03/09/2020 3:34:36 CH - Nhớ Giáo sư Lê Thi

Mặt trận quân y trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
Cập nhật lúc: 22:56, Thứ Ba, 06/05/2014 (GMT+7)

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã qua đi tròn 60 năm, nhưng âm vang của nó còn sống mãi với nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Trong nhật ký gần 50 ngày đêm trên Mặt trận quân y phục vụ Chiến dịch của GS Tôn Thất Tùng đã phần nào thể hiện sống động hào khí lịch sử đó.

Trong những ngày cuối tháng 3-1954, cuộc chiến tranh ở Đông Dương bước vào giai đoạn cuối, Pháp tập trung quân đội và trang thiết bị cho căn cứ Điện Biên Phủ, coi đây là trận chiến then chốt, mang tính quyết định tới những điều khoản về chính trị, quân sự trên bàn đàm phán ngoại giao. Bác sĩ Tôn Thất Tùng khi ấy là Thứ trưởng Bộ Y tế, cố vấn giải phẫu của Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam được lệnh lên mặt trận Điện Biên Phủ, tham gia trực tiếp vào công tác cứu chữa thương binh. Ngày 23-3, bác sĩ Tôn Thất Tùng và bác sĩ Vũ Đình Tụng cùng một đoàn cán bộ y tế cấp tốc lên Điện Biên Phủ. Đến ngày 2-4, đoàn đã có mặt ở Điện Biên Phủ để nhận nhiệm vụ. 

Những ngày khắc nghiệt

Quang cảnh Điện Biên một ngày đầu tháng 4-1954, theo cảm nhận của bác sĩ Tôn Thất Tùng: “Ngồi đợi xe trên một quãng đồng bỏ hoang, cách Điện Biên Phủ độ 10 cây số về phía Tây Nam. Tiếng súng nổ không ngớt, nghe cả tiếng súng máy. Có lẽ cứ đánh ở đồi A, cao điểm có tính cách quyết định chiến trường. Máy bay cứ vòng quanh Điện Biên Phủ, nếu không thả dù được, số phận Điện Biên Phủ sẽ bị thanh toán. Mỗi lần tàu bay đến gần là ở Điện Biên Phủ chói sáng lên”[1] . Xung quanh pháo đài Điện Biên Phủ, bộ đội ta đã đào sẵn một giao thông hào cao 1m70, rộng 1m20, có thể lưu thông khi cáng thương binh.


Phác họa của bác sĩ Tôn Thất Tùng: Căn lán, nơi ông làm việc ở Điện Biên Phủ, 1954


Ở Điện Biên, bác sĩ Tôn Thất Tùng được bố trí ở trong một căn lán nhỏ bên cạnh bờ suối, tiếng suối chảy róc rách suốt ngày đêm, nhưng đôi khi vẫn bị át đi bởi tiếng máy bay địch. Bên dòng suối chảy ra sông Nậm Rốm, xuôi về Cửu Long giang ở tận miền Nam xa xôi, bác sĩ Tôn Thất Tùng muốn “nhắn với người ở dưới dòng Cửu Long Giang từ Lào, Miên cho đến Nam Bộ yêu mến, bao nhiêu chiến sĩ anh dũng đã bỏ mình để xây dựng một tương lai tươi đẹp. Chúng ta là người của thế hệ Hồ Chí Minh, chúng ta là những người mới, đã hủy bỏ một quá khứ đau khổ và xót xa, quyết tâm cắt những luyến ái phản dân tộc đối với những ngày xưa sống xa dân tộc, xa lao động, xa thực tế”[2].

Người Tây Bắc có câu: “Nước Sơn La, ma Vạn Bú” “Ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyên” để nói lên sự khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu vùng đất này. Từ khi lên Điện Biên cho đến ngày giải phóng, bác sĩ Tôn Thất Tùng đã được trải nghiệm đủ những "đặc sản" khủng khiếp ấy cùng những cơn mưa rừng kéo dài, những trận sốt rét cùng bom rơi đạn nổ.

Cái “rét đến xương tủy, mặc hết cả quần áo, đắp hết cả chăn mà hai đầu gối vẫn buốt” [3] ở Điện Biên thật không thể quên. Ngoài ra, mưa dầm cũng là một thử thách đáng sợ đối với cuộc chiến ở lòng chảo Điện Biên. Thấm thía, đồng cảm được hết nỗi vất vả, gian khổ với những chiến sĩ ngày đêm chiến đấu, ông viết: “Mưa bão luôn luôn mấy đêm làm cho anh em ai cũng mỏi mệt. Anh Hạnh ốm, anh Quang (Nguyễn Dương Quang - TG) cũng không khỏe lắm, và tối hôm qua, tôi cũng rét rét khó chịu và không biết sao, trống ngực khi nào tỉnh dậy đánh rất mạnh. Ruồi vàng ngày cắn càng nhiều, sau đốt, ngứa, mọc một chấm đen và sưng lên, không kể bọ chó. 3 khổ sở của Tây Bắc: Gió Lào (gió Than Uyên), bọ chó và ruồi vàng!”[4]. Mưa dầm Tây Bắc trở thành một kẻ thù đối với cả chiến binh cả hai phía ở Điện Biên, mưa từ cuối tháng 3, có trận kéo dài cả tuần trời “lá xanh, người xanh, một không khí ướt ẩm, buồn bã khi mưa dầm. Tây thì sa vào chỗ chết, ta sa vào một thử thách lớn mà vượt qua được, là đã xây dựng được con người mình rồi”[5]. Trước tình hình ấy, bác sĩ Tôn Thất Tùng không khỏi chạnh lòng khi nghĩ đến anh em chiến sĩ, dân công ngoài mặt trận: “Lại mưa dầm, như thế đã 3 ngày rồi. Đường sá ra sao? Giao thông hào ra sao? Hôm qua đi thăm bệnh dưới trời mưa tầm tã, trượt lên trượt xuống, ướt rét, nhưng thấy các anh thương binh lại khổ hơn nữa. Điều kiện vệ sinh lại càng kém nữa”.

Hoàn cảnh khắc nghiệt, sự thiếu thốn trang thiết bị khiến cho việc chăm sóc cho thương binh còn khó khăn gấp bội: “19 giờ, tối về mổ xong mệt quá. Không ăn hết bát cơm. Có viết thư cho anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp - TG), anh Cẩn (Vũ Văn Cẩn - TG) và anh Lương (Lê Văn Lương - TG). Bệnh nhân bây giờ lên 700 mà chỉ có 4 Quân y sĩ, 2 quân y DT và 20 hộ sĩ, kể cả phòng mổ… Anh em phòng mổ cũng mệt nhoài người ra, cũng không ai ăn được cơm. Ở tổ thay băng, thức cả đêm để thay băng, ăn sáng trễ, ăn chiều đến 11 giờ (đêm) mới xong vì thiếu phương tiện nấu nướng”[6].

Và cũng trên mảnh đất tuyến lửa này, bác sĩ Tôn Thất Tùng đã chứng kiến những cảnh tượng gian khổ nhưng đầy hào hùng mà có lẽ ông chưa bao giờ hình dung nổi: “Trong đêm tối, hàng ngàn dân công đem gạo ra tiền tuyến, người đụng người im lặng vì gần hỏa tiễn, trên con đường vòng Điện Biên Phủ”[7]. Và hình ảnh đó đã in đậm trong tâm trí của ông: “Nhớ các anh chị dân công tiến ra tiền tuyến, áo quần tả tơi, người lo lắng, người vui cười, nhưng ai cũng xanh xao, gầy mòn. Có người từ Phú Thọ, có người từ Thanh Hóa hàng vạn người ùn ra tiền tuyến, mà địch không cản được”[8]. Có lẽ, hình ảnh ấy chỉ có trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam – một dân tộc với những con người “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, như hình ảnh những anh dân công hỏa tuyến tranh thủ giải lao đánh một giấc ngủ ngon lành bên vệ đường khiến bác sĩ Tôn Thất Tùng phải thốt lên : “Một dân tộc đáng yêu quý!”

Câu nói: “Ở đây sắt thép đều tan ra, nhưng những con người đều đi qua được”, để mô tả về những chiến sĩ Xô viết kiên trung đã hy sinh quên mình chống lại phát xít Đức trong thế chiến thứ II. Giờ đây câu nói đó lại được bác sỹ Tôn Thất Tùng ghi lại để nói về những con người đang ngày đêm chiến đấu dưới vùng trời Điện Biên.

Người chiến sĩ áo trắng giàu tình thương

Khi đặt chân đến Điện Biên Phủ, điều đầu tiên bác sĩ Tôn Thất Tùng thực hiện đó là ngay lập tức xem xét tình hình thực tế các thương bệnh binh, đặt kế hoạch làm việc cùng các y bác sĩ tại đây. Sau buổi "thị sát", bác sĩ Tôn Thất Tùng đã viết trong nhật ký: “Mổ và xem các thương binh rải rác trong các lán. Khuyết điểm: Không nắm tình hình thương binh; Lề lối làm việc không khoa học; Tổ chức không theo thực tế hoàn cảnh; Phải khiêng vào phòng thay băng mới xem tình hình vết thương, trong khi đó không có dân công cáng - cho nên một số rất lớn thương binh chưa được rõ tình hình; Cán bộ chuyên môn chỉ nằm trong phòng mổ và chỉ nghĩ đến mổ thôi”[9]. Những ghi chép về công tác y tế ở Điện Biên Phủ thể hiện rõ tính cách cũng như trách nhiệm của bác sĩ Tôn Thất Tùng đối với các thương bệnh binh và ông đã đặt quyết tâm “nắm vững tình hình thương binh hiện tại. Khoan hãy nói gì đến mổ xẻ. Đặt vấn đề chống mycose de peau (nấm da), ở đây rất nhiều ruồi và có những ruồi vàng cắn rất đau. Sẽ trực tiếp phụ trách vết thương đầu não, bụng và phổi. Báo cáo hàng ngày về các mổ, các urgence (trường hợp khẩn cấp)”[10].

Những ngày đầu tháng 4-1954, tình hình thương binh ở Điện Biên Phủ chưa cấp bách và vẫn còn có thể kiểm soát được: “Tổng cộng 394, số giường 650, còn chứa được 256 giường. Có thể nói đã mổ hết rồi”. Nhưng chiến sự ngày càng ác liệt, thương binh ngày càng nhiều khiến cho việc kiểm soát tình hình ngày một khó khăn hơn. Trong nhật ký ngày 7-4, bác sỹ Tôn Thất Tùng viết: “Sáng nay đi thăm khu trung thương, trèo đồi qua suối, vất vả thật. Tình hình chưa sáng lắm, vì hôm qua lại vào thêm 100 thương binh nữa mà chưa thay băng cho ai được. Chỉ có 3-4 quân y sĩ còn số hộ sỹ thì mới lấy ở dân công lên làm thế nào mà nắm tình hình được. Tiêu chuẩn ít quá”.

Nhưng càng gần đến tháng 5 tình hình càng khó khăn hơn. Ghi chép ngày 6-5 của bác sĩ Tôn Thất Tùng: “Được báo cáo cả bệnh viện chỉ còn 10 cân bông cho 600 thương binh, kể cả mổ xẻ. Bệnh viện DT1: chống đùn thương binh chưa mổ; chống ruồi, chống dòi; chống mưa, chống dột, chống cháy rừng; chống thiếu bông, gạc, thuốc men…”

Dẫu biết rằng, trong cuộc chiến sự hi sinh luôn thường trực song bác sĩ Tôn Thất Tùng đã khóc, đã xót xa cho những hy sinh, những cơn đau thể xác của bộ đội nơi tiền tuyến, trong các giao thông hào. Trong nhật ký ngày 5-5-1954, ông viết: “Bây giờ sống lại một đời quá giản dị, mổ, xem thương binh, lại mổ. Bao nhiêu cảnh tượng buồn bã, đau đớn trong khi tranh đấu, có khi không hy vọng với cái chết. Hôm qua mổ một anh không đầy 20 tuổi. Anh người đàng trong, nói tiếng bẹ bẹ: “Anh đừng làm tôi đau mà tội tôi”. Bụng anh thủng, thối cả ruột, cả bụng, tiêm hết cả thuốc, mổ cho đến cùng, không chắc cứu vãn anh được. Có lẽ không có cuộc chiến đấu vĩ đại này, có lẽ không bao giờ mình rõ sự anh dũng của dân tộc ta, một dân tộc anh hùng”.


Nghị định do Đại tướng Võ  Nguyên Giáp ký tặng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất cho bác sĩ Tôn Thất Tùng, 7-1954


Trong những ngày ấy, bác sĩ Tôn Thất Tùng cùng với các bác sĩ: Từ Giấy, Phạm Gia Triệu, Nguyễn Dương Quang, Vũ Văn Cẩn… luôn túc trực ngày đêm để mổ, điều trị cho thương binh, sẵn sàng làm bất cứ nhiệm vụ gì được giao. Ai cũng quyết tâm, ai cũng vững tin về thắng lợi. “Trong chiến CZ (Chiến dịch - BT) này mổ ngày ít hơn mổ đêm. Tàu bay địch rất lẻ tẻ từ sáng cho đến trưa, chỉ giám hoạt động lúc chiều và tối… Đi đêm ở đây là một việc khổ, đêm tối không thấy cách một thước, đường trèo leo trên 45 độ, đá ngổn ngang, quanh co trên các bờ suối,… Bóp đèn pin thì là một làn phản đối kịch liệt vì tàu bay cứ ì ì trên đầu. Thà đi ban ngày còn hơn”[11].

Chứng kiến lời thề của những người lính với 3 quyết tâm: “Tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc, lập chính quyền nhân dân rồi mới trở về” nên bác sĩ Tôn Thất Tùng càng vững tin cuộc chiến này sẽ sớm kết thúc: “Hy vọng 3-4 tháng nữa mới về”. Trong những ngày cuối chiến dịch, niềm tin chiến thắng ngày càng rõ rệt và bác sĩ Tôn Thất Tùng đã nghĩ đến việc mình sẽ làm sau khi dành được chiến thắng: “Bây giờ đặt thử câu hỏi: Mình về Hà Nội sau hòa bình thì làm gì? Chắc là đi thăm các nhà quen, đi thăm các hàng phở, bún chả,… nhưng chắc đầu tiên đi chiếm nhà thương nào to và đẹp nhất để mổ xẻ cho anh em thương binh, chữa lại các vết thương đau đớn mà hoàn cảnh mới cho phép chữa một ít thôi… Trong tâm hồn bây giờ cũng như một bãi sa mạc khao khát nước, chỉ có tình yêu nhân dân, yêu thương binh”.

Và rồi, thời khắc lịch sử cũng đã đến, ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ chấm dứt, chiến thắng thuộc về quân và dân ta. Sự kiện hào hùng ấy được bác sĩ Tôn Thất Tùng ghi lại: “De Castries bỏ vacation radio với Hà Nội, treo cờ trắng rồi ra hàng. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã kết liễu. Trân (Tôn Nữ Ngọc Trân - BT), Bách (Tôn Thất Bách - BT), Hồ (Vi Nguyệt Hồ - BT), chiến sĩ Điện Biên Phủ đã chiến thắng!”.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, bác sĩ Tôn Thất Tùng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký giấy tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất cùng sự ghi nhận những đóng góp: “Nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, tận tâm cứu chữa thương binh tại mặt trận; Tận tụy giúp đỡ Cục Quân y tổ chức các đội điều trị, hướng dẫn các bác sĩ và y sĩ cứu chữa thương binh”. Có lẽ với bác sĩ Tôn Thất Tùng điều quan trọng hơn tất cả đó là ông đã được sống, chiến đấu, được góp phần mình làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc Việt Nam trong những ngày ở Điện Biên Phủ năm 1954.

Nguyễn Thanh Hóa (giới thiệu)

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 


[1] Trích Nhật ký ngày 2-4-1954

[2] Trích Nhật ký ngày 2-4-1954

[3] Trích nhật ký ngày 8-4-1954

[4] Trích Nhật ký ngày 9-4-1954

[5] Trích Nhật ký 3-5-1954

[6] Trích Nhật ký 3-5-1954

[7] Trích trong Nhật ký ngày 30-3-1954

[8] Trích trong Nhật ký ngày 6-4-1954

[9] Trích Nhật ký ngày 3-4-1954

[10] Trích Nhật ký ngày 3-4-1954

[11] Trích Nhật ký 5-4-1954

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin:
close

Thông báo