.vusta.vn/vi/news/Guong-hoat-dong-KHCN/GS-Van-Tao-Nguoi-di-tim-tieng-noi-su-that-cua-lich-su-53527.html

[6] http://www.vusta.vn/vi/news/Guong-hoat-dong-KHCN/GS-Van-Tao-Nguoi-di-tim-tieng-noi-su-that-cua-lich-su-53527.html

[7] http://www.vusta.vn/vi/news/Guong-hoat-dong-KHCN/GS-Van-Tao-Nguoi-di-tim-tieng-noi-su-that-cua-lich-su-53527.html

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: