22/06/2017 3:45:42 CH - Tọa đàm khoa học

16/06/2017 10:17:18 SA - Đi tìm làn gió mới

Một thầy một trò
Cập nhật lúc: 11:29, Thứ Sáu, 04/11/2016 (GMT+7)

Câu chuyện về thầy Josué Heilmann Hoffet và trò Nguyễn Văn Chiển trong những năm 40 của thế kỷ trước, qua sự thể hiện của tác giả Nguyễn Hạc Đạm Thư, thật sự mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về tình thầy trò trong sáng và cảm động. Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết cùng bạn đọc.

Trong chuyến sang thực tập tâm lý thực hành ở Paris (Cộng hòa Pháp) trong 5 tháng vào năm 2005, tôi* đã tá túc tại nhà bà Marie Eve Hoffet – Chủ tịch Hội Nghiên cứu tâm lý trẻ em NT-Psy ở Paris – người luôn ủng hộ các hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu trẻ em của cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tại Việt Nam. Một hôm bà M.E. Hoffet đưa tôi một bài báo ghi lại lời kể của Giáo sư đầu ngành địa chất Nguyễn Văn Chiển[1], một nhà khoa học lớn của Việt Nam khi ông đã ở tuổi 78 với nhan đề “Chỉ còn một thầy một trò” của tác giả Nguyễn Như Mai[2], đăng trên tạp chí Hoa học trò (số 205, ra ngày 13- 11-1997) nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp được tổ chức tại Hà Nội năm 1997 và nhờ tôi dịch ra tiếng Pháp. Bà Marie Eve nói: “Trong buổi trò chuyện với Giáo sư Chiển ở nhà ông tại Hà Nội năm 1997, nhắc lại những kỷ niệm về cha tôi – Giáo sư Josué Heilman Hoffet nguyên là thầy dạy khoa học địa chất ở Đại học Đông Dương tại Hà Nội nơi ông Chiển đã là sinh viên khóa đầu (1941-1944)”, ông Chiển đã tặng lại bà Marie Eve bài báo này.

Qua các câu chuyện của bà Marie Eve tôi được biết về người cha của bà – ông Josue’s Heilman Hoffet sinh ra ở vùng Alsace, biên giới với Đức. Gia đình ông không muốn ở nơi bị Đức chiếm đóng nên đã lánh sang Thụy Sĩ là nước trung lập trong Thế chiến thứ nhất. Ở Thụy Sỹ, ông Hoffet đã say mê về khoa học tự nhiên, nơi có thế mạnh về thám hiểm núi non. Sau khi đỗ chuyên ngành Cổ sinh vật học trong Địa chất học ở Pháp năm 1927, ông đã cùng người vợ trẻ sang Đông Dương, vùng đất xa xôi ở Viễn Đông với mục tiêu lấy dữ liệu làm luận án tiến sĩ. Ông Hoffet làm ở Sở Địa chất Đông Dương, với nhiệm vụ khảo sát địa chất ở miền Trung Đông Dương. Công việc gian nan vất vả ở những nơi thâm sơn hẻo lánh có chỗ không còn đường đi phải nhờ voi mở đường lau lách để khảo sát thực địa vùng từ Trường Sơn, Tây Nguyên đến cao nguyên Bô-lô-ven ở Nam Lào. Sau 5 năm ông trở về Pháp để bảo vệ luận án tiến sĩ. Lúc này bà vợ trẻ đã mất vì bạo bệnh năm 1929 ở Việt Nam. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ năm 1933 về đề tài “Khảo sát địa chất vùng phía Nam Đông Dương từ Tourane (Đà Nẵng), Trường Sơn đến sông Mê Kông ở Lào”, cùng với công trình này ông lập được bản đồ địa chất Tây Nguyên, Nam Lào. Ông được nhận Giải thưởng của Viện Hàn lâm khoa học Paris.

Giáo sư Josué Heilman Hoffet 

Ngay sau đó, ông lại được cử sang Đông Dương nhận thêm nhiệm vụ khảo sát và lập bản đồ địa chất vùng Thượng Lào. Lúc này, ông đã cưới người vợ kế (mẹ bà Marie Eve) và bà vợ cũng đã tham gia huấn luyện các “sếp” hướng đạo nữ ở Việt Nam. Về các con Giáo sư Hoffet, tôi được biết chị gái bà Hoffet đã là giáo sư về khoa Sinh học, bà Marie Eve là bác sĩ về tâm lý trị liệu. Điều tôi khâm phục ở bà Marie Eve là đến tuổi 73 bà đã bảo vệ thành công ở Đại học Paris luận án tiến sĩ về một đề tài tâm lý “Sự hòa quyện giữa tâm lý học phương Tây và tâm lý học phương Đông trong chăm sóc con thơ ở người mẹ”. Động lực để bà còn đam mê với tâm lý trị liệu khi về hưu xuất phát từ mối quan hệ với ngành tâm lý lâm sàng và tâm lý trị liệu còn rất mới mẻ ở Việt Nam từ khi bà tham gia tổ chức hội nghị “Trẻ em – Thực trạng và giải pháp” tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cuối năm 1997. Khi đó bà cũng là thành viên của Hội Pháp – Việt hữu nghị.

Bà Marie Eve tâm sự: “Trong bốn chị em tôi, chỉ riêng tôi gắn bó khăng khít với Việt Nam. Có thể ngay năm đầu đời do mẹ tôi bận rộn với việc hướng đạo, giao phó tôi cho chị Hai người Việt chăm sóc, dạy bảo thay mẹ nên tôi chịu ảnh hưởng rất lớn của chị Hai mà tôi quý mến. Đến năm tôi 5 tuổi thì cả nhà phải sơ tán lên Tam Đảo để tránh bom Mỹ, từ đó tôi mới rời chị Hai. Trong tiềm thức, tôi gần như là một trẻ con Việt Nam trước khi là trẻ con Pháp. Và khi trở lại Việt Nam mặc dù tôi đã 59 tuổi, tôi rất quan tâm đến quan hệ mẹ con lúc đầu đời ở người Việt Nam và có ý định nghiên cứu mối quan hệ đó trong gia đình Việt Nam để chuẩn bị luận án tiến sĩ. Tôi thấy việc này rất quan trọng vì không thể đưa nguyên xi cách trị liệu ở Pháp như nhiều đồng nghiệp tôi ở Pháp sang mà không tính đến đặc điểm văn hóa của người Việt trong mối quan hệ gia đình”.

Là thành viên tích cực của NT.Psy, năm nào bà Marie Eve cũng sang Việt Nam ít nhất một lần. Thường bà là người tổ chức cho nhóm bạn đồng nghiệp sang giảng hoặc tham gia trị liệu về tâm lý cho trẻ em hoặc thiếu niên theo yêu cầu của các đồng nghiệp Việt Nam ở Trung tâm NT do bà Nguyễn Thị Nhất, vợ cố BS Nguyễn Khắc Viện kế tục hoặc ở bệnh viện tâm thần chăm sóc bệnh nhân trong ngày. Mỗi chuyến đi Việt Nam bà thường có một cô phiên dịch người Việt ở Paris đi cùng. Sau này, bà chuyển sang cho tôi việc phiên dịch cho bà hoặc cho nhóm bác sĩ đồng nghiệp của bà. Có kỳ bà nhờ tôi giới thiệu để bà phỏng vấn một vài bà mẹ trẻ có con lần đầu hoặc con thứ, gia đình hạt nhân hay gia đình có ông bà hỗ trợ… Nếu có điều kiện bà phỏng vấn cả người bà về cách chăm sóc trẻ thơ. Qua đó, tôi tiếp thu được nhiều điều lý thú. Thí dụ bà cho rằng ở Việt Nam còn có những gia đình sống chung ba thế hệ. Nếu có sự hòa hợp và chia sẻ với nhau để chăm sóc trẻ thì rất tốt cho trẻ vì tránh được nhiều căng thẳng do cha mẹ đều đi làm. Hơn nữa cuộc sống ở nhà trẻ, mẫu giáo đơn điệu hơn so với gia đình có môi trường sống phong phú hơn lại gần gũi với đời thường; sự tiếp xúc của người bà với mọi người xung quanh khiến trẻ học được cách giao tiếp, học cách đối xử đa dạng hơn…

Thời gian từ 1933 đến 1945 trong khi khảo sát thực địa ở vùng gần Savannakhet Nam Lào, ông Hoffet đã tìm thấy một số hóa thạch đốt sống, xương đùi và háng của một loại khủng long chưa từng được biết ở Lào, gây sửng sốt trong dư luận của các nhà khoa học bấy giờ. Ông còn là nhà dân tộc học nghiệp dư nhờ tài vẽ ký họa hay ghi chép, ông vẽ tỉ mỉ các sinh hoạt của tộc người thiểu số Tà ôi ở hai bên dãy Trường Sơn, biên giới Việt - Lào và những tài liệu hiếm có này được lưu tại Bảo tàng Con người ở Paris, gây cảm hứng cho các nhà dân tộc học Pháp nghiên cứu tiếp sau. Về mặt nghiên cứu ứng dụng, ông đã tìm vàng ở thung lũng sông Mã, mỏ sắt ở thung lũng sông Hồng và cung ứng nước ngọt cho thành phố Đà Nẵng.

Là người Pháp tiến bộ, ông giúp đỡ huấn luyện tích cực cho hướng đạo sinh Việt Nam. Lúc này phong trào đang phát triển rầm rộ và ủng hộ ngầm phong trào sinh viên Việt Nam yêu nước khao khát giành tự do. Ngay khi quân Nhật vào Đông Dương, ông tham gia bí mật lực lượng kháng Nhật. Ngay trước sự kiện Nhật đảo chính, ông nhận nhiệm vụ đưa một toán người Pháp chống phát xít Nhật luồn rừng vượt biên giới qua Lào để sang Côn Minh gặp tướng Alexandre ở trong lực lượng đồng minh kháng Nhật. Việc không thành, ông phải quay trở lại Việt Nam. Ông đã chạm trán với toán lính Nhật lên đánh đồn Pháp cuối cùng ở Sơn La tháng 4-1945. Sau khi cùng chiến đấu bằng súng máy với đại úy trưởng đồn, đến khi bắn hết băng đạn cuối cùng, ông bạn bị trúng đạn chết còn ông chạy vào rừng, bị một lính Nhật cưỡi ngựa đuổi theo và ông bị hạ sát bằng nhiều nhát gươm bổ vào đầu. Mẹ con bM.E.Hoffet chỉ biết ông mất tích, họ vẫn ở lại Hà Nội cho đến năm 1946 mới trở về Pháp. Những ngày Cách mạng tháng Tám và ngày 2-9-1945 ở Hà Nội, tại ngôi nhà gia đình bà đang sinh sống ở đường Điện Biên Phủ, nhìn qua cửa sổ mẹ con bà M.E. Hoffet sửng sốt nhận ra nhiều thanh niên trong đoàn diễu hành mang súng lục là những hướng đạo sinh rất quen biết GS Josué Heilman Hoffet. Trong số những người đó có ông Nguyễn Văn Chiển, sau đó ông Chiển đã đến thăm và trấn an mấy mẹ con bà.

Mãi đến năm 1990, nhờ chồng bà Marie Eve lúc đó phụ trách một tạp chí nghiên cứu khoa học ở Paris tình cờ gặp được vị giáo sư cổ sinh vật học Tống Duy Thanh, học trò thầy Nguyễn Văn Chiển sang Paris dự hội nghị khoa học - người nhắc đến ông Josue’s Heilman Hoffet đã có những công trình địa chất ở Việt Nam và Lào, mà vợ chồng bà M.E. Hoffet đã liên lạc được với GS Nguyễn Văn Chiển ở Hà Nội. Năm 1992 vợ chồng bà Marie Eve Hoffet sang Việt Nam, để cùng PGS Nguyễn Thế Thôn là học trò thầy Chiển, người được GS Chiển ủy thác việc tìm mộ thầy Josué Heilman Hoffet, lên Tây Bắc, đến huyện Yên Châu và tìm đến nơi ông Hoffet đã ghi chép trong sổ tay (cuốn sổ còn lại của ông Hoffet trước khi mất do một người Pháp đem về cho mẹ con bà). Qua những người già ở bản kể lại, con gái ông (bM.E.Hoffet) được biết những ngày cuối cùng của cha mình như đã kể trên. Bà Marie Eve đã gắn một tấm bia bằng đá hoa cương vào vách núi Tọ, khu vực nơi cha bà đã ngã xuống với dòng chữ “Nơi đây an nghỉ Josué Heilmann Hoffet, nhà địa chất học” bằng chữ Pháp và bên cạnh là tấm bia chữ Việt: “Tại đây giáo sư trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông J.H. Hoffet (1901-1945) đã yên nghỉ”. BM.E.Hoffet tâm sự: “Suốt mấy chục năm tôi cứ nghĩ là cha tôi không chết mà sẽ có ngày ông trở về. Nỗi khắc khoải đó ám ảnh tôi hoài vì tôi không được chôn cất và để tang cha tôi. Dù không tìm được hài cốt của ông nhưng qua ký ức của dân ở bản, việc khắc bia này đã an ủi cho tôi phần nào…”.

 Giáo sư Nguyễn Văn Chiển

Qua bài báo “Chỉ còn một thầy một trò” khiến tôi hiểu rõ một tấm gương sáng về vai trò người thầy có con mắt “bậc thầy” đã biết chọn mặt gửi vàng trong công việc đào tạo, phát hiện những nhân tố ưu việt ở cậu sinh viên trẻ Nguyễn Văn Chiển để thầy truyền ngọn lửa đam mê nghiên cứu cùng cẩm nang nghiên cứu kết hợp giảng dạy và năng nổ đi thực địa. Người học trò ấy với tài năng sáng tạo đã trở thành con chim đầu đàn bay cao và bay xa trong sự nghiệp sáng giá sau này. Nhớ về người thầy kính yêu, Giáo sư Nguyễn Văn Chiển kể rằng: “Giáo sư Hoffet là một nhân vật đa năng đa tài… Thầy Hoffet đã vượt rào cản lâu nay là việc nghiên cứu địa chất chỉ dành độc quyền cho người Pháp, vì nó liên quan trực tiếp đến vấn đề phát hiện các tài nguyên khoáng sản mà chính quyền thực dân Pháp muốn giữ độc quyền khai thác. Trong Thế chiến thứ hai, các giáo sư ở Pháp không thể sang Việt Nam nữa, GS Hoffet phải một mình đảm nhiệm tất cả các bộ môn trong ngành Địa chất như Cổ sinh vật học, Khoáng vật học, Thạch học… ngoài ra dạy cả Địa lý. Thầy có phương pháp giảng dạy độc đáo, như ở năm thứ 3, thầy đã yêu cầu các sinh viên phải tham gia vào bài giảng, chẳng hạn như về hiện tượng động đất, sinh viên Ngô Điền phải đọc tài liệu và trình bày trước lớp, tôi trình bày về sự phát minh ra điện... Nhờ vậy sinh viên đã được làm quen với việc tra cứu tài liệu, làm quen với việc trình bày một tài liệu khoa học và qua đó thầy cũng biết rõ thêm về năng lực của các trò”.

Bộc bạch cùng bM.E.Hoffet, Giáo sư Nguyễn Văn Chiển kể: “Lớp địa chất hồi đó dần dần bỏ cuộc hầu hết, đến năm 1943 chỉ còn tôi và hai anh bạn Pháp là Y. Bois và Ch. Marquis đeo đuổi. Mặc dù chỉ còn ba học trò nhưng thầy Hoffet vẫn lên lớp chỉnh tề như giảng cho mấy chục người nghe. Ngoài ra thầy vẫn đi thực địa nghiên cứu địa chất… Thầy Hoffet còn tích cực tham gia hoạt động hướng đạo sinh. Mùa hè 1943, tôi theo thầy lên Sơn La họp mặt hướng đạo sinh. Sau đó thầy dẫn tôi, một thầy một trò lên đường khảo sát địa chất vùng Ngũ Chỉ Sơn. Ngũ Chỉ Sơn có nghĩa là núi có 5 ngọn như năm ngón tay chĩa lên trời. Nhờ một người Hmông dẫn đường và mang vác, thầy trò tôi lặn lội vượt qua một vùng hiểm trở hoang vu, chưa được vẽ trên bản đồ. Thầy tỉ mỉ hướng dẫn tôi cách quan sát các hiện tượng địa chất, cách lấy mẫu đá và ghi chép nhật ký như thế nào. Tôi còn nhớ thầy dạy tôi cách đếm bước để xác định khoảng cách – đeo một chuỗi tràng hạt, cứ 10 bước lại lấy một hạt như nhà tu hành vậy. Cuối cùng tốt nghiệp cử nhân địa chất chỉ còn mỗi mình tôi. Năm 1944 tôi được thầy Hoffet chọn làm trợ lý chính thức”[3]. Giáo sư Nguyễn Văn Chiển còn cho biết, qua ý kiến quý báu của thầy Hoàng Xuân Hãn dạy ông ở trường Bưởi trước kia, ông mới mạnh dạn nhận làm trợ lý cho thầy Hoffet. Ông còn được thầy tin cậy “bàn giao tất cả phòng thí nghiệm địa chất cho tôi quản lý” vào ngày 8-3-1945, khi thầy phải rời đi Sơn La, trước khi Nhật đảo chính Pháp…”[4].

Thế là một thầy giáo người Pháp ở Đại học Đông Dương, thầy Josue’s Heilman Hoffet và một học trò, sau trở thành Giáo sư Nguyễn Văn Chiển ở Đại học Tổng hợp Hà Nội đã có sự cộng hưởng tài tình trong sự nghiệp đào tạo các nhà khoa học trẻ, tấm gương sáng cho các nhà giáo Việt Nam ở bậc đại học. Rõ ràng, một giáo sư có công trình khoa học lớn, sự nghiệp dù sáng giá cũng chưa đủ. Hạnh phúc của người thầy chính là đào tạo thế hệ trẻ tiến xa hơn thầy, giống như ta thường nói “Con hơn cha là nhà có phúc”.

 

                                                                                                            Nguyễn Hạc Đạm Thư

  


* Bà Nguyễn Hạc Đạm Thư, học về Hóa học tại Pháp (1952-1953), nguyên cán bộ Ban đối ngoại Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

[1] GS.TS Nguyễn Văn Chiển (1918-2011), chuyên ngành Địa chất, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).

[2] Nhà báo Nguyễn Như Mai, thành viên sáng lập, nguyên Trưởng ban biên tập Báo Hoa học trò.

[3] Theo Nguyễn Như Mai, “Chỉ còn một thầy một trò”, Báo Hoa học trò, số 205, ra ngày 13- 11-1997.

[4] Theo Nguyễn Như Mai, “Chỉ còn một thầy một trò”, Báo Hoa học trò, số 205, ra ngày 13- 11-1997.

 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: