15/09/2017 4:15:53 CH - Một thời đèn sách

14/09/2017 8:17:23 SA - Một buổi làm việc thú vị

13/09/2017 1:04:59 SA - Một đêm nhạc đặc biệt

Những bông hoa của khoa học Việt Nam
Cập nhật lúc: 16:13, Thứ Bảy, 14/01/2017 (GMT+7)

Là những tấm gương sáng, những bông hoa trong ngành khoa học, họ đang từng ngày chứng minh rằng phụ nữ có thể đóng góp rất lớn cho sự tiến bộ khoa học, một lĩnh vực mà đàn ông vẫn đang chiếm ưu thế.

Những thành công của họ đã được Giải thưởng khoa học L'Oréal - UNESCO vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học tổ chức vinh danh.

Những nhà khoa học nữ đáng nể

GS. TS. Nguyễn Thị Lang - Trưởng phòng công nghệ sinh học, Trường đại học An Giang và Trường đại học Cửu Long, giáo sư bộ môn di truyền và chọn giống cây trồng, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long là một trong những nhà khoa học nữ tiêu biểu của Việt Nam nhờ các nghiên cứu trong hơn 25 năm qua và thành công trong lai tạo hơn 73 giống lúa, trong đó có 31 giống lúa đã được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận và đưa vào sản xuất tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, 106 giống lúa được đánh giá là triển vọng và đang trong quá trình khảo nghiệm cấp quốc gia.

GS.TS. Nguyễn Thị Lang đã có hơn 110 bài báo khoa học trong nước và quốc tế, xuất bản 21 sách khoa học chuyên ngành, chủ trì 93 đề tài trong đó có 29 đề tài quốc tế và 6 đề tài cấp Nhà nước.

Hơn 43 công trình nghiên cứu của giáo sư đã mang đến giải pháp và ứng dụng thực tiễn cho sản xuất và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Từ năm 2011 đến 2015, chị đã có 334 công trình khoa học được công bố với 59 hội thảo khoa học quốc tế.

Với những trăn trở nghĩ về các vùng sản xuất nông nghiệp khó khăn và người có thu nhập thấp trong những vùng này ít có khả năng mua được lương thực, cho dù giá rẻ, GS. Nguyễn Thị Lang đã đặt trọng tâm nghiên cứu tìm ra sự cân bằng trong các hệ thống canh tác, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tại vùng khó khăn để nghiên cứu chọn tạo các giống lúa phù hợp.

Nghiên cứu của giáo sư đã khai thác được vật liệu khởi đầu cho công tác lai tạo và xác định được một số giống lúa mang gen phẩm chất với hàm lượng amylose thấp, thông qua cách đánh giá kiểu hình và kiểu gen; thực hiện lai hồi giao để ổn định được gen mùi thơm và hàm lượng amylose vào giống lúa chủ lực trong sản xuất, năng suất cao; trên cơ sở thành công của nghiên cứu đã đưa ra 224 giống đạt phẩm chất cao để phục vụ sản xuất.

Đây là các giống có năng suất cao trên 9 tấn/ha, chất lượng gạo ngon và có mùi thơm, nổi bật là giống lúa có bộ giống OM.

Ngoài niềm say mê trong nghiên cứu cây lúa, GS.TS Nguyễn Thị Lang cũng có nhiều thành công trong nghiên cứu genome cây đậu tương, đậu xanh, cây ăn trái, cây thuốc nam, ngô, lạc, hoa…

Nghiên cứu của giáo sư cho thấy tính hiệu quả của genome học và genome học chức năng, thiết lập được thư viện genome cây lúa và phát hiện các gen ứng cử viên cho mục tiêu chống chịu khô hạn, mặn, ngập và gen kháng sâu bệnh hại, góp phần nâng cao phẩm chất nông sản và phục vụ cho phát triển an toàn lương thực.

Đã có 16 quy trình canh tác giống cây trồng được áp dụng rộng rãi tại các tỉnh và đưa vào sản xuất với quy mô trên 283 ngàn hecta.

Bên cạnh công tác nghiên cứu, GS. TS. Nguyễn Thị Lang còn dành nhiều thời gian cho công tác giảng dạy tại các trường đại học An Giang, Cần Thơ, Mekong, khoa học tự nhiên, nông lâm, truyền lại niềm đam mê nghiên cứu khoa học cho nhiều thế hệ trẻ, hướng dẫn cho hơn 47 thạc sĩ, tiến sĩ thực hiện nghiên cứu trong các chuyên ngành nông học, công nghệ sinh học, di truyền và chọn giống cây trồng.

Trong kế hoạch 2016 - 2020, giáo sư đang tiếp tục hoàn chỉnh các đề tài có liên quan đến nghiên cứu chọn giống xuất khẩu cho đồng bằng sông Cửu Long, thực hiện nghiên cứu ứng dụng marker phân tử chọn giống kháng khô hạn, chống chịu mặn kết hợp khô hạn, ngập kết hợp với mặn, kháng rầy nâu và bệnh và hoàn chỉnh  5 bản đồ  gen mới với 4 nghiên cứu sinh đang hướng dẫn.

Ở Cục cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Bộ công an, nhiều người đều biết đến TS.Nguyễn Thị Mùa, phó trưởng phòng nghiên cứu khoa học - công nghệ và kiểm định phương tiện phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, chị đã nổi tiếng với nghiên cứu về chế tạo vải chịu nhiệt có chứa Neoprence (Ne) dùng trong công tác phòng cháy chữa cháy, là tiền đề cho việc nghiên cứu sản xuất quần áo chữa cháy cho lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy trong cả nước.

TS. Nguyễn Thị Mùa đã công bố tổng cộng 31 công trình khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế và trong nước, bên cạnh đó tiến sĩ cũng xuất bản 2 sách chuyên khảo được sử dụng trong giảng dạy hệ đại học của Trường đại học phòng cháy chữa cháy.

Các kết quả nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Mùa đã được ứng dụng trong chế tạo thành công mẫu vật liệu chịu nhiệt chứa Ne với các thông số đạt tiêu chuẩn Việt Nam và nước ngoài, như độ bền nhiệt đến 5540 C, độ bền cơ học trên 20 kN/m và thời gian chịu nhiệt 15 phút.

Kết quả nghiên cứu này được ứng dụng trong chế tạo mẫu vải chịu nhiệt chứa Ne dùng trong công tác phòng cháy chữa cháy. Kết quả đo tính chất của mẫu vải và kết quả thử nghiệm đốt mẫu cho thấy có một số chỉ tiêu kỹ thuật vượt mức, như mẫu vải không cháy khi thử nghiệm theo tiêu chuẩn ASTM D 1230-94.

Đây là thành công lớn nhất trong nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Mùa và sản phẩm của đề tài sẽ được ứng dụng để sản xuất trang phục chữa cháy cho các chiến sĩ chữa cháy trong tình hình hiện nay.

TS. Nguyễn Thị Mùa đã tham gia và tổ chức nhiều hội nghị khoa học quốc tế về khoa học vật liệu, tham gia phản biện cho khá nhiều tạp chí khoa học quốc tế có uy tín như: Journal of Materials Science and Engineering, Materials Research  Bulletin, Materials Science and Engineering B ..., là chủ nhiệm của đề tài khoa học công nghệ ứng dụng phần mềm tin học để giải các bài toán nhiệt động kỹ thuật và truyền nhiệt trong PCCC, đã nghiệm thu đạt loại xuất sắc và được ứng dụng cho việc giảng dạy tại Trường đại học PCCC.

Hiện tại, tiến sĩ đang chủ nhiệm đề tài về chế tạo vật liệu chống cháy trên cơ sở nhựa Polyetylen tỷ trọng cao và các phụ gia dùng trong công tác PCCC.

Cả hai nhà khoa học trên vừa được được trao tặng Giải thưởng khoa học quốc gia năm 2016 L'Oréal Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học (For Women in Science).

Sống hết mình cho khoa học

PGS. TS. Đỗ Thị Hà, phó trưởng khoa hóa thực vật, Viện dược liệu vừa được nhận học bổng Nhà nghiên cứu khoa học nữ tài năng năm 2016 L’Oreal - UNESCO vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học (L’Oreal For Women in Science) với những phát hiện mới về nguồn dược liệu có nguồn gốc Việt Nam – thân rễ của cây bảy lá một hoa.

Loại dược liệu này trên thực tế đã được sử dụng trong dân gian từ khá lâu trong nỗ lực ức chế tế bào ung thư trên người, tuy nhiên chưa có các nghiên cứu khoa học chính thức về nguồn dược liệu tiềm năng này.

Những phát hiện mới trong nghiên cứu của PGS. TS. Đỗ Thị Hà giúp nhận diện cấu trúc của hợp chất chính trong thân rễ của nguồn dược liệu từ cây thân bảy lá một hoa thông qua phương pháp phổ hiện đại, từ đó giúp xây dựng cấu trúc của hoạt chất chính và đánh giá tác dụng sinh học trên các loại ung thư là ung thư gan, ung thư vú, ung thư biểu mô… để sàng lọc tìm ra hoạt chất chính cho nghiên cứu sâu về cơ chế nhằm xây dựng quy trình chiết xuất cao về hợp chất tiềm năng, phát triển phương pháp định lượng để phát triển thành sản phẩm hỗ trợ điều trị ung thư cho tương lai.

TS.Đỗ Thị Phúc, giảng viên Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc Gia Hà Nội cũng là người vừa được chọn trao học bổng Nhà nghiên cứu khoa học nữ tài năng 2016 L’Oreal – UNESCO For Women in Science, với đề tài nghiên cứu hiện tượng methyl hóa microARN164 ở cây lúa trong điều kiện mặn, với mục tiêu nhằm tăng cường khả năng chịu mặn ở cây trồng.

Với nền tảng lúa là cây lương thực chủ lực, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam, năng suất lúa gạo và diện tích trồng lúa bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đất nhiễm mặn, mức độ ảnh hưởng đã, đang và sẽ càng nặng nề hơn do hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu, nên nghiên cứu của TS. Đỗ Thị Phúc sẽ đóng góp quan trọng cho việc chọn ra giống lúa có khả năng chịu mặn cao đáp ứng cho nhu cầu cấp thiết trong cuộc sống.

Nghiên cứu của TS. Đỗ Thị Phúc giúp mang đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về mối liên quan giữa sự methyl hóa ADN và miARN đáp ứng được các điều kiện bất lợi của môi trường, qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện mặn đến sự methyl hóa và mức độ biểu hiện của gen Osa- miARN164 ở các giống lúa khác nhau và khả năng điều hòa biểu hiện gen Osa-miARN164 đáp ứng điều kiện mặn, thông qua sự methyl hóa ở các giống lúa nghiên cứu.

Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin hữu ích về cơ chế điều hòa thông qua sự methyl hóa trong đáp ứng với stress mặn ở cây lúa, phục vụ công tác chọn tạo giống cây chống chịu tốt và ứng phó với biến đổi khí hậu và xâm lấn mặn.

Cùng với hai nhà khoa học trên, TS. Nguyễn Thị Hiệp, giảng viên bộ môn kỹ thuật y sinh, Trường đại học quốc tế, Đại học quốc gia TP.HCM được Hội đồng khoa học đánh giá là có năng lực cao, khả năng nghiên cứu tốt, có tâm huyết với nghiên cứu khoa học và có nhiều kinh nghiệm trong thiết kế vật liệu sinh học.

TS. Nguyễn Thị Hiệp đã có hơn 8 năm nghiên cứu về các vật liệu ứng dụng trong y học và tương tác của chúng lên tế bào và mô với 18 công bố khoa học thuộc ISI, 5 công bố khoa học trên tạp chí quốc tế và hơn 40 bài báo khoa học trong các hội nghị quốc tế.

Đề tài nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Hiệp được Hội đồng khoa học thống nhất lựa chọn trao học bổng Nhà nghiên cứu khoa học nữ tài năng năm 2016 L’Oreal – UNESCO For Women in Science về tính tiềm năng của đề tài trong những phát hiện mới của loại vật liệu Titanium trong ngành nha khoa phục hồi.

Hiện nay, Titanium (Ti) implant trong xương dạng chân đang là sự lựa chọn tốt nhất trong nha khoa phục hồi, tuy nhiên, giới hạn mà Titanium implant chưa khắc phục được chính là khả năng tạo một tương tác tốt giữa gingival tissue vào abutment và khả năng bám dính kém, mang lại rất nhiều rủi ro trong quá trình phục hồi và tái tạo mô, bên cạnh đó là rủi ro lớn về quy trình đào thải Titanium implant sau thời gian cấy. Vì thế, biến tính bề mặt Titanium là một thách thức cho các nhà khoa học hiện nay.

Nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Hiệp do vậy tập trung vào phương pháp điện hóa để điều chỉnh lực bám, bề dày và độ phân rã. Từ đó, khảo sát ảnh hưởng của 3 yếu tố này lên sự phát triển và sự phân bố hai loại tế bào fibroblast và mesenchymal stem cells.

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tập trung vào loại vật liệu được sử dụng làm abutment phổ biến hiện nay là Titanium vì Titanium là vật liệu trơ về mặt sinh học nên không xảy ra phản ứng mô tích cực; đồng thời cũng không có đáp ứng mô tiêu cực, nghĩa là Titanium có tính tương hợp sinh học tốt hơn, phản ứng kháng nguyên kháng thể ít hơn so với những vật liệu khác.

Đây là lý do chính cho phép Titanium kết dính vào xương mà không bị loại trừ ra khỏi cơ thể. Nhưng vì Titanium là vật liệu trơ nên không có khả năng thu hút các tế bào đến bề mặt implant, việc này vô tình làm giảm khả năng bám dính giữa gingival tissue và Titanium abutment.

Nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Hiệp sẽ giúp mang đến các hiểu biết mới trong nỗ lực cải tiến bề mặt của Titanium implant nhằm khắc phục đặc điểm trơ về mặt sinh học này, để tăng tốc và tối ưu hoá sự tích hợp mô đáp ứng lực nhai ở giai đoạn sớm sau khi cấy ghép implant.

 

Theo Như Hoa (Khoa học phổ thông)

Nguồn: khampha.vn/khoa-hoc-cong-nghe/nhung-bong-hoa-cua-khoa-hoc-viet-nam-c7a486703.html


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: