28/04/2017 11:38:05 SA - Trao trọn niềm tin

25/04/2017 8:04:17 SA - Về lại một thời tuổi trẻ

Về một người tự học đặc biệt
Cập nhật lúc: 16:02, Thứ Tư, 05/04/2017 (GMT+7)

GS.TS Bùi Khánh Thế* là người như vậy, ông được giới ngôn ngữ và các thế hệ học trò đánh giá cao bởi sự khiêm tốn, tinh thần vươn lên trong học tập, nghiên cứu. Con đường học tập và nghiên cứu ông đã đi, xét cho cùng, rất đặc biệt và chẳng giống ai.

Con đường không giống ai

GS.TS Bùi Khánh Thế sinh năm 1934 tại Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, nhưng tuổi thơ gắn liền với ông nội ở thị trấn Hòa Đa, tỉnh Bình Thuận. Bố ông theo đạo Tin lành, từng làm giảng sư[1], truyền đạo ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam. Tinh thần bác ái và những điều học được từ kinh thánh đã có ảnh hưởng lớn tới nhân cách, thái độ ứng xử, lối sống và phong cách làm việc của Bùi Khánh Thế. 

GS.TS Bùi Khánh Thế

Thuở ấu thơ, những tháng ngày chăn trâu, tắm sông cùng đám bạn ở Bình Thuận đã cho Khánh Thế biết thêm một ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ, đó là tiếng Chăm. Sự tò mò và yêu thích thứ ngôn ngữ này là cái duyên để vài chục năm sau ông tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu sắc về nó.

Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, cũng là lúc Bùi Khánh Thế tốt nghiệp bậc tiểu học. Mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng Bùi Khánh Thế đã tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Những năm 1945-1951, ông hoạt động ở Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bình Thuận. Sau này ông kể lại: “Tôi thuộc những người cuối cùng vào chiến khu. Ở đó, tôi chỉ là chú bé loắt choắt, làm liên lạc, làm công tác văn thư, rải truyền đơn. Lúc đó gọi là chiến khu Ô Dô của Bình Thuận. Tôi làm ở đó mãi cho tới năm 1951 thì được tỉnh chọn gửi ra Liên khu 5 đào tạo tiếp”[2].

Nhờ quá trình hoạt động sôi nổi và lòng nhiệt thành cách mạng, năm 1951, Bùi Khánh Thế được kết nạp Đảng - một niềm vinh dự lớn đối với chàng trai 17 tuổi. Từ năm 1951-1954, ông hoàn thành chương trình phổ thông ở trường trung học Hòa Bình, tỉnh Bình Định. Cuối năm 1954, sau khi tốt nghiệp, ông thuộc diện học sinh được tập kết ra Bắc để tiếp tục được đào tạo, sau này trở về xây dựng quê hương. Đó là mong muốn của nhiều đoàn học sinh miền Nam được tập kết ra Bắc với hy vọng sau khi những điều khoản của Hiệp định Genève được thực hiện sẽ trở lại miền Nam làm việc, cống hiến. Một bộ phận lớn học sinh được tập kết ra Nghệ An, Hà Tĩnh để tiếp tục chương trình học phổ thông; một bộ phận được đưa ra Hải Phòng, Quảng Ninh… Bùi Khánh Thế được về học tại trường Huỳnh Thúc Kháng, đóng tại Hà Tĩnh. Ông học lớp 8 và lớp 9 ở đó.

Năm 1956, khi chưa tốt nghiệp chương trình phổ thông thì Bùi Khánh Thế nhận được lệnh tập trung ra Hà Nội để học lớp tiếng Nga. Không hề suy nghĩ, đắn đo, Bùi Khánh Thế chấp hành mệnh lệnh với sự nhiệt tình, hăng hái của tuổi trẻ và tinh thần trách nhiệm của một đảng viên. Lớp tiếng Nga được tổ chức tại khu Đông Dương học xá (nay là trường Đại học Bách khoa Hà Nội) do một số giáo viên người Nga và người Việt giảng dạy. Việc tổ chức lớp tiếng Nga khá đặc biệt khi ấy, bởi xuất phát từ nhu cầu đào tạo gấp rút cán bộ phục vụ cho công tác giảng dạy tiếng Nga ở các trường đại học, nhu cầu về cán bộ phiên dịch trong các ngành, lĩnh vực khác nhau. Không phải là một lớp thuộc chương trình đại học, nhưng cách tổ chức này rõ ràng là rất sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu thực tế - điều mà hiện nay không làm được trong bối cảnh một xã hội sính bằng cấp[3].

Với việc đào tạo chuyên sâu dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của các giáo viên người Nga, chỉ sau 2 năm, những người như Bùi Khánh Thế đã có thể sử dụng thành thạo tiếng Nga, phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy và phiên dịch. Sau này ông cho biết, trước khi thi tốt nghiệp lớp học đặc biệt này, ông được tạo điều kiện thi lấy bằng tốt nghiệp cấp 3 rồi mới lấy bằng tiếng Nga.

Cho đến năm 1958, Bùi Khánh Thế vẫn chưa có trong tay một tấm bằng đại học, mà chỉ có bằng tốt nghiệp cấp 3 cùng với một chứng chỉ tốt nghiệp lớp tiếng Nga. Ông luôn đau đáu và khao khát để có được tấm bằng đại học - một loại giấy thông hành đặc biệt đối với người có học lúc bấy giờ. Chuyện ấy chỉ diễn ra sau 10 năm (1968) với một quá trình tự học khá là đặc biệt.

Sau khi tốt nghiệp lớp tiếng Nga năm 1958, Bùi Khánh Thế được phân công làm phiên dịch ở Nhà máy Trung quy mô (Hà Nội) trong một thời gian ngắn, rồi được cử về trường Đại học Tổng hợp Hà Nội để dạy tiếng Nga cho sinh viên. Tại đây, một luồng gió mới đã tác động mạnh mẽ đến Bùi Khánh Thế. Kể từ năm 1959, Bùi Khánh Thế là cán bộ thuộc biên chế khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, với nhiệm vụ chính là dạy Nga văn cho sinh viên trong trường. Ông có dịp được làm việc trực tiếp với những học giả uyên bác như Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Hoàng Xuân Nhị, Nguyễn Tài Cẩn… Đó là điều may mắn và cũng là cơ hội để ông tự thay đổi chính mình, vươn lên trong một vai trò khác.

Nếu cứ làm nhiệm vụ của một cán bộ giảng dạy Nga văn thì sẽ chẳng có điều gì đặc biệt đáng nói đối với Bùi Khánh Thế. Nhưng với tinh thần ham học hỏi, lấy tự học làm động lực vươn lên, nên ông không chỉ say mê với công tác giảng dạy, mà còn tham gia công tác dịch thuật. Lấy cần cù bù lại những lỗ hổng về kiến thức chuyên ngành, Bùi Khánh Thế ngày đêm miệt mài bên những trang sách và kết quả là đã hoàn thành việc dịch và xuất bản một số cuốn sách nổi tiếng của văn học Xô viết như Lịch sử văn học Xô-viết (S.O. Mêlíchnubarốp, trọn bộ hai tập, 1961), Các loại hình nghệ thuật (V. Kôginốp, 1963). Những thành công bước đầu ấy càng làm cho ông yêu thích chuyên ngành ngôn ngữ học và mong muốn đi sâu nghiên cứu lĩnh vực khoa học này.

Bên cạnh những giờ dạy tiếng Nga, những khi làm phiên dịch cho chuyên gia Liên Xô thì Bùi Khánh Thế còn tranh thủ học tập như một sinh viên chính quy. Được sự đồng ý của GS Nguyễn Tài Cẩn (Chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ học), Bùi Khánh Thế lên lớp học dự thính và thực hiện các bài kiểm tra, được chấm điểm theo quy định như sinh viên. Ông kể lại: “Tôi vừa làm phiên dịch, vừa dạy tiếng Nga cho sinh viên. Khi nào có các bài khoá mà các giáo viên người Nga dạy thì tôi lên dịch. Lúc đó thầy và trò dường như không có khoảng cách, rất tôn trọng nhau. Đồng thời tôi là sinh viên dự thính. Các thầy coi tôi như em út, và ở một chừng mực nào đó xem như đồng nghiệp, cho nên tôi mới được học, chấm điểm bình thường. Mà sở dĩ tôi học được là tôi có kiến thức nền, nhiều vấn đề về lý thuyết tôi đã nắm được vì đã tham gia dịch tài liệu, sách. Những thầy như Đinh Gia Khánh, Đỗ Đức Hiểu rất thương tôi. Thời kỳ đó sử dụng những tài liệu lý thuyết của Liên Xô, như lý luận văn học, chủ nghĩa Mác-Lênin trong văn học, hiện thực xã hội chủ nghĩa… mà các thầy lại chủ yếu được đào tạo từ thời Pháp nên ít sử dụng tiếng Nga, vì vậy tôi được tin tưởng giao cho dịch những tài liệu bằng tiếng Nga. Tài liệu do tôi dịch, khi dùng các thầy thường góp ý, trao đổi thêm. Tôi từng tham gia dịch cuốn Lý luận văn học với anh Hoàng Trinh và thầy Lê Đình Kỵ. Sau khi tôi dịch, các thầy sửa chữa. Vì được tạo điều kiện như vậy nên tôi thấy học là chuyện bình thường thôi!”[4].

Quá trình học dự thính đã giúp Bùi Khánh Thế tích lũy được nhiều kiến thức về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh công tác giảng dạy, ông còn tham gia đưa sinh viên đi thực tập về ngôn ngữ ở nhiều địa phương của miền Bắc. Mỗi chuyến đi là một cơ hội được học tập từ thực tiễn, một lần tích lũy kiến thức vô cùng quý giá. Ông còn nhớ: “Chuyến đi Cao Bằng do thầy Nguyễn Hàm Dương và chị Hoàng Thị Châu phụ trách, chúng tôi và sinh viên đều xin ở nhà dân. Tôi học tiếng dân tộc ở trong dân địa phương, cứ ghi chép. Sinh viên học thì mình cũng học. Lúc ấy, việc học đối với tôi không phải bắt buộc, nhưng tôi biết phải làm thế nào để có thể hình thành một khóa luận tốt nghiệp. Vừa làm việc với sinh viên, tôi vừa âm thầm ghi chép, và viết. Cũng chính từ những lần đi thực tập cùng sinh viên, từ những cuốn sổ ghi chép ấy, tôi đã hoàn thành khóa luận Từ láy trong tiếng Tày Nùng (so sánh với tiếng Việt). Khóa luận của tôi được chấm điểm, đánh giá như sinh viên bình thường. Bằng tốt nghiệp của tôi do thầy Hiệu trưởng Ngụy Như Kontum ký”[5].

Năm 1968, Bùi Khánh Thế chính thức được cấp bằng đại học khi đã ở tuổi 34, nhưng với ông, việc ấy chẳng hề gì, trái lại là một niềm tự hào khi từng bước chinh phục niềm đam mê tự học của mình. Ngay sau khi có bằng cử nhân, ông trở thành cán bộ giảng dạy chính thức của bộ môn Ngôn ngữ học, khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Vẫn theo con đường chẳng giống ai, ông tiếp tục đặt quyết tâm chinh phục những chân trời khoa học mới khi có cơ hội, và không từ chối bất kỳ nhiệm vụ nào do tổ chức giao phó. Từ năm 1969-1972, ông cùng một số cán bộ khác được biệt phái sang Lào để nghiên cứu về ngôn ngữ học. Trong bản tự nhận xét về quá trình công tác tại Lào, ông viết: “Tuy thời gian làm việc có hạn chế và đối tượng khảo sát rất mới lạ, nhưng tôi đã cố gắng, một mặt vận dụng vốn hiểu biết về ngôn ngữ mà mình đã có, và mặt khác tranh thủ thu thập tư liệu thực té để có thể đạt được những kết quả nhất định, đóng góp cho đề cương chung, cũng như cho chuyên đề nghiên cứu riêng. Có những giai đoạn làm việc rất căng thẳng, gặp đối tượng khó nhưng tôi đã cố gắng khắc phục, và nói chung không những hoàn thành chương trình đã dự định mà còn làm thêm được một số việc khác ngoài kế hoạch”[6].

Thầy Bùi Khánh Thế không chỉ nghiên cứu ngôn ngữ ở địa bàn các dân tộc thiểu số, mà ông còn dẫn nhiều đoàn sinh viên đi thực tập, hoặc nghiên cứu theo chuyên đề, nghiên cứu các vấn đề ngôn ngữ trẻ em ở Việt Nam... Nhắc tới GS Bùi Khánh Thế, PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt - một trong những học trò của ông từng viết: “Khi tôi vào đại học thì thầy Bùi Khánh Thế không còn là giảng viên môn tiếng Nga nữa mà đã là giảng viên của bộ môn Ngôn ngữ học, khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông đảm nhiệm giảng dạy phần cú pháp. Lớp chúng tôi có nhiều kỉ niệm với ông. Đó là những kỉ niệm gian khổ của thời kì chiến tranh, vừa học vừa chạy giặc. Khi sơ tán về Hà Tây, lúc chạy sang Hưng Yên rồi Hà Bắc… Ấy vậy mà những kiến thức thầy giảng lại không bị rơi vãi dọc đường. Trái lại, bom đạn càng làm cho thầy trò chúng tôi thêm hăng say và quyết tâm hơn. Đến tận bây giờ, tôi vẫn không quên những giờ giảng say sưa của thầy Bùi Khánh Thế ngày ấy. Có nhiều hôm, trong cái nắng hè chói gắt, không có gió, không quạt điện, lớp học trong một nhà dân với hơn chục người vẫn bị cuốn vào cõi đam mê của thế giới khoa học. Ông say sưa giới thiệu cho chúng tôi một số cuốn sách của người Nga, những công trình mới nhất mà ông vừa cập nhật”[7].

Thói quen ghi chép lại những suy nghĩ, những điều nhìn thấy, gặp được trên đường công tác, điền dã đã làm cho khối kiến thức của ông ngày một đầy thêm và cũng chính từ những ghi chép ấy, ông đã hoàn thành nhiều bài nghiên cứu, nhiều đề tài khoa học. Nghị lực ấy khiến nhiều thế hệ học trò phải ngưỡng mộ, học tập.

Vì công việc là đam mê

Năm 1975, đất nước thống nhất, Bùi Khánh Thế được cử vào tiếp quản các trường đại học ở miền Nam. Sau 6 tháng công tác ở Cần Thơ, ông được phân về công tác tại trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, phụ trách công tác sinh viên. Việc xuất thân là người Nam bộ cùng thái độ khiêm tốn trong quá trình làm việc khiến ông không gặp phải bất kỳ khó khăn nào trong việc tiếp xúc, kết nối với các trí thức dưới chế độ cũ và sinh viên miền Nam. Nhiều cựu sinh viên sau này đều khẳng định ông là một người dễ gần, khiêm tốn, giản dị và hết lòng giúp đỡ người khác khi có thể. Những ứng xử chân thành xuất phát từ tinh thần của một nhà giáo, một người có đức tin đã mang đến sự thuận lợi trong công việc của ông. Năm 1977, ông được cử làm Phó hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.

Đầu năm 1979, Bùi Khánh Thế được cử tham gia Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiên cứu ngôn ngữ giữa Viện Ngôn ngữ Việt Nam và Viện Đông phương Liên Xô. Ban chỉ đạo bao gồm: Trưởng ban Hoàng Tuệ (Viện trưởng Viện Ngôn ngữ); Phó ban Bùi Khắc Việt (Phó viện trưởng Viện Ngôn ngữ); ba ủy viên là Hoàng Văn Ma (Trưởng ban ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, Viện Ngôn ngữ), Phạm Đức Dương (Phó ban Đông Nam Á) và Bùi Khánh Thế. Trong quá trình hợp tác, từ năm 1979-1981, ông cùng các nhà khoa học Việt Nam và Liên Xô nhiều lần thực hiện các chuyến nghiên cứu điền dã ở một số tỉnh của Việt Nam. Sau những đợt điều tra, khảo sát ở Việt Nam, ban chỉ đạo hợp tác nghiên cứu còn sang công tác tại Liên Xô. Có thể kể đến việc ông cộng tác với hai đồng nghiệp Liên Xô tiến hành khảo sát và miêu tả cụ thể hai ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam (tiếng Chàm và tiếng Xinhmun), kết quả là cho ra hai tập bản thảo, mỗi tập khoảng 150 trang, được thông qua; viết một chuyên luận (khoảng 150 trang) về tiếng Chàm theo sự thỏa thuận giữa Viện Đông phương (Liên Xô) và Viện Ngôn ngữ (Việt Nam); tham gia các đợt khảo sát về tiếng Thái và tiếng Chàm để chuẩn bị phương án chữ viết cho các ngôn ngữ trên; tham gia nhóm công trình về chữ Thái; tham gia biên soạn chuyên luận “Giới thiệu các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam”… Đặc biệt, dựa trên những tài liệu thu thập được ở Việt Nam, cũng như quá trình nghiên cứu ở Liên Xô, ông đã hoàn thành bản luận án phó tiến sĩ “Về cơ cấu tiếng Chàm” bằng tiếng Nga. Bản luận án nhận được sự đánh giá cao của các nhà khoa học Liên Xô và Việt Nam, sau đó được dịch sang tiếng Việt và bảo vệ ở Việt Nam. Đây cũng là một kết quả, một thành công lớn của ông khi tham gia vào chương trình nghiên cứu này.

Một bản luận án PTS không có người hướng dẫn là một điều khá đặc biệt. Nó càng đặc biệt hơn khi bản luận án ấy được hoàn thành dựa trên khoảng thời gian mà ông tranh thủ được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, là kết quả của một quá tình tìm tòi, tích lũy lâu dài, và sau cùng, từ đam mê với khoa học. Bản luận án được các nhà khoa học Việt Nam như Hoàng Tuệ, Phạm Đức Dương… và các nhà khoa học ở Viện Đông phương đánh giá cao. Trong bản nhận xét, GS.TS V.M. Xôntxev - một nhà ngôn ngữ uy tín của Liên Xô, công tác tại Viện Đông phương viết: “Đây là chuyên luận được xây dựng trên cơ sở tham khảo một khối lượng phong phú các sách báo viết về tiếng Chàm và các ngôn ngữ cùng họ với nó, cũng như trên cơ sở các tài liệu nghiên cứu của riêng tác giả. Công trình này chứng tỏ tác giả của nó là một cán bộ nghiên cứu có kinh nghiệm và có năng lực, đã có thể tập hợp và phân loại các sự kiện ngôn ngữ cũng như phân tích và khái quát hóa các sự kiện ngôn ngữ ấy. Và chính những phẩm chất khoa học này của đồng chí Bùi Khánh Thế cũng đã được biểu lộ rõ trong quá trình làm việc theo chương trình hợp tác Xô - Việt nghiên cứu ngôn ngữ học điền dã”[8].

Sau khi bảo vệ thành công bản luận án Phó tiến sĩ, năm 1981 tại Hội đồng khoa học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, PTS Bùi Khánh Thế quay trở lại với công tác giảng dạy ngôn ngữ học ở trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh. Những kiến thức ông tích lũy trong nhiều năm được truyền lại cho các thế hệ học trò một cách nhiệt huyết nhất. Nhiều thế hệ học trò luôn nhớ về ông với hình ảnh hiền từ, nhẹ nhàng, nhưng sâu sắc, “cây cao bóng cả nhưng không che khuất mầm non”. Cuối những năm 1980, ông lại nhận nhiệm vụ sang Campuchia làm chuyên gia, hỗ trợ nước bạn một số vấn đề giáo dục, đào tạo đại học.

Giáo sư Bùi Khánh Thế cũng chính là người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc thành lập khoa Đông phương học, trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh (1994). Ông kể rằng, lúc ấy việc đề xuất thành lập khoa Đông phương học gặp không ít khó khăn, nhưng với ý chí quyết tâm và nhận được sự động viên của GS Trần Văn Giàu, ông đã thành công. Ngày nay, khoa Đông phương học phát triển mạnh mẽ, các thế hệ kế tiếp luôn nhớ tới ông như một người đi tiên phong, dám nghĩ, dám làm.

Bên cạnh công tác giảng dạy, quản lý, GS Bùi Khánh Thế cũng để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về lĩnh vực ngôn ngữ học. Như đã nói, ngay từ đầu những năm 1960, ông đã dịch các tài liệu lý thuyết của Nga phục vụ cho công tác giảng dạy, chủ yếu là mảng nghiên cứu: ngôn ngữ học tiếp xúc, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số (ngôn ngữ các tộc người) Việt Nam được ông dầy công đào sâu, suy ngẫm. Ông còn dịch một số tác phẩm văn học Nga, biên soạn một số cuốn sách như: Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, 1995; Từ điển Chăm - Việt (Chủ biên), Nxb Giáo dục, 1995; Mấy vấn đề về tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia TP. HCM, 2001; Học tập di sản ngôn ngữ của Hồ Chí Minh, Nxb Đại học Quốc gia TP. HCM, 2011; Tiếng Việt - tiếng nói thống nhất của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2012… Đồng thời, nhiều nghiên cứu về tiếng Chàm, tiếng Mnông của ông được đăng tải trên các tạp chí khoa học, đó là nguồn tài liệu hữu ích cho việc tham khảo, học tập của nhiều sinh viên, giới nghiên cứu…

Vẫn biết, bằng cấp, học hàm, học vị không phải là thứ tiên quyết để đánh giá về năng lực, trình độ học thuật của một con người, nhưng việc đạt được những học vị ấy bằng nỗ lực của chính bản thân thì không có nhiều người như trường GS.TS Bùi Khánh Thế. Với ông, sống là phải cống hiến cho trọn bầu nhiệt huyết. Đầu năm 2017, khi chúng tôi gọi điện hỏi thăm sức khỏe, ông cho biết vẫn đang cùng học trò và đồng nghiệp đi thực địa ở miền Tây Nam bộ. Thật khâm phục sức làm việc dẻo dai và niềm đam mê nghiên cứu của của ông. Với chúng tôi, con đường ông đi chẳng giống ai, nhưng đáng để bất kỳ ai cũng phải học tập!

 

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 



* GS.TS Bùi Khánh Thế là nhà ngôn ngữ học, từng làm Phó hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.

[1] Theo GS Bùi Khánh Thế, giảng sư tức là người giảng đạo, truyền đạo, mà bên trên là chức mục sư (ở đạo Công giáo, thường gọi là linh mục).

[2] Phỏng vấn GS Bùi Khánh Thế, 21-5-2016, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[3] Phỏng vấn GS Bùi Khánh Thế, 21-5-2016, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[4] Phỏng vấn GS Bùi Khánh Thế, 21-5-2016, tài liệu đã dẫn.

[5] Phỏng vấn GS Bùi Khánh Thế, 21-5-2016, tài liệu đã dẫn.

[6] Bản tự nhận xét quá trình công tác tại Lào của GS Bùi Khánh Thế, 1972, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[7] PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt từng là Phó chủ nhiệm bộ môn Việt ngữ học, khoa Ngôn ngữ học, trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội. Bài dẫn theo: http://www.ussh.vnu.edu.vn/d4/news/GSTSNGND-Bui-Khanh-The-mot-tam-guong-ve-su-kho-hoc-thanh-tai-1-13057.aspx

[8] Bản nhận xét (bản tiếng Việt do GS Bùi Khánh Thế dịch) của GS.TS V.M. Xôntxev cho bản luận án phó tiến sĩ của ông Bùi Khánh Thế, tháng 4-1981, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

 

 

 

 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: