23/06/2020 5:55:46 CH - Ở ranh giới “mong manh”

08/06/2020 10:56:56 SA - Vĩnh biệt GS.TS Ngô Đức Thịnh

Góp phần xây dựng ngành Tai Mũi Họng Việt Nam
Cập nhật lúc: 16:09, Chủ Nhật, 22/02/2015 (GMT+7)

Quyết định trở về Tổ quốc theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh cuối năm 1946 là một trong những dấu mốc có ý nghĩa lớn lao đối với cuộc đời của bác sĩ Trần Hữu Tước. Về nước, ông bắt tay ngay vào xây dựng ngành Tai Mũi Họng trong điều kiện vô cùng thiếu thốn và khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Sự lựa chọn tất yếu

Cách mạng tháng Tám có một sức lan tỏa vô cùng lớn lao, nó như ngọn lửa thổi bùng lên lòng yêu nước vốn âm ỉ bấy lâu nay trong lòng những người dân Việt Nam. Cũng như những trí thức khác đã sống dưới chế độ thực dân, sự lựa chọn trở về nước của bác sĩ Trần Hữu Tước là một điều tất yếu. Có thể lấy câu nói của GS Hồ Đắc Di để diễn giải cho suy nghĩ chung của những trí thức lúc bấy giờ: “Những ai đã từng sống kiếp đọa đầy tủi nhục trong đêm dài nô lệ, hay ít ra cũng đã trải qua những năm tháng nhọc nhằn day dứt vì lương tâm, nhân phẩm, ắt sẽ lao theo cơn lốc cách mạng một khi ánh lửa của nó đã rọi sáng tâm hồn”[1].

Trong những năm ở Pháp, Trần Hữu Tước đã sống cuộc sống của một sinh viên nghèo. Ông liên tưởng tới những người thân trong gia đình, đồng bào mình ở Việt Nam phải sống cuộc sống nghèo khổ, bị đè nén và do vậy càng quyết tâm học tập hơn để hy vọng một ngày nào đó trở về giúp ích cho nhân dân. Có lẽ, những ai đã sống phiêu bạt xa quê hương, với tâm trạng tủi nhục của một người dân mất nước mới cảm thông hết nỗi niềm tâm sự của ông lúc bấy giờ.

Năm 1937, khi tốt nghiệp bác sĩ với một bản khóa luận xuất sắc, Trần Hữu Tước được giữ lại làm trợ lý cho giáo sư Lơmie, chuyên gia về tai mũi họng danh tiếng ở Pháp thời bấy giờ. Hai năm sau đó Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, bị cắt đứt liên lạc với nước nhà, ông tiếp tục làm việc trong các bệnh viện ở Paris. Trong suốt những năm tháng ấy, ông miệt mài làm việc, nghiên cứu, đi sâu vào nghiệp vụ chuyên môn và tìm cách tiếp xúc với bạn bè tiến bộ người Việt Nam, người Pháp, trong đó có một số là đảng viên cộng sản.

Paris xa hoa và tráng lệ, nhưng những bệnh viện ở Paris không thiếu bệnh nhân nghèo. Là một thầy thuốc, đã từng sống cảnh nghèo khổ, phải đi làm thêm để kiếm sống và học tập nên việc gần gũi và tận tình chăm sóc những bệnh nhân nghèo khổ đối với Trần Hữu Tước như một nguồn an ủi và ông được coi là người thầy thuốc chân thành, đáng mến… Nhưng dưới góc nhìn của xã hội Pháp và của một số bạn đồng nghiệp Pháp lúc bấy giờ, những hành động và cử chỉ của ông lúc ấy bị coi như gàn dở, lập dị… 

Thế rồi, tin Cách mạng tháng Tám thành công làm bừng lên hi vọng về một ngày mai tươi sáng trong lòng những người Việt Nam ở Pháp. Bác sĩ Trần Hữu Tước mong muốn được trở về nước ngay để góp sức nhỏ bé của mình vào phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước. Khi ấy, là một bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm, lại quen biết nhiều người trong y giới các nước, ông có thể sống một cuộc sống vương giả và lại có đủ mọi điều kiện để nghiên cứu khoa học. Nhưng sau này, như ông lý giải: “mục đích cuộc sống đâu cứ phải là tiền tài và danh vị, hơn nữa, đâu có phải là cuộc đời nô lệ của một người dân mất nước. Những quyến rũ vật chất tầm thường đó, đâu có thể làm phai mờ được nguyện vọng tôi hằng ấp ủ bao năm, chờ mong ngày nước nhà độc lập để được trở về. Trong những ngày vinh quang, tươi đẹp, hạnh phúc đó của Tổ quốc và của bản thân mình, lẽ nào tôi cam chịu quay lại những ngày sống tủi nhục cũ”[2].

Nguyện vọng tha thiết của bác sĩ Trần Hữu Tước là được trở về nước phục vụ đồng bào. Và khi cơ hội đến, ông không  mảy may suy tính mà đưa ra ngay quyết định xin Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cùng về nước trên chuyến tàu năm 1946. Trong thư gửi ông Phạm Văn Đồng - Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị Fontainebleau, bác sĩ Trần Hữu Tước đã bày tỏ tình cảm của mình: “Các anh em bên nước nhà đã phải qua bao nhiêu thời kỳ kịch liệt gian truân, chúng tôi chẳng may chưa được gánh vác trực tiếp, rất lấy làm hổ thẹn; nguyện rằng sẽ dùng hết tâm cơ để đền bồi dòng máu chảy thiết tha cho nền độc lập”[3].

                

  BS Trần Hữu Tước (đeo kính) tại bệnh khoa Tai Mũi Họng   ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang

Xây dựng ngành Tai Mũi Họng trong kháng chiến chống Pháp

Trở về nước với niềm vui độc lập và niềm tin phơi phới vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào tương lai của đất nước, bác sĩ Trần Hữu Tước đã tự mình rũ bỏ những điều kiện vật chất để trở về đồng cam, cộng khổ với đồng bào, đồng chí, góp phần xây dựng nền y học Việt Nam từ những ngày đầu gian khó. Đặt chân về Hà Nội được ít ngày, ông được giao nhiệm vụ xây dựng ngành Tai Mũi Họng Việt Nam. Nền y học nước ta khi ấy còn kém phát triển, chuyên ngành Tai Mũi Họng chưa được quan tâm, nhân dân, cán bộ và ngay cả trong y giới cũng ít người biết đầy đủ về chuyên khoa này. Theo những ghi chép sau này của bác sĩ Trần Hữu Tước thì cả Đông Dương khi ấy chỉ có một cơ sở tai mũi họng ở Bệnh viện Bạch Mai, mà khi ông về tiếp quản thì có một cán bộ tai mũi họng chuyên môn 2 năm, 1 phòng mổ trang bị hết sức lạc hậu, 1 phòng điều trị với 30 giường bệnh luộm thuộm. Ông viết: “Tôi hỏi một cái kim trích rạch màng tai, mọi người đều ngơ ngác như nghe một cái gì kỳ lạ, tôi hỏi một ống soi nội quản, mọi người nói không có bao giờ. Vậy mà sau đấy chúng tôi tìm thấy một bộ soi nội quản còn bọc nguyên trong giấy dầu xếp trong kho, mở ra đã han rỉ. Thì ra giáo sư chủ nhiệm khoa người Pháp trước đây không trích rạch màng tai bao giờ, không soi nội quản cho ai, và trình độ kỹ thuật của họ, chỉ có ở mức cắt amidan nạo vá xương chũm khi đã vỡ ra ngoài”[4].

Cơ sở vật chất thì thiếu thốn, còn trong nhân dân, tuy nhiều người mắc bệnh tai mũi họng, nhưng cũng ít ai nghĩ đến việc đến bác sĩ chữa trị, mà thường tự chữa theo dân gian. Nhiều người còn cho rằng thối tai, thò lò mũi là lành, hoặc chữa bằng cách đổ nước mắm vào để trị thối tai, hoặc hóc xương thì nuốt nắm cơm to cho xương trôi xuống… Trong ngành y cũng có một số người quan niệm chuyên khoa tai mũi họng chẳng qua chỉ là ngoáy mấy cái tai thối, xông vài cái mũi bị tắc.

Nhìn chung, chuyên ngành Tai Mũi Họng lúc đó chưa được nhiều người chú ý đúng mức, chưa có nhận thức, hiểu về bệnh một cách thấu đáo, do đó công việc xây dựng và phát triển ngành rất khó khăn. Đối với bác sĩ Trần Hữu Tước đây quả là những bài toán khó. Ông cho biết: “Tôi làm một bác sĩ có chút trình độ chuyên môn, có chút kinh nghiệm tổ chức, nhưng là kinh nghiệm tổ chức ngành ở một nước tư bản, chủ trương phương hướng cũng khác, không thể cứ áp dụng ở nước ta được. Tài liệu giảng dạy của họ bằng chữ Pháp, nội dung có những điểm không dùng được, chương trình và yêu cầu cũng khác ta, viết đề án xây dựng ngành, viết tài liệu giảng dạy nhiều lúc thấy bí”[5].

Trước những vấn đề đặt ra chồng chất, bác sĩ Trần Hữu Tước tranh thủ thời gian ngày đêm đọc các sách lý luận, nghiệp vụ, các tài liệu liên quan trực tiếp đến việc xây dựng bài giảng, tranh thủ ý kiến các đồng nghiệp ngành y, các cán bộ lãnh đạo, sinh viên, cán bộ nhân viên phục vụ… Ông mới giảng được một bài đầu tiên ở trường Đại học Y và chuẩn bị đưa đề án xây dựng ngành Tai Mũi Họng ra thực hiện thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Thế là mọi việc đành phải xếp lại, tất cả tập trung cho cuộc chiến đấu của quân và dân thủ đô.

Đầu năm 1947, ông cùng nhiều đồng nghiệp được lệnh rút ra khỏi Hà Nội, với nhiệm vụ vừa phục vụ chiến đấu vừa đảm bảo việc xây dựng được ngành Tai Mũi Họng phải đáp ứng được yêu cầu phục vụ trực tiếp cuộc kháng chiến, đồng thời tạo cơ sở cho sự phát triển lâu dài của ngành sau này. Xây dựng tổ chức, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học… tất cả đều còn mới mẻ và khó khăn. Khi ấy “chúng tôi chưa thành một tổ chức riêng mà ghép vào bệnh viện mắt. Nhiệm vụ, tổ chức không được rõ ràng mà thật tình còn biết bao nhiêu vấn đề to lớn khác”[6].

Giai đoạn năm 1947 - 1951, bác sĩ Trần Hữu Tước cùng với các đồng nghiệp, học trò hoạt động, tuyên truyền mở rộng cơ sở ở Liên khu 3, Liên khu 4, đặc biệt là ở các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Thanh Hóa. Bác sĩ Trần Hữu Tước bàn bạc với các đồng nghiệp đề cao tinh thần tự lực cánh sinh, chịu đựng thiếu thốn, gian khổ và tranh thủ tuyên truyền trong nhân dân về phòng bệnh tai mũi họng, chữa chạy khi có bệnh tật.

Trong hai năm (1947-1948) tổ Tai Mũi Họng do bác sĩ Trần Hữu Tước phụ trách đã đi phục vụ khám chữa bệnh ở hơn 30 địa điểm trong vùng Liên khu 3. Nhờ củng cố chặt chẽ quan hệ với nhân dân và tích cực tranh thủ khám, chữa bệnh nên ngày càng nhiều người biết đến chuyên khoa tai mũi họng. Nhưng một khó khăn mới đến với các ông là bông băng, thuốc men thiếu thốn trầm trọng. Bác sĩ Trần Hữu Tước đành bán mấy bộ quần áo mang từ Pháp về để mua bông băng, cũng dùng tạm được một thời gian ngắn.

Đến năm 1948, tổ Tai Mũi Họng được phép thành lập bệnh khoa[7] Tai Mũi Họng ở Khu 3 - cơ sở Tai Mũi Họng đầu tiên trong kháng chiến, cơ sở lưu động với một số dụng cụ y tế do thợ rèn và thợ nguội chế tạo bằng tay. Lúc này, bác sĩ Trần Hữu Tước bắt đầu chú ý tới một số đề tài nghiên cứu khoa học. Sang đến năm 1950, bệnh khoa lại được phép thành lập bệnh khoa Tai Mũi Họng chung cho Khu 3, Khu 4. Lúc đầu bệnh khoa đóng ở Sở Kiện (Nam Định), nhưng do địch bắn phá ác liệt quá nên phải rời vào Thanh Hóa, lập cơ sở trong một ngôi chùa. Các cơ sở trên, tuy còn nhỏ bé, nhưng rất có ý nghĩa, là nơi điều trị, nghiên cứu và góp phần đào tạo cán bộ cho kháng chiến. Bệnh khoa tranh thủ và tận dụng mọi điều kiện sẵn có để phát triển ngành. Xe đạp được cải tiến để phát điện soi khám tai mũi họng và tiến hành một số phẫu thuật tai mũi họng phức tạp. Bác sĩ Tước cùng đồng nghiệp và học trò say mê, phấn khởi, làm ngày làm đêm, tranh thủ mọi dịp để tuyên truyền cho ngành, giải thích về phòng bệnh, điều trị tai mũi họng, nói chuyện ở các cuộc hội nghị, viết báo, viết sách.... Trong hoàn cảnh thiếu thốn, gian khổ như vậy, nhưng ông vẫn luôn đề cao tinh thần lạc quan: “đây là một dịp thử thách và rèn luyện mình về mọi mặt. Tôi biết còn nhiều gay go lắm nhưng tôi đã quyết tâm bỏ một cuộc sống tầm thường tiền tài danh vị, nhưng nô lệ, để được sống cuộc sống này, tôi phải làm sao luôn luôn xứng đáng cuộc sống mới này của tôi, và làm tốt nhiệm vụ trên giao cho. Do đó, thật tình, tôi cũng chẳng bận tâm đến cương vị, quyền lợi gì cả, và tôi cùng anh chị em, đến đâu cũng tranh thủ làm vệ sinh, sắp xếp ăn ở, hỏi han nhân dân và đi tới các gia đình săn sóc sức khỏe, trông nom bệnh tật. Chúng tôi khám chữa đồng bào có kết quả, nên được đồng bào biết đến, chỉ một thời gian ngắn là bệnh nhân của chúng tôi khá đông. Có nhiều người được chữa khỏi, đem tiền, đem gà đến cho chúng tôi nhưng chúng tôi kiên quyết không nhận”[8].

Đến năm 1951, bác sĩ Trần Hữu Tước sức khỏe giảm sút và lâm bệnh nên được Trung ương gửi sang Trung Quốc chữa bệnh. Năm 1952 về nước, ông bắt tay ngay vào việc nghiên cứu xây dựng bệnh khoa Tai Mũi Họng Trung ương. Ông đã chỉ đạo thành lập tại Việt Bắc một bệnh khoa Tai Mũi Họng với 60 giường bệnh, 2 phòng mổ, 4-5 cán bộ phục vụ bệnh nhân. Trong quá trình xây dựng bệnh khoa Tai Mũi Họng này, ông đã cùng anh chị em, đêm gác phòng biệt kích, ngày lên rừng đốn tre nứa làm nhà, làm giường, làm cả máng nước về tận bệnh khoa. Phòng mổ ở Việt Bắc tuy trong hoàn cảnh kháng chiến nhưng cũng có đầy đủ chỗ rửa và vòi rửa đảm bảo vệ sinh sạch sẽ cho phòng mổ.

Khi xây dựng cơ sở bệnh khoa tại Việt Bắc, các học trò thường ngăn bác sĩ Trần Hữu Tước lao động, không muốn để ông gác đêm, sợ ảnh hưởng tới sức khỏe nhưng ông vẫn hăng hái tham gia. Trong những năm từ năm 1952-1954, tại cơ sở Tai Mũi Họng này, bác sĩ Tước cùng đồng nghiệp đã khám bệnh, điều trị, phục vụ các chiến dịch Tây Bắc, Điện Biên Phủ. Trong kháng chiến, mặc dù còn thiếu thốn nhiều phương tiện, thuốc men, nhưng bác sĩ Trần Hữu Tước đã làm được khá nhiều việc tưởng như không thể, tiến hành một số phẫu thuật lớn mà ở Bệnh viện Bạch Mai trước kia của người Pháp chưa bao giờ làm. Ông cũng đã bắt đầu nghiên cứu một số vấn đề bệnh tật tai mũi họng trẻ em, một số trường hợp viêm tai giữa thể nặng và đã nghiên cứu áp dụng có kết quả việc dùng Philatop chữa bệnh trĩ mũi.

Từ sau Cách mạng tháng Tám, khi ngành Tai Mũi Họng hầu như không có gì, chưa ai để ý đến, thì đến khi hòa bình lập lại (1954) đã có một vị trí nhất định và đã có những đóng góp không nhỏ vào việc phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến. Qua kháng chiến, bác sĩ Trần Hữu Tước “cũng đã học hỏi về công tác phụ trách để có một đường lối nguyên tắc xây dựng ngành một cách chắc chắn hơn và bắt đầu nghiên cứu khoa học một cách thực tế, sáng tạo. Nhờ vậy sau này trong hòa bình tôi mới có thể góp phần xây dựng ngành Tai Mũi Họng phát triển nhanh và hoàn thành một số công trình nghiên cứu khoa học đáng kể”[9].

Nhắc lại một vài sự kiện đã qua quá nửa thế kỷ để thấy rằng những đóng góp của GS Trần Hữu Tước cho y học Việt Nam, đặc biệt cho chuyên ngành Tai Mũi Họng, là vô cùng lớn lao. Ông đã thực sự hy sinh bản thân để sống, làm việc hết mình cho lý tưởng cách mạng và tình yêu đối với nhân dân, đất nước mình.

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 

 

 

 


[1] Hàm Châu, Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại, NXB Trẻ, 2014, tr.52.

[2] Bản đánh máy Những năm phấn đấu trong ngành Tai Mũi Họng Việt Nam của GS Trần Hữu Tước, 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[3] Trần Hữu Tước - Cuộc đời và sự nghiệp, NXB Y học, 2013, tr.46.

[4] Bản đánh máy Những năm phấn đấu trong ngành Tai Mũi Họng Việt Nam của GS Trần Hữu Tước, 1966, tài liệu đã dẫn.

[5] Bản đánh máy Những năm phấn đấu trong ngành Tai Mũi Họng Việt Nam của GS Trần Hữu Tước, 1966, tài liệu đã dẫn.

[6] Bản đánh máy Những năm phấn đấu trong ngành Tai Mũi Họng Việt Nam của GS Trần Hữu Tước, 1966, tài liệu đã dẫn.

[7] Chữ do GS Trần Hữu Tước dùng để nói về ngành Tai Mũi Họng lúc bấy giờ.

[8] Bản đánh máy Những năm phấn đấu trong ngành Tai Mũi Họng Việt Nam của GS Trần Hữu Tước, 1966, tài liệu đã dẫn.

[9] Bản đánh máy Những năm phấn đấu trong ngành Tai Mũi Họng Việt Nam của GS Trần Hữu Tước, 1966, tài liệu đã dẫn.


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: