21/09/2019 11:26:15 SA - ''Chuyện nghề địa chất''

18/09/2019 5:20:22 CH - Những cảm xúc đọng lại

18/09/2019 11:37:52 SA - Kết nạp hội viên đặc biệt

17/09/2019 9:19:15 SA - Tưng bừng ngày khai trương

16/09/2019 4:56:57 CH - Quà mừng sinh nhật

16/09/2019 4:43:30 CH - Vì say sóng

Nặng lòng với Tây Nguyên
Cập nhật lúc: 09:49, Thứ Sáu, 30/01/2015 (GMT+7)

Từ buổi đầu đặt chân đến Tây Nguyên cuối những năm 70 của thế kỷ trước, đến những lần trở lại gần đây, Tây Nguyên luôn đem lại những xúc cảm đặc biệt với GS Đặng Huy Huỳnh. Cả dải đất rừng nơi đây hầu như đã in đậm những bước chân của ông cùng đồng nghiệp vì sự phát triển vùng đất cao nguyên này.

Năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, Viện Khoa học Việt Nam được thành lập (20-5-1975), bao gồm 17 viện nghiên cứu trực thuộc. Khi ấy PTS Đặng Huy Huỳnh và PTS Nguyễn Hữu Thước được cử làm Phó Viện trưởng Viện Sinh vật (không có viện trưởng). Cũng thời điểm này, Viện Khoa học Việt Nam hợp tác với Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô thực hiện chương trình Nghiên cứu về sinh thái học rừng nhiệt đới Việt Nam trong 10 năm, từ năm 1975 đến 1985. Phía Việt Nam do PTS Đặng Huy Huỳnh làm chủ nhiệm, phía Liên Xô là GS V.E.Cokolov.  

Mặc dù chương trình hợp tác được ký kết từ năm 1975 nhưng phải đến cuối năm 1977 thì mới bắt đầu đi vào thực hiện, bởi đất nước mới thống nhất, kinh tế còn rất khó khăn. Trong quá trình ấy, PTS Đặng Huy Huỳnh có vài lần sang Mátxcơva để trao đổi với GS V.E.Cokolov về các mục tiêu, nội dung nghiên cứu của chương trình. Phía Liên Xô cũng cử người sang Viện Khoa học Việt Nam để xây dựng nội dung nghiên cứu, trao đổi về công tác chuẩn bị cho chương trình nghiên cứu. Phía Liên Xô hỗ trợ cho chương trình nghiên cứu này rất nhiều. Đầu tiên là cung cấp 50 tấn xăng, được đưa đến các địa điểm như Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, thành phố Hồ Chí Minh, để thuận tiện cho các đoàn nghiên cứu, đi đến đâu thì có thể lấy nhiên liệu ở đó. Ngoài ra, để phục vụ cho chương trình nghiên cứu, phía Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô còn trang bị 2 xe Gát 66, 4 xe U oát, 2 xe máy loại đi rừng, thậm chí cả bàn ghế và xà phòng…

Một trong những nơi nghiên cứu trọng điểm của chương trình là Tây Nguyên. Tây Nguyên vào thời điểm ấy còn là một vùng đất chưa được nghiên cứu nhiều, lại là vùng địa kinh tế, địa chính trị quan trọng của Việt Nam. Được coi là nóc nhà của Đông Dương, hệ sinh thái ở đây còn khá nguyên sơ, khi nghiên cứu về hệ sinh thái ở Tây Nguyên thì có thể có cái nhìn rộng ra các hệ sinh thái ở các nước lân cận như Lào và Campuchia.

Sau khi có những khảo sát ban đầu về Tây Nguyên, đoàn nghiên cứu quyết định chọn Kon Hà Nừng (thuộc Gia Lai-Kon Tum), phía Đông Trường Sơn, đầu nguồn sông Côn (là nơi thuận tiện cho việc đi lại với Quy Nhơn, Bình Định) làm vị trí đặt trạm nghiên cứu, phục vụ cho việc thực địa dài ngày. Trong quá trình nghiên cứu ở đây, đoàn được sự giúp đỡ rất nhiều của Sư đoàn 332 đóng tại Kon Hà Nừng làm kinh tế, do Đại tá Nguyễn Văn Hải phụ trách. Ông Huỳnh cho biết lần ông cùng với thư ký của VS V.E.Cokolov vào Tây Nguyên thì được Đại tá Nguyễn Văn Hải gợi ý nên xây dựng trạm nghiên cứu ở Buôn Lưới, một làng từng có nhiều người tham gia hoạt động cách mạng để có thể đảm bảo an toàn cho đoàn nghiên cứu.

Sau khi chọn được địa điểm, PTS Đặng Huy Huỳnh báo cáo với lãnh đạo Viện Khoa học Việt Nam xin kinh phí xây dựng trạm nghiên cứu. Viện Khoa học Việt Nam cấp cho ông 50.000 đồng để xây dựng trạm nghiên cứu. Ông cùng với cán bộ của Viện Sinh vật đã vào Kon Hà Nừng, cùng với sự hỗ trợ của cán bộ Sư đoàn 332 để xây dựng trạm. Trạm nghiên cứu có diện tích khoảng 2 hecta, bao gồm 1 khu nhà 5 gian lợp ngói, đồng thời còn một khu nhà bếp lợp tranh, ngoài ra còn có vườn rất rộng. Toàn bộ khu tường bao quanh trạm nghiên cứu do chính cán bộ của đoàn tự tay chặt tre nứa và thi công. Trạm nghiên cứu này thỉnh thoảng đón lãnh đạo của tỉnh Gia Lai - Kon Tum (hồi đó chưa tách tỉnh) xuống thăm, người hay xuống Trạm nghiên cứu là Phó Chủ tịch tỉnh Tạ Quang Kim. Mỗi lần ông Kim xuống thường mang cho đoàn mấy quả dừa hoặc vài lít rượu.

Trạm Kon Hà Nừng được xây dựng xong, đi vào hoạt động, mỗi năm đoàn thực hiện được ít nhất 2-3 đợt nghiên cứu thực địa, mỗi đợt kéo dài khoảng 2 tháng. Đoàn đi thực địa thường có 20-30 cán bộ tham gia, trong đó cán bộ Liên Xô có khoảng 10-15 người. Trong điều kiện thiếu thốn lúc bấy giờ nhưng đoàn nghiên cứu đều vui vẻ, cố gắng làm việc và không có lời ca thán. Từ chuyện lớn đến những công việc nhỏ, như cùng nhau nấu ăn, dọn dẹp, mỗi người một việc, từ quản lý đến cán bộ nghiên cứu, từ người Nga đến người Việt, mọi người đều chia sẻ với nhau. 

Cũng có những chuyện vui khi đi nghiên cứu thực địa. Một lần, đoàn nghiên cứu phải tìm chỗ nước cạn để có thể lội qua bên bờ kia sông Côn, VS V.E.Cokolov đề xuất những cán bộ nữ lánh đi chỗ khác để cánh nam giới cởi bỏ trang phục lội qua sông. Tới bờ sông bên kia, họ gọi sang và đề nghị những cán bộ nữ cũng có thể làm như vậy. Sau đó, khi họ gặp nhau thì cả người Nga, người Việt đều cười vui vẻ vì ý tưởng táo bạo của VS V.E.Cokolov.

Với vai trò là Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu, nên PTS Đặng Huy Huỳnh, bên cạnh nhiệm vụ chuyên môn như một cán bộ nghiên cứu thực thụ, từ việc đi điền dã, ghi chép, thu thập, phân tích mẫu…, ông còn có trọng trách phải đảm bảo an toàn cho đoàn nghiên cứu ở Tây Nguyên. Công việc chính của ông là liên hệ tới tỉnh, huyện và các địa phương nơi đoàn đến công tác. Ông chuyên nghiên cứu về các loài thú có guốc nên có thể đi thực địa vào bất cứ giờ nào trong ngày. Các loài thú có thời gian hoạt động khác nhau, nên có hôm 7 giờ tối ông đã đi ngủ, 12 giờ đêm dậy cùng đồng nghiệp vào rừng để bắt đầu tìm kiếm, ghi chép. Cũng có khi ông đi từ 12 giờ đêm đến 6 giờ sáng, có hôm thì từ 6 giờ tối đến 12 giờ đêm, hoặc cũng có thể đi từ 4 giờ sáng đến 9 giờ sáng. Công việc chính của ông là tìm hiểu tập tính sinh hoạt, nơi cư trú, quan hệ con đực con cái, thức ăn… của các loài thú. Ông cho biết, việc đi thực địa vào thời gian khác nhau trong ngày là phụ thuộc vào đặc điểm sinh thái của từng loài. Điều đó không làm ông mệt mỏi mà nó đã trở nên quen thuộc, là niềm vui và trách nhiệm của một người nghiên cứu.

Những chuyến đi thực địa có thể bắt đầu từ trạm nghiên cứu Kon Hà Nừng rồi lại trở về trạm hoặc cũng có những chuyến đi xa hơn nên nhóm nghiên cứu phải trang bị đầy đủ từ dụng cụ, phông bạt để cắm trại, gạo, muối, mì, cá khô, thịt hộp… nhưng quan trọng nhất là thuốc ký ninh để phòng chống sốt rét và thuốc chữa đau bụng. Mỗi lần chuẩn bị vào Tây Nguyên, PTS Đặng Huy Huỳnh lại cử người mang giấy giới thiệu lên Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng để xin cấp thuốc. Chiều nào ở nơi thực địa cũng có một cán bộ làm nhiệm vụ nhắc nhở đồng nghiệp uống thuốc ký ninh. Vắt đã trở nên quá quen thuộc với những cán bộ nghiên cứu ở đây. Vắt nhiều vô kể, đến nỗi mỗi lần đi thực địa ông không còn quan tâm xem nó có cắn mình hay không nữa.

Trong mỗi chuyến thực địa, nhiệm vụ của người nghiên cứu là ghi chép các tập tính sinh hoạt của động vật hoặc thu thập mẫu phân, mẫu thức ăn… để mang về trạm phân tích. Có khi thu thập được mẫu một con vật vào ban đêm thì cả nhóm nghiên cứu đều thức dậy, mỗi người một nhiệm vụ, người lấy mẫu ký sinh trùng, người ghi chép, người thì giải phẫu, người thì làm da để mang về Hà Nội… Ngày ấy, không có điện nên tất cả đều sử dụng đèn dầu kèm thêm vài đoạn củi khô đốt lên để lấy ánh sáng phục vụ công việc. Những công đoạn như thế đã trở nên quen thuộc và ai ai cũng vui vẻ, không nề hà.

PTS Đặng Huy Huỳnh tiến hành tìm hiểu, đếm số lượng, phân loại các loài động vật trên địa bàn nghiên cứu bằng nhiều cách. Có khi ông chọn một bãi đất trống tương đối phẳng, đất mềm, rộng khoảng vài chục mét. Sau một đêm, hoặc một ngày ông kiểm tra lại bãi đất trống đó để xem dấu chân của các loài, có thể biết được thành phần các loài hoạt động trên địa bàn như cầy, cáo, nai, khỉ, bò… sau đó chụp ảnh lại các dấu vết để phân tích. Cũng có khi ông lại chọn một đoạn đường vắng vẻ để điều tra, phân loại các loài theo cách như trên. Mỗi lần kiểm tra xong ông lại xóa dấu vết và hôm sau lại đến để xác minh lại. Việc này được thực hiện nhiều lần nhằm theo dõi tần suất xuất hiện của các loài. Qua đó cũng biết được trữ lượng, số lượng động vật, thuận lợi cho việc nghiên cứu cân bằng sinh thái, tích lũy cho việc khuyến cáo bảo vệ hoặc khai thác, sử dụng các loài.

Kết quả của chương trình nghiên cứu này cũng như những kết quả thu thập được khi ông tham gia chương trình Tây Nguyên 1 đã thôi thúc PTS Đặng Huy Huỳnh và đồng nghiệp đề xuất ý kiến thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo vệ và phát triển các loài động thực vật quý hiếm. Tháng 5-1978, thay mặt các đồng nghiệp của Viện Sinh vật học, PTS Đặng Huy Huỳnh đã có văn bản kiến nghị gửi lãnh đạo Viện Khoa học Việt Nam và lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai - Kon Tum về việc phân vùng quy hoạch và phân công lại lao động cũng như sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên động vật ở Gia Lai - Kon Tum. Trong văn bản, PTS Đặng Huy Huỳnh đã đưa ra 9 kiến nghị, trong đó nhấn mạnh mấy điểm như sau: “Khoanh khu rừng phía Đông Sa Thầy với diện tích 6000 hecta thành khu dự trữ, bảo vệ thiên nhiên. Tổ chức khoanh một khu vực ở Kon Ka Kinh, Kon Chư Răng thuộc Kon Hà Nừng (huyện An Khê) thành khu bảo vệ thiên nhiên với diện tích 25000 hecta. Đề nghị Chính phủ, Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai - Kon Tum sớm ra chỉ thị cấm tuyệt đối việc săn bắn những loài động vật có ý nghĩa kinh tế quý và hiếm như voi, bò rừng, bò tót, hươu cà toong, chồn bay, sóc bay, chim công…. Riêng khu vực hồ Lắk, tỉnh Đắk Lắk, chúng tôi kiến nghị tuyệt đối cấm săn bắt cá sấu mà nên tạo điều kiện nuôi dưỡng cá sấu ở khu hồ này, vì đây cũng là nguồn lợi lớn nằm trên cao nguyên Trung bộ…”[1].

GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh (ngoài cùng bên trái) nghiên cứu về ảnh hưởng của chất độc hóa học tại rừng Sa Loong, vườn quốc gia Chư Mom Ray, Sa Thầy, Kon Tum, 7-2-1999


Trong một văn bản khác với nhan đề: Những ý kiến ban đầu về khoanh khu vực Kon Hà Nừng thành khu bảo vệ thiên nhiên, được soạn thảo vào đầu những năm 1980, PTS Đặng Huy Huỳnh đã chỉ rõ những nguy cơ có thể làm ảnh hưởng tới môi trường thiên nhiên, mất cân bằng sinh thái ở nơi đây, đồng thời đưa ra những kiến nghị: “Có thể khẳng định, ở Tây Nguyên nói riêng và toàn quốc nói chung, những vùng còn phong phú về thực vật lẫn động vật còn giữ được đến ngày nay như vùng Kon Hà Nừng thật là hiếm hoi. Đứng trước nguy cơ tàn phá của con người ở vùng này và nhằm mục đích xây dựng những khu bảo vệ thiên nhiên phục vụ cho những nghiên cứu về rừng và động vật rừng, bảo vệ nguồn nước cũng như phát triển kinh tế du lịch sau này, chúng tôi đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh và Chi cục Kiểm lâm nhân dân tỉnh Gia Lai - Kon Tum phối hợp với Bộ Lâm nghiệp, Đoàn 332 sớm ra quyết định bảo vệ khu rừng Kon Hà Nừng càng sớm càng hạn chế được những tổn thất đáng tiếc, đồng thời phải có kiến nghị kịp thời với chính phủ, Bộ Quốc phòng sớm có quyết định bảo vệ khu vực này…”[2].

Trong quá trình nghiên cứu, những mẫu vật thu thập có thể được phân tích ngay tại chỗ, cũng có khi được mang về Hà Nội hoặc gửi sang Mátxcơva để có điều kiện nghiên cứu sâu hơn. Mỗi chuyến đi thực địa đoàn đều có các báo cáo chi tiết. Nhiều bài nghiên cứu của PTS Đặng Huy Huỳnh về sinh thái Tây Nguyên được đăng tải trên các tạp chí, tập san vào thời kỳ này. Có thể kể đến các bài đăng trên Tạp chí Sinh vật như: Bước đầu tìm hiểu khu hệ thú tỉnh Gia Lai - Kon Tum, (1978); Khu hệ thú ở Lâm Đồng (1978); Nguồn lợi thú ở Đắc Lắc, (1980); hay một số bài, như Vấn đề khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên sinh vật ở Tây Nguyên. Thông báo khoa học, Viện Khoa học Việt Nam, 1980; Thành phần, phân bố địa lý của các loài thú ở rừng Kon Hà Nừng. Đặng Huy Huỳnh, V.E.Cokolov, Phạm Trong Ảnh. Tạp chí Sinh vật, 1984. Sinh học và sinh thái của các loài thú móng guốc ở Việt Nam. Đặng Huy Huỳnh. H - Khoa học và kỹ thuật, 1986…

Chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và Viện Khoa học Việt Nam đã thu được nhiều kết quả, ngoài việc đề xuất xây dựng hai khu bảo tồn thiên nhiên là Kon Chư Răng và Kon Ka Kinh. Cũng thông qua quá trình thực hiện chương trình này, đã có 2 đề tài luận án TS và 6 đề tài luận án PTS. Chương trình cũng đã tổ chức được nhiều hội thảo khoa học và xuất bản được nhiều ấn phẩm giới thiệu về hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học ở Việt Nam. Phần nhiều các ấn phẩm được in bằng tiếng Nga, được phổ biến rộng rãi tới một số nước trên thế giới và được nhiều nhà nghiên cứu sinh vật biết đến. Các nhà khoa học của Việt Nam tích cực viết bài, tham gia vào những công trình nghiên cứu của chương trình, như Cao Văn Sung, Võ Quý, Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên… Có thể kể ra một số bài nghiên cứu mà PTS Đặng Huy Huỳnh tham gia viết: Bảo vệ các loài thú quý hiếm ở Việt Nam (tiếng Nga). In trong: Tuyển tập nghiên cứu động vật ở Việt Nam. NXB Mockba, 1981; Nghiên cứu bộ có guốc chẵn ở Tây Nguyên (tiếng Nga). Đặng Huy Huỳnh, Hoàng Minh Khiên. Tuyển tập nghiên cứu sinh thái động vật. NXB Mockba, 1982; Khu hệ thú với vấn đề sử dụng hợp lý chúng ở Tây Nguyên (tiếng Anh). Đặng Huy Huỳnh, V.E. Cokolov, Kuznesov. Tạp chí Động vật học, CHDC Đức, 1982…

Những tư liệu đã nghiên cứu ở Tây Nguyên về thành phần loài, tên loài, số lượng, tình hình phân bố, giá trị kinh tế, giá trị bảo tồn... là tư liệu quan trọng góp phần giúp ông và đồng nghiệp hoàn thành cụm công trình Động vật chí, thực vật chí, sách đỏ Việt Nam, được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (2010).

GS Đặng Huy Huỳnh cho biết Tây Nguyên có một vị trí đặc biệt trong suy nghĩ cũng như trong những nghiên cứu của ông. Với ông, đất, rừng và con người Tây Nguyên đã trở nên gắn bó thân thiết. Từ khi còn làm NCS ở Liên Xô ông đã có mong ước được vào vùng đất Tây Nguyên để tìm hiểu, thỏa sức dành tâm huyết của mình vào đó. Ông còn nhớ vào khoảng 1986-1987 đến buôn Đrăng Phôk, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk được một người dân tộc, thường gọi là Ma Năng dẫn đoàn đi rừng. Mỗi tối, Ma Năng thường tháo chiếc bành voi xuống rồi mời ông vào đó ngủ chung. Anh em trong đoàn nghiên cứu khuyên không nên nhưng ông rất thoải mái, vẫn ngủ chung với Ma Năng.

Hiện nay, GS Đặng Huy Huỳnh được Hội bảo vệ Thiên nhiên môi trường Việt Nam giao cho trách nhiệm quy hoạch đa dạng sinh học ở Đắk Lắk nên thường xuyên vào Đắk Lắk. Tháng 4-2014, trong một lần trở lại buôn Đrăng Phôk sau gần 30 năm, ông rất xúc động khi nơi đây kinh tế còn rất nghèo, điều kiện sống của đồng bào chưa được cải thiện là bao. Khi đang cùng các cán bộ thăm làng thì bất ngờ một người phụ nữ ngồi trên nhà sàn gọi với xuống: Ma Huỳnh ơi, Ma Huỳnh ơi! Ông ngạc nhiên, bước lên nhà, hóa ra đó là vợ của Ma Năng. Bà cho biết Ma Năng – chồng bà mất đã lâu, khi còn sống vẫn nhắc đến Ma Huỳnh. Ông rất cảm động vì khi đến đây được đồng bào quý mến, khi đi họ vẫn còn nhớ, sau gần 30 năm quay trở lại mà họ vẫn còn nhận ra. Trước khi rời nơi đây, ông không quên gửi một chút quà biếu vợ của Ma Năng để bày tỏ tấm lòng mình.

Từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước, khi còn là một chiến sĩ tình nguyện quân ở Lào, Campuchia, Đặng Huy Huỳnh đã yêu những cánh rừng và sau này dành đam mê cho sinh vật học cũng là vì lẽ ấy. Đã ngoài 80, nhưng bước chân của người lính, nhà khoa học Đặng Huy Huỳnh vẫn chưa dừng lại. Ông sẽ còn trở lại Tây Nguyên để thỏa cái tình, thỏa niềm đam mê của mình dành cho đất và người nơi ấy.

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam



[1] Văn bản kiến nghị gửi Viện Khoa học Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai - Kon Tum, 19-5-1978, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[2] Bản thảo: Những kiến nghị ban đầu khoanh khu vực Kon Hà Nừng thành khu bảo vệ thiên nhiên, khoảng đầu những năm 1980, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: