09/07/2020 9:23:25 SA - Sáng kiến MK10

23/06/2020 5:55:46 CH - Ở ranh giới “mong manh”

08/06/2020 10:56:56 SA - Vĩnh biệt GS.TS Ngô Đức Thịnh

Mảnh đất nuôi dưỡng tâm hồn
Cập nhật lúc: 15:46, Chủ Nhật, 22/02/2015 (GMT+7)

Lời kể về quê hương thấm đẫm ân tình của người con xa quê - GS.TS Trần Văn Nhân đã thu hút chúng tôi từ những buổi trò chuyện đầu tiên cùng ông.

Xao xuyến dòng sông  La

GS.TS Trần Văn Nhân sinh ra tại làng Tùng Ảnh, nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Làng Tùng Ảnh nằm bên bờ sông La, dòng sông in đậm trong trí nhớ tuổi thơ của Trần Văn Nhân với những chuyến đò tấp nập ra Bắc vào Nam. Những đêm trăng sáng, người lái đò thả mái chèo và cất lên tiếng hát làm xao xuyến lòng người, đưa cậu bé Nhân vào giấc ngủ. Dòng sông La còn là nơi mỗi buổi sáng cậu bé Nhân và các bạn cùng trang lứa chơi đùa thỏa thích bên đồi Linh Cảm rủ nhau tắm mát và chơi thả diều, đánh trận giả trên con đường đê bên này dòng sông La với những quả thông lượm được trên đồi Linh Cảm làm đạn và dùng gậy làm súng. Những đêm hè, Nhân cùng các bạn nằm trên bãi cỏ bờ đê, hóng mát, đôi khi ngủ quên lúc nào chẳng hay, khi tỉnh lại đã thấy nằm trên giường ở nhà.

Kể về thuở ở làng, GS Trần Văn Nhân còn nhớ, làng Tùng Ảnh nằm giữa đê sông La và đường số 8, giao thông đường thủy khá phát triển. Phương tiện vận tải phổ biến lúc đó là những chuyến đò ngang và đò dọc. Đò qua bến làng Tùng Ảnh thường rất sớm. Để kịp phiên chợ, mẹ ông phải gồng gánh hàng lụa tơ tằm ra khỏi nhà khi còn tối trời, các con ngủ say và về nhà khi gà đã lên chuồng. Cùng với người dân trong làng, thỉnh thoảng mẹ tôi đi chợ Vinh ở Nghệ An bằng đò trên sông La, hay đi chợ Thượng ở bên kia sông, hoặc xuôi  xuống chợ Trổ, ngược  lên chợ Nướt. Ở giữa hai làng Đông Thái và Tùng Ảnh cũng có chợ Hạ với đầy đủ các mặt hàng: từ hàng dệt, đồ vải đến  trâu bò, nông sản[1]. Tuổi ấu thơ, cậu bé Nhân hay được theo mẹ đi các chợ gần. Nay ông vẫn còn nhớ các ngày phiên chợ trong vùng: mồng 5 chợ Hạ, mồng 8 chợ Đồn, mồng 3 chợ Trổ, mồng 4 chợ Thượng. Niềm vui tuổi thơ ông là những hôm theo mẹ đi chợ và đợi ở bến để lấy quà. Quà quê lúc bấy giờ chỉ là những chiếc bánh lá bằng bột gạo, được gọi là bánh gói nhưng mấy anh em ăn ngon lành.

 
 GS.TS Trần Văn Nhân giới thiệu cảnh xưa ngôi nhà ông bên dòng sông La

 Và ngôi nhà xưa yêu dấu

Với GS.TS Trần Văn Nhân, ký ức về ngôi nhà bên bờ sông La luôn thường trực, đau đáu trong lòng. Không giấu nổi những giọt nước mắt nóng bỏng trên gương mặt đã nhăn nheo, ông chia sẻ: Đến tuổi già, nhu cầu hiểu biết quá khứ chiếm lĩnh tâm hồn con người. Thời gian như mây trôi không để lại dấu tích nhưng những ký ức thì còn mãi. Các hình ảnh xa xưa cứ ùa về, lấp đầy trong tâm trí. Đó là hình ảnh ngôi nhà gần sông La, được gia đình ông xây dựng vào năm 1947, nhà quay hướng nam gồm 3 gian 2 hồi và vuông góc với gian bếp. Cột nhà làm bằng gỗ mít, xà là gỗ xoan, mái tranh, vách nứa, nền đất và có rèm che. Ở hồi bên trái nhà, bố ông kê một tấm phản gỗ để nằm nghỉ. Gian chính giữa đặt bàn thờ tổ tiên, các gian trong là nơi ăn ngủ của mẹ và các em gái. Hồi bên phải gia đình đặt một chiếc khung cửi dệt. Những buổi sớm tinh mơ hay lúc đêm khuya, trong không gian yên ắng của làng thường có hai âm thanh hòa quyện, đó là tiếng khung cửi với tiếng ê a học bài của học trò. Trong nhà, hai mẹ con chung nhau một ngọn đèn dầu lạc, con học bài còn mẹ dệt vải. Ngoài hiên nhà, cạnh gian bếp mắc một chiếc võng. Hình ảnh duy nhất mà ông còn nhớ khi tầm hai tuổi  “vào một buổi trưa hè, mẹ bế tôi nằm trên võng mắc ngoài hiên, sau khi đi lấy bổi về đặt gánh bổi giữa sân” (bổi là một loại cây dùng để đun bếp, được cắt và bó lại thành từng bó)[2]. Hơn 70 năm trôi qua, ông Nhân vẫn nhớ như in mọi ngóc ngách trong ngôi nhà thân yêu. Gian trong của ngôi nhà có một gác lửng, là nơi cất giấu thóc mà người họ hàng bên ngoại ông gửi nhờ năm 1945. Đó là năm nước ta có 2 triệu người chết đói. Đa số nông dân thuần túy bị chết đói rất nhiều. Nhà ông cũng không có gạo ăn, nhưng may mẹ ông buôn bán có chút vốn liếng, rồi có số thóc của bà ngoại gửi nhờ, nên mẹ đã mua lại thóc của người họ hàng ấy. Do vậy mà cả gia đình qua khỏi được nạn đói kinh hoàng năm 1945 ấy. Ngay trẻ con, khi ấy may thì được một bát cơm, có bữa ăn cháo loãng, cho thêm rau má thành món cháo rau má, hoặc có bữa ăn cám rang xúc bằng lá mít.

Hơn 70 năm trôi qua, ông Nhân vẫn nhớ như in mọi ngóc ngách trong ngôi nhà thân yêu. Đồ đạc trong nhà chẳng có gì đáng giá, ngoài mấy chiếc giường, một chiếc tủ, hai cái rương gỗ, một cái sập làm bàn thờ và đựng bát đĩa để thờ cúng. Trên bàn thờ chỉ có ảnh vẽ truyền thần chân dung ông nội của Trần Văn Nhân, quanh năm phủ lụa điều, những ngày giỗ, ngày Tết mở lụa điều để lau dọn ban thờ. "Bố tôi (cụ Trần Văn Vỵ- TG) trong trang phục quần trắng áo lương chỉnh tề, giải chiếu xuống đất vái lạy, đọc lời khấn ông bà tổ tiên. Khi bố tôi lễ xong, mẹ tôi chặt gà, chia đĩa xôi ra mấy phần nhỏ đem biếu ông bà trong làng[3].

Về hình ảnh khu vườn quanh nhà, GS.TS Trần Văn Nhân tâm sự: "Nếu ngay bây giờ đưa tôi về khu vườn xưa ở quê, nhắm mắt lại, tôi vẫn có thể chỉ và gọi tên được từng cây, từng loại hoa bởi chính khu vườn ấy đã in sâu trong ký ức của tôi với những kỷ niệm tuổi thơ"[4]. Vườn nhà ông Nhân không rộng nhưng có nhiều hoa trái. Có hoa hồng, hoa cúc, hoa thược dược, hoa nhài, hoa hòe và các trái mít, bưởi, na, chanh, cam, quýt. Mùa nào thức ấy, hoa nở thơm ngào ngạt, cây trái sum xuê. Trong vườn còn trồng cây dong, lấy lá để gói bánh chưng. Sau khi tiễn ông Táo về trời, mẹ ông chuẩn bị nguyên liệu làm bánh như thịt, nếp cái và đỗ xanh, bố ông chọn những lá dong đẹp để cho con rửa lá. Mỗi chiếc bánh chưng cần hai lá to và hai lá nhỏ. Theo lời kể của ông Nhân, bố ông gói bánh rất khéo, vuông vắn và tỉ mỉ. Bánh gói xong được xếp vào nồi đồng, đun trên bếp củi. Những ngày đông lạnh giá, bên bếp lửa hồng, ông thường cùng bố ngồi trông nồi bánh. Khi luộc bánh xong, trẻ con được chia những chiếc bánh tí hon để ăn ngay. Bố ông chọn 6 chiếc bánh vuông vắn nhất bọc lại bằng lá dong xanh, ngoài buộc lạt, đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên. Ngày Mồng một Tết, bố ông dẫn hai người con trai sang hai bên nội ngoại thắp hương, chúc Tết ông bà. Sáng mồng ba Tết, theo phong tục của làng, Trần Văn Nhân cùng bố đi tảo mộ. Bố ông có trí nhớ rất tốt, những ngôi mộ không số, không bia, cái dưới đồng, cái trên đồi, xen lẫn các ngôi mộ khác tương tự nhưng cụ vẫn nhớ từng vị trí từng ngôi mộ nhà mình.

Kể từ năm 1976, sau 35 năm, đến 2001 ông mới có dịp quay trở lại quê hương. Trong dịp đám cưới con trai thứ hai, GS.TS Trần Văn Nhân đưa con cháu về thăm họ hàng. Bố mẹ ông không còn nữa, vườn và ngôi nhà bây giờ đã chuyển lại cho bà cô. "Bước chân vào khu vườn, tôi ra phía sau nhà tìm hai cây bưởi đào ấm và đào liêu mà ngày xưa tôi thường leo trèo, hái quả, ngắt hoa để bày bàn thờ mỗi dịp giỗ tết. Trước sân nhà, nơi ngày xưa bố tôi trồng hoa, những hoa hòe, thược dược, hoa hồng, nơi ngày xưa bố và tôi rọi đèn dầu hỏa bắt sâu vào những đêm đông nay đã không còn nữa. Vạt lá dong mà bố tôi thường chọn những chiếc lá đẹp nhất để gói bánh chưng cũng đã biến mất….Tôi cứ thơ thẩn ngoài vườn mà không vào nhà.." [5].

Thời gian sống ở quê không nhiều, vẻn vẹn có 18 năm nhưng với GS.TS Trần Văn Nhân, đó là những tháng ngày tuổi thơ đẹp nhất, những ký ức hạnh phúc góp phần nuôi dưỡng tâm hồn ông trong suốt quãng đời sau này. 

Nguyễn Thị Hiên (ghi)

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam



[1] Phỏng vấn GS.TS Trần Văn Nhân, ngày 1-3-2014.

[2]   Phỏng vấn GS.TS Trần Văn Nhân, ngày 1-3-2014.

[3]  Phỏng vấn GS.TS Trần Văn Nhân, ngày 1-3-2014.

[4] Phỏng vấn GS.TS Trần Văn Nhân, ngày 1-3-2014.

[5] Bài viết "Tôi nghĩ gì khi đi bộ" của GS.TS Trần Văn Nhân.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: