09/07/2020 9:23:25 SA - Sáng kiến MK10

23/06/2020 5:55:46 CH - Ở ranh giới “mong manh”

08/06/2020 10:56:56 SA - Vĩnh biệt GS.TS Ngô Đức Thịnh

Dưới mái trường lâm nghiệp
Cập nhật lúc: 11:41, Thứ Hai, 17/11/2014 (GMT+7)

“Thời chúng tôi học đại học, người ta hay nói vui: Lấy chồng thì lấy thú y/ Đừng lấy lâm nghiệp nó đi lên rừng… Ấy vậy mà tôi lại cứ lao đầu vào học” - GS.TS Nguyễn Hải Tuất (nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Lâm nghiệp) chia sẻ. Và rồi ông đã yêu, đã gắn bó trường Đại học Lâm nghiệp từ những ngày đầu cho đến tận bây giờ.

Sau khi tập kết ra Bắc, Nguyễn Hải Tuất và một số học sinh miền Nam được học tiếp chương trình cấp 3 ở trường Huỳnh Thúc Kháng, Nghệ An. Cuối năm 1956, ông ra Hà Nội thi đại học và theo cảm tính, ông đăng ký vào ngành Nông nghiệp. .

Thi đỗ, Nguyễn Hải Tuất về trường Đại học Nông lâm, đóng tại Văn Điển. Bước chân vào đại học, một chân trời mới mở ra với ông nhưng niềm vui không trọn vẹn khi ông bị xếp vào học khoa Chăn nuôi thú y. Học được 2 tháng, ông tìm gặp Hiệu phó là ông Nguyễn Đăng – người Nam Bộ rất thông cảm với sinh viên tập kết, để đề đạt nguyện vọng xin chuyển sang học ngành Lâm học vì được học toán nhiều hơn và được đi nhiều hơn. Ông còn nói với ông Đăng:nếu chú không cho cháu sang học ngành Lâm học thì cháu sẽ học để có cả 2 bằng kỹ sư. Rất may ông Đăng đã chấp thuận nguyện vọng và chuyển ông sang khoa Lâm học. Thế là từ đây cái nghề rừng đã bám lấy ông như một định mệnh, mặc dù trong sinh viên trường đang lưu truyền những câu thơ chê bai nghề Lâm nghiệp: Em chẳng lấy chồng Lâm nghiệp đâu/ Lấy chồng Lâm nghiệp ở rừng sâu...

Lớp Lâm học khóa 1 có 120 sinh viên từ nhiều nguồn khác nhau, có một số học sinh miền Nam trước đây cùng học phổ thông với Nguyễn Hải Tuất như ông Lê Tám, Phan Quang Rớ, Huỳnh Đình Bá… Vất vả nhất với họ là khi đón cái rét đầu tiên trên đất Bắc. Dù đã được cấp thêm chăn và áo ấm nhưng ông Tuất cảm thấy không chịu được, nhiều hôm phải nằm chung với các bạn mới đủ ấm hoặc lấy rơm để dưới chiếu làm đệm.

GS.TS Nguyễn Hải Tuất (thứ 2 từ trái) và đồng nghiệp trong một lần đón tiếp Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm trường Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Tây, 1986

Một dấu mốc quan trọng với ông Nguyễn Hải Tuất là vào tháng 12-1956, ông được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động. Và chỉ sau một thời gian ngắn, ông được làm phân đoàn trưởng. Qua một năm học tập, tình hình phân hóa trong sinh viên ngày càng rõ. Vì nhiều lý do nên lớp Lâm học khóa 1 chỉ còn lại 56 người, rơi rụng mất hơn một nửa. Đến năm học thứ 3 thì một số sinh viên được chọn sang Trung Quốc học để sau này về làm giáo viên cho trường. Lúc này cả lớp chỉ còn lại 34 sinh viên. Cũng trong năm học này (1958), trường Đại học Nông Lâm đổi tên thành Học viện Nông lâm và chuyển địa điểm về Trâu Quỳ, Gia Lâm, cách trung tâm Hà Nội 11km. Đến địa điểm mới, nhà cửa khang trang hơn, có trại thí nghiệm nông nghiệp, thủy sản, chăn nuôi... Riêng ngành Lâm học có một lâm trường thực nghiệm ở Cầu Hai, Phú Thọ. Nhiều thầy giáo và sinh viên lâm học về đây thực tập và thực hiện các đề tài nghiên cứu.

Vào năm thứ 4 lớp Lâm học có những đợt thực tập môn học rất bổ ích và đáng nhớ. Một lần lớp ông đi thực tập môn điều tra rừng kết hợp với phục vụ sản xuất tại Quảng La, Hoành Bồ, Quảng Ninh. Lần đó, ông Nguyễn Hải Tuất phụ trách một nhóm 5 người, cùng với một người cấp dưỡng là Nguyễn Thị Ái đóng chốt tại Hố Buồng, nằm sâu trong rừng để làm công tác điều tra rừng. Tối đến cả 6 người nằm ngủ trên một tấm phên tre, nam nữ cách nhau bằng những chiếc ba lô và đồ dùng, dụng cụ mang theo. Một hôm người cấp dưỡng đi mua thức ăn bị lạc đường làm cho cả nhóm không có gì để ăn. Trời tháng 12 rét như cắt nhưng ông và các bạn xé cái màn cá nhân mang xuống suối để bắt cá mà chẳng bắt được con nào. Nhiều người bầy cách vào nhà dân để mua gà nhưng không ai bán, may quá, phát hiện được một con trăn nên cả nhóm bắt làm thức ăn được vài ngày.

Sau khi tốt nghiệp, một số sinh viên có kết quả học tập tốt được giữ lại làm cán bộ giảng dạy, trong đó có ông Nguyễn Hải Tuất và ông Lê Tám. Ông Tuất được phân công giảng dạy môn Thống kê toán học trong Lâm nghiệp và môn Sức bền vật liệu. Do thiếu giáo viên nên tháng 1-1961 ông đã lên lớp cho khóa 5 trong điều kiện phương tiện, tài liệu giảng dạy chưa được chuẩn bị đầy đủ. Ông còn nhớ rõ hôm đó ông vừa đói vừa lo, lên lớp rất run và nói không thành lời. Thường những người mới ra trường như ông ít chú ý lựa chọn kiến thức để dạy cho phù hợp với đối tượng, vốn kiến thức có bao nhiêu trong đầu thì dạy hết bấy nhiêu. Có lần do không nắm vững yêu cầu học tập của sinh viên nên ông đã chứng minh quá sâu về một công thức thống kê. Hôm đó ông nhìn thấy thầy giáo của mình là Đồng Sỹ Hiền đang ngồi dự lớp bỗng nhiên cau mày lại vì không hài lòng. Đây cũng chính bài học quý về phương pháp sư phạm.

Do yêu cầu phát triển kinh tế, ở miền Bắc có nhiều trường đại học mới được thành lập do yêu cầu của các ngành nghề khác nhau. Ngành lâm nghiệp cũng có yêu cầu phát triển mạnh hơn. Chính vì vậy, ngày 19-8-1964, Chính phủ có quyết định 127/CP thành lập trường Đại học Lâm nghiệp trên cơ sở khoa Lâm học và tổ cơ khí Lâm nghiệp của khoa Cơ khí nông nghiệp, Học viện Nông lâm. Biết được cơ sở trường Bổ túc văn hóa học sinh miền Nam ở Đông Triều, Quảng Ninh có thể tạm thời đáp ứng yêu cầu nên Tổng cục Lâm nghiệp quyết định chọn nơi đây để làm địa điểm xây dựng trường Đại học Lâm nghiệp. Cơ sở này cách thị trấn Đông Triều khoảng 7km về phía tây bắc, là một vùng bán sơn địa, mùa hè thì cát bụi, mùa đông thì gió rét.

Sau một thời gian chuẩn bị về nhân lực và cơ sở vật chất tại Học viện Nông lâm, thì cuối năm 1964, đầu năm 1965 thầy trò trường Đại học Lâm nghiệp hành quân về Đông Triều bằng nhiều phương tiện khác nhau: ô tô, xe đạp, tàu hỏa, ngựa. Lớp học, nhà ở của cán bộ và sinh viên chủ yếu là nhà lợp tre nứa. Chỉ có một số nhà cấp 4 dành cho các phòng thí nghiệm và là nơi làm việc của bộ máy lãnh đạo. Để đề phòng máy bay địch đánh phá, xung quanh các lớp học và nhà ở đều phải đào hào sâu gần 1m. Nước ăn uống chủ yếu dựa vào giếng khơi. Cả trường chỉ có một máy phát điện chạy dầu, chỉ cấp điện từ 7 giờ tối đến 10 giờ đêm, chủ yếu cho học tập và sinh hoạt. Cứ mỗi lần đèn bật sáng thì cả trường đều reo hò như được của quý. Tại cơ sở mới này, khóa 9, nhưng là khóa đầu tiên của Đại học Lâm nghiệp được khai giảng và vinh dự mang tên khóa Nguyễn Văn Trỗi – một tấm gương của tuổi trẻ thời đó

Thời gian đầu xây dựng trường ở Đông Triều, Quảng Ninh, cũng là thời kỳ đời sống của nhân dân ngày càng khó khăn. Lương thực thực phẩm đều được phân phối theo chế độ tem phiếu.Thời đó tem phiếu có thể mua bán và tặng nhau nếu không dùng hết. Cán bộ ở trên bộ về công tác tại trường cũng phải tự mình báo cơm nhà bếp và không quên nộp phần tem gạo của mình. Bữa ăn của cán bộ và sinh viên rất đạm bạc, cá khô là món đã rất sang trong những năm ấy.

Với ông Nguyễn Hải Tuất, do chưa có gia đình nên ngày 2 bữa mang cặp lồng đến nhà bếp lấy cơm về ăn, thỉnh thoảng có thêm quả trứng là sang rồi. Lương lúc đó của ông Tuất được 74 đồng, dùng chi tiêu cho mọi sinh hoạt. Tuy không nhiều nhưng so với thời sinh viên thì đã khá hơn. Sau 3 năm ra trường, ông đã để dành được một ít đủ mua một cái xe đạp nữ hiệu Thống nhất do một người đồng hương để lại. Hồi đó mà có được cái xe đạp đi là oách lắm, nếu ai có thêm được một cái đài bán dẫn loại National của Nhật đeo bên hông thì hết ý. Ông Tuất rất thích nghe đài nhưng không có tiền để mua đài Nhật nên nhờ một người bạn mua linh kiện lắp cho một cái đài ga len để nghe tin tức trong nước và ca nhạc. Chất lượng đài ga len kém nên chỉ khi áp vào tai mới nghe được.

Những năm Mỹ mở rộng đánh phá miền Bắc bằng hải quân và không quân, nhà trường yêu cầu phân tán các lớp về nhiều nơi ở nông thôn và miền núi để đảm bảo an toàn cho sinh viên cũng như duy trì việc dạy và học. Nguyễn Hải Tuất được phân công vừa giảng dạy vừa kiêm trợ lý giáo vụ khoa, phụ trách quản lý trực tiếp 2 lớp 9A và 9B ngành Lâm học, đóng tại thôn Lương Quang, xã Lê Lợi, huyện Chí Linh. Ông được phân công ở trong nhà anh chị Thoa, một nông dân nghèo nhưng rất tốt bụng. Cụ bà, mẹ anh chị Thoa đã trên 80 tuổi nhưng rất vui tính, nhiều hôm ông đang lên lớp cụ cũng đứng ngoài nghe và sau về góp ý cho ông về cách giảng dạy để đạt hiệu quả hơn. Sinh viên hai lớp này cũng rất sôi động, nhất là các sinh viên miền Nam. Hàng ngày ông đều viết nhật ký về tình hình sinh hoạt, học tập của 2 lớp và cuối tuần đạp xe về trường để báo cáo lại cho khoa. Nhân ngày 20-11-1965, ông sáng tác một vở kịch ngắn “Nồi cám lợn” nhằm giáo dục tính nghiêm túc của sinh viên khi ở nhà dân. Trong vở diễn ông đóng vai chính - vai thầy giáo cùng 3 sinh viên, được khán giả rất tán thưởng.

Từ Văn Điển đến Trâu Quỳ (Gia Lâm), Đông Triều (Quảng Ninh) rồi Xuân Mai (Hà Tây), trường Đại học Lâm nghiệp đóng ở đâu là ông có mặt ở đó. Với ông, tình yêu dành cho nghề, cho sinh viên vẫn nguyên vẹn như buổi mới bước chân vào nghề…

 

Nguyễn Thanh Hóa 

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: