12/12/2019 3:35:54 CH - Cây lúa Việt Nam có gì đẹp ?

28/11/2019 2:03:02 CH - Tìm về di sản của cha

“Tôi yêu tiếng nước tôi”
Cập nhật lúc: 08:18, Thứ Bảy, 10/10/2015 (GMT+7)

Trò chuyện với GS.TS Hoàng Trọng Phiến*, chúng tôi chợt liên tưởng đến lời bài hát “Tình ca” của Phạm Duy những năm giữa thế kỷ XX. Tình yêu với tiếng Việt và cũng là lòng yêu nước mà chúng tôi cảm nhận được ở GS Phiến cũng tha thiết như vậy, trong suốt những năm tháng ông đảm nhiệm việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.

Ngay từ khi mới thành lập năm 1956, trường Đại học Tổng hợp đã được Bộ Giáo dục giao trách nhiệm tiếp nhận và giảng dạy tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam cho các học viên nước ngoài đến học theo hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và các nước. Trải qua thời gian dài đào tạo, để phù hợp với tình hình, ngày 18-12-1968, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ký quyết định thành lập khoa Tiếng Việt trên cơ sở tổ Việt ngữ trực thuộc trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thông qua đào tạo Tiếng Việt, khoa còn có nhiệm vụ nâng cao trình độ hiểu biết về đất nước và con người Việt Nam; trình độ tiếng Việt cho mọi đối tượng; đào tạo cử nhân tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài. Chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ học của khoa Văn là PTS Hoàng Trọng Phiến được “nhắm” cho chức vị chủ nhiệm khoa. Biết được điều này, Hoàng Trọng Phiến cảm thấy lo lắng, đắn đo vì mình chẳng có “khiếu làm quan” mà chỉ có “sở trường” làm thầy. Ông đã lên gặp Bộ trưởng Tạ Quang Bửu để từ chối với lý do trên. Tuy nhiên, Bộ trưởng không đồng ý và phân tích: Hoàng Trọng Phiến có thời gian làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài nhiều năm, tiếp xúc nhiều với sinh viên nước ngoài, đã từng làm công tác đối ngoại, có chuyên môn về ngữ văn, ngôn ngữ, đồng thời là một đảng viên. Cuối cùng, ông Phiến chấp thuận và đề xuất chỉ làm một thời gian ngắn và vừa làm quản lý, vừa tham gia công tác giảng dạy ở bộ môn Ngôn ngữ học.

        

GS Hoàng Trọng Phiến bắt tay học trò cũ nhân ngày

     kỷ niệm 45 năm thành lập khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, 2013 (Nguồn: internet)                                                                

Nhớ lại những ngày đầu về khoa Tiếng Việt nhận một trách nhiệm khá nặng nề, GS Hoàng Trọng Phiến không khỏi bồi hồi, xúc động. Trụ sở chính của khoa là tòa nhà B7bis Đại học Bách khoa được sử dụng làm nơi ở và đào tạo sinh viên nước ngoài. Sinh viên các nước Liên Xô, Rumania, Bulgaria, Nhật Bản, Triều Tiên, Mông Cổ, Cuba, Trung Quốc, CHDC Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Irắc, Iran, Yemen, Malaysia, Thụy Điển…đến học ngày một đông. Yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng nhiệm vụ của khoa Tiếng Việt, cả trong công tác phục vụ và giảng dạy. PTS Hoàng Trọng Phiến cho rằng, người cán bộ phục vụ phải là người trung thực, lịch sự, có văn hóa và có ngoại hình đẹp, làm sao để “học viên có thiện cảm với khoa, với trường ngay từ cái nhìn đầu tiên [1]. Ngày ấy, đời sống cán bộ vô cùng khó khăn, nhưng vẫn phải ưu tiên cho lưu học sinh nước ngoài. Ông tâm sự: “Người trưởng khoa như tôi nhìn thấy bữa ăn của sinh viên nước ngoài cũng phải chảy nước miếng”[2]. Chứng kiến bối cảnh ngày đó, mới thấy hết được vẻ đẹp và phẩm chất trong sáng, lành mạnh, tận tụy của đội ngũ những người làm công tác phục vụ trong khoa. Về cán bộ giảng dạy, ông chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ “vững” hai chân: nghiên cứu và giảng dạy, bởi lẽ, giống như các ngành khoa học khác, nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt không thể tách rời nhau. Cán bộ giảng dạy ngày đầu thành lập khoa đa phần là các cử nhân nhưng là những người thật sự tài năng và có kiến thức sâu rộng, dịch thuật giỏi như Nguyễn Thạch Giang, Bùi Phụng, Đỗ Thanh, Đinh Thanh Huệ, Phan Hải, Phan Đắc Huệ, Nguyễn Anh Quế, Nguyễn Văn Lai,Nguyễn Văn Mệnh. Để giảng dạy tốt, cần phải nghiên cứu tốt. Hoàng Trọng Phiến đã phát động phong trào nghiên cứu khoa học bằng một cuộc kiểm kê, đánh giá các công trình khoa học của các cán bộ từ trước đến khi ông về làm lãnh đạo. Ông chia sẻ: “Trước khi tôi làm việc này, cán bộ trong khoa không đặt nặng việc nghiên cứu khoa học và có quan niệm: làm cũng được, không làm cũng được, nhưng tôi yêu cầu: Phải làm và phải tổ chức lại”[3]. Hình ảnh thầy Nguyễn Thạch Giang đi xe đạp, chở theo tài liệu nghiên cứu về Truyện Kiều được đánh máy và viết tay và thầy Bùi Phụng mang đến khoa hàng nghìn bản thảo từ điển Anh- Việt, Việt- Anh do ông nghiên cứu trong nhiều năm vào khoa đã trở thành ký ức không thể quên trong tâm trí ông. Tiếp nối hai thầy, lần lượt các thầy cô giáo khác đã mang đến khoa những tài liệu mà mình đã nghiên cứu. Nhờ sự quyết đoán của người đứng đầu, khoa Tiếng Việt đã tạo ra được một không khí nghiên cứu khoa học sôi nổi. Đó không chỉ là nhu cầu tự thân của cán bộ giảng dạy mà còn là đòi hỏi của sinh viên - những người đến Việt Nam từ những nước có nền khoa học phát triển. Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy không thể không chú ý đến các giáo trình và từ điển, nghiên cứu những vấn đề cơ bản của tiếng Việt làm cơ sở cho việc biên soạn các giáo trình phục vụ giảng dạy. Nhờ có phong trào nghiên cứu khoa học, nhiều sản phẩm khoa học được tạo điều kiện để xuất bản như một số sách của thầy Thạch Giang, Từ điển tiếng Anh bỏ túi của thầy Bùi Phụng, Sách Lý thuyết tiếng Việt của tập thể khoa Tiếng Việt do Hoàng Trọng Phiến làm chủ biên… Sau này, khi có dịp đến Nhật Bản làm chuyên gia giáo dục (1989), thầy Hoàng Trọng Phiến thấy cuốn sách Lý thuyết tiếng Việt trong thư viện trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo. Ông rất vui khi được một người Nhật Bản nói rằng: Chúng tôi tiếp xúc ngữ pháp Tiếng Việt có hệ thống bắt đầu từ cuốn sách Lý thuyết tiếng Việt này. Với chủ trương đào tạo cán bộ bắt đầu từ nghiên cứu khoa học, Hoàng Trọng Phiến đã đề xuất với trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp về việc mở các lớp đào tạo ngắn hạn, các lớp học ngoại ngữ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho giảng viên trong khoa, mời các thầy Bùi Phụng, Nguyễn Quốc Hùng, Trần Quốc Vượng, Trần Đình Hượu đến nói chuyện, thuyết giảng. Ông ước mơ đào tạo được một đội ngũ cán bộ giỏi nên đã cử nhiều cán bộ đi làm nghiên cứu sinh như Đinh Thanh Huệ, Đỗ Thanh, Mai Minh Tân…, đội ngũ này sau khi trở về, tiếp tục giảng dạy, nghiên cứu và góp phần đào tạo nhiều thế hệ sinh viên của khoa Tiếng Việt.

Trước đây, môn Tiếng Việt dạy cho sinh viên nước ngoài không có sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy chỉ dựa vào một số kinh nghiệm của giảng viên và tài liệu nước ngoài, từ đó dần hình thành cách tổ chức biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng Việt. GS Hoàng Trọng Phiến chia sẻ: “cách dạy theo phương pháp ngữ văn này không thành công, học trò học xong có thể đọc sách giỏi và hiểu rõ về ngôn ngữ văn chương Việt Nam nhưng lại gặp khó khăn trong quá trình giao tiếp[4]. Do vậy, Hoàng Trọng Phiến chủ trương xây dựng cơ sở khoa học cho việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Ông đề nghị viết sách giáo khoa cho khoa Tiếng Việt trên cơ sở ngôn ngữ học nhằm thực hiện mục tiêu: dạy cho sinh viên nước ngoài công cụ văn hóa để họ tự khám phá văn hóa, tâm hồn, tính cách người Việt Nam. Một trong những giải pháp về chất lượng đào tạo là xây dựng hệ thống giáo trình tiếng Việt cơ sở, giáo trình đào tạo cử nhân ngành tiếng Việt. Ban chủ nhiệm khoa, trực tiếp là GS Hoàng Trọng Phiến đã đề ra những giải pháp cụ thể để in ấn các công trình đã được biên soạn và được sử dụng nhằm mục đích dần hoàn thiện tủ sách tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài. Thời gian này, Hoàng Trọng Phiến còn có tham vọng xây dựng thư viện dành riêng cho khoa Tiếng Việt. Ông đã đề nghị mua lại số sách mà PGS  Nguyễn Thạch Giang mang từ Sài Gòn ra để xây dựng thư viện khoa làm tài liệu cho cán bộ và sinh viên.

Chủ nhiệm khoa Hoàng Trọng Phiến chủ trương dạy tiếng Việt cho người nước ngoài phải gắn liền với môi trường giao tiếp với người Việt Nam. Ông tổ chức đưa sinh viên về các miền quê Việt Nam để thực hành, nói chuyện với bà con. Vận dụng phương pháp đã được thầy Sepanov[5] dạy, ông khuyến khích sinh viên nước ngoài làm quen với giới nữ, vì họ dễ nói chuyện, tiếp xúc hơn và hãy coi người bản địa như những cuốn từ điển sống. Ông chủ trương dạy khẩu ngữ tự nhiên của người Việt, coi trọng việc dạy cho sinh viên những kết cấu quán ngữ gần gũi với cuộc sống thường ngày như: trộm vía, có khi không phải, của đáng tội, biết đâu chừng, có lẽ nào, ngộ nhỡ, khổ một nỗi …Cùng với hư từ, những kết cấu cú pháp này rất Việt Nam, vốn quý của tiếng Việt. Chúng biểu thị tâm hồn, tình cảm, thái độ của người Việt. Nhờ phương pháp dạy mới này, nhiều sinh viên sau khi ra trường trở thành những người nói tiếng Việt rất giỏi như Salama Saadi, đại sứ Palestine tại Việt Nam, Valeriu Arteni, đại sứ Rumani tại Việt Nam, Lâm Minh Hoa, tham tán công sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Hồ Cần Văn, đại sứ Trung Quốc…

Một nhiệm vụ quan trọng của khoa Tiếng Việt, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội là thực hiện chính sách đối ngoại nhân dân của Đảng đề ra lúc đó. Ban chủ nhiệm khoa coi công tác sinh viên là trung tâm của quá trình giảng dạy và có nhiều cố gắng trong công tác này. Trước hết, cần thiết lập được mối giao lưu với đại sứ quán có sinh viên theo học. Theo đó, bộ phận văn phòng khoa phải lên danh mục những ngày kỷ niệm lớn của quốc gia đó, như ngày quốc khánh…, đề xuất với trường và Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp để tổ chức những ngày lễ cho sinh viên các nước. Việc làm này được Ban Đối ngoại Trung ương rất ủng hộ. GS Hoàng Trọng Phiến nhấn mạnh: “khoa Tiếng Việt không chỉ là đại diện, làm chiếc cầu nối giữa nhân dân ta và bạn bè các nước mà còn phải góp phần phổ biến, giới thiệu văn hóa Việt Nam”[6]. Ngày ấy, Hoàng Trọng Phiến đã có chủ trương lập dự án tổ chức các lớp văn hóa Tiếng Việt mùa hè như nhiều nước khác và đã được nhiều đơn vị liên quan như Tổng cục Du lịch đồng ý; tổ chức xây dựng một khoa đào tạo giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài; bắt đầu đưa ra dự án đào tạo cao học và tiến tới đào tạo tiến sĩ… Tiếc rằng, những dự định này chưa được thực hiện trong 2 nhiệm kỳ ông là chủ nhiệm khoa.

GS.TS Hoàng Trọng Phiến chia sẻ: “Mặc dù trong buổi ban đầu mới hình thành, xây dựng, sự phát triển của khoa còn chưa toàn diện nhưng đã tạo được nét khu biệt, đặc trưng, bước đầu xây nên một ngành khoa học dạy tiếng Việt cho người nước ngoài với các tiền đề lý luận và phương pháp khoa học hiện đại để rồi các thế hệ lãnh đạo kế cận, đặc biệt là Ban chủ nhiệm khoa hiện nay đã phát huy được tinh thần, tư tưởng của Ban chủ nhiệm khoa thời kỳ đầu để xây dựng ngành đào tạo Tiếng Việt cho người nước ngoài vững vàng vượt bậc như hiện nay[7].

Có lẽ, không có tình yêu tiếng Việt, mà sâu thẳm là tình yêu đất nước, dân tộc mình, thì “thuyền trưởng” Hoàng Trọng Phiến đã không thể chèo lái con thuyền khoa tiếng Việt suốt 11 năm thành công như vậy.  

 

Nguyễn Thị Hiên - Hoàng Thị Kim Phượng

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 



* GS.TS Hoàng Trọng Phiến - nguyên Chủ nhiệm khoa Tiếng Việt, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).

[1] Phỏng vấn GS.TS Hoàng Trọng Phiến, ngày 14-8-2015, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[2] Phỏng vấn GS.TS Hoàng Trọng Phiến, ngày 14-8-2015, tài liệu đã dẫn.

[3] Phỏng vấn GS.TS Hoàng Trọng Phiến, ngày 14-8-2015, tài liệu đã dẫn.

[4] Phỏng vấn GS.TS Hoàng Trọng Phiến, ngày 14-8-2015, tài liệu đã dẫn.

[5] GS hướng dẫn Hoàng Trọng Phiến trong thời gian ông làm nghiên cứu sinh tại trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp, Liên Xô.

[6] Phỏng vấn GS.TS Hoàng Trọng Phiến, ngày 14-8-2015, tài liệu đã dẫn.

[7] Phỏng vấn GS.TS Hoàng Trọng Phiến, ngày 14-8-2015, tài liệu đã dẫn.


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: