18/09/2019 5:20:22 CH - Những cảm xúc đọng lại

18/09/2019 11:37:52 SA - Kết nạp hội viên đặc biệt

17/09/2019 9:19:15 SA - Tưng bừng ngày khai trương

16/09/2019 4:56:57 CH - Quà mừng sinh nhật

16/09/2019 4:43:30 CH - Vì say sóng

12/09/2019 9:22:56 SA - Nguồn cảm hứng bất tận

Niềm tin của một trí thức
Cập nhật lúc: 17:47, Thứ Hai, 07/04/2014 (GMT+7)

Là một trí thức tiêu biểu thời đại Hồ Chí Minh, Giáo sư Tôn Thất Tùng luôn có lòng tin tưởng vào đường lối giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước của Đảng. Niềm tin ấy đã giúp ông khám phá những chân trời mới, vươn tới những đỉnh cao trong khoa học.

Sau hơn 30 năm đi theo cách mạng, trực tiếp tham gia và góp sức lực của mình vào cả 2 cuộc kháng chiến, hơn ai hết, GS Tôn Thất Tùng hiểu được giá trị của độc lập, tự do. Nhìn lại chặng đường đấu tranh ấy, trong bản thảo bài tham luận “Chúng tôi tin tưởng vào đường lối lãnh đạo khoa học của Đảng", với tư cách là một trí thức, một nhà khoa học, GS Tôn Thất Tùng đã cho rằng, những thành công của cá nhân ông cũng như của nhiều trí thức có được là bởi nhờ có lòng tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những trí thức được Chủ tịch Hồ Chí Minh giác ngộ và đi theo phục vụ Cách mạng từ những ngày đầu thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thấm nhuần con đường mà Đảng và Bác Hồ vạch ra: Đó là một con đường khó khăn và gian khổ, mà chỉ những người có quyết tâm cách mạng mới làm được.

Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, GS Tôn Thất Tùng đã tự đặt ra nhiệm vụ làm thế nào để đưa ngành Phẫu thuật Việt Nam lên ngang tầm với  y học tiên tiến, và vươn lên chiếm lĩnh những điểm cao của nền Y học. Là một người trực tiếp làm khoa học, GS Tôn Thất Tùng luôn ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với chuyên môn khoa học với sự tin tưởng vào định hướng lãnh đạo của Đảng. Bởi lẽ, đường lối phát triển khoa học, được thể hiện trong nhiều văn bản của Đảng, đã luôn luôn bám sát vào thực tiễn nước ta, đó là nắm vững những quy luật, tham khảo kinh nghiệm của các nước để xây dựng và phát triển nền khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Vào năm 1975, khi nước ta vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ thì ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã xây dựng cho họ một nền khoa học vững chắc, có nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên hoàn cảnh phát triển của họ hoàn toàn khác so với điều kiện của nước ta, họ đã khởi đầu công việc nghiên cứu khoa học từ hàng trăm năm về trước, trong khi đó Việt Nam phải trải qua hơn 80 năm thuộc Pháp, rồi hơn 30 năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, vừa đánh giặc, vừa xây dựng đất nước.

Trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước như vậy, việc tìm ra đường đi phù hợp, huy động được trí tuệ, sức mạnh của nhân dân để giải quyết các vấn đề về kinh tế, văn hóa, khoa học càng phải được chú trọng. Theo GS Tôn Thất Tùng, đường lối cơ bản của Đảng lúc ấy “là giải quyết sự mâu thuẫn sâu sắc giữa ý muốn của chúng ta và hoàn cảnh nghèo nàn của thu nhập quốc dân bằng tài năng tổ chức, nhiệt tình cách mạng dựa trên trí tuệ thông minh của dân tộc ta”[1].

Tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị khách nước ngoài thăm Bệnh viện Việt- Đức,
khoảng những năm 1950. GS Tôn Thất Tùng (ngoài cùng bên phải)

Có thể nói, một trong những thành tựu về Y học của Việt Nam được giới Y học thế giới biết đến vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, đó chính là: Phương pháp cắt gan mới của GS Tôn Thất Tùng - Phương pháp cắt gan khô sau đó được đặt theo tên ông: “Phương pháp Tôn Thất Tùng”. Vậy, tại sao GS Tôn Thất Tùng lại chọn gan là lĩnh vực nghiên cứu chính để đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu mà không phải là tim, theo hướng của tất cả các nhà phẫu thuật trên thế giới lúc ấy đang đi sâu vào nghiên cứu? Lý giải cho điều này, ông viết: “Trước hết là vì đi vào mổ tim, chúng ta phải phụ thuộc rất nhiều vào một kỹ nghệ cao (đòi hỏi máy móc, công nghệ phức tạp) mà nước ta chưa xây dựng được. Sau nữa, vì Việt Nam là một nước nhiệt đới, chúng ta có nhiều kinh nghiệm nhất về các bệnh gan”[2]. Từ nhận định đó, GS Tôn Thất Tùng đặt ra vấn đề: tìm một phương pháp hiện đại để cắt gan nhanh hơn, tốt hơn phương pháp kinh điển mang tên Lortat-Jacob[3]. Phương pháp kinh điển chú ý vào tìm các mạch máu ở ngoài gan trước khi cắt. Điều này rất khó vì các mạch máu ở ngoài gan quá ngắn hay thay đổi vị trí cho nên thời gian cho mỗi ca phẫu thuật cắt gan kéo dài trung bình từ 3 đến 6 tiếng. Theo GS Tôn Thất Tùng là phải tìm trước các mạch máu, các ống gan, buộc chúng lại trước khi cắt bỏ phần gan bị hỏng một cách an toàn, có chủ đích thay vì phải cắt vu vơ, không theo phân chia của các mạch máu. Ông đã đảo ngược lại quy trình phẫu thuật theo "truyền thống" và đưa ra giải pháp “nếu tìm các mạch máu khó khăn thì nên đi từ trong gan ra, qua gan theo một rãnh không chảy máu, các mạch máu ở trong gan rất dài, rất rõ để tìm kiếm bằng ngón tay của người làm phẫu thuật”[4].

Giáo sư Tôn Thất Tùng gọi phương pháp cắt gan mới là “một phát minh cách mạng”, vì nó làm thay đổi hẳn suy nghĩ thông thường của những nhà phẫu thuật. Ngay trong năm 1962, trên tờ The Lancet – một tờ báo Y học có tiếng của Anh đã đăng bài viết của ông: “Người ta có thể cắt tất cả các bộ phận gan, từ thùy gan cho đến phân thùy, chỉ không đầy 10 phút”. Ý kiến đó khiến giới y học nghi ngờ và để minh chứng cho điều mình đã nói, GS Tôn Thất Tùng đã tiến hành thành công nhiều ca phẫu thuật ở các nước như Pháp, Thụy Điển...

Năm 1974, tại một hội nghị khoa học ở Paris, Pháp, sau các báo cáo khoa học của GS Tôn Thất Tùng và các đồng nghiệp người Pháp, chuyên gia có tiếng về gan - Giáo sư Vi-a, chủ tọa hội nghị đã tuyên bố rằng: “Phương pháp (cắt gan) của Việt Nam từ nay đã trở thành một phương pháp kinh điển thứ 2 và cần nên áp dụng vào việc mổ các gan vỡ do chấn thương và các ca khó của gan”[5]. Từ năm 1962 cho đến năm 1976 GS Tôn Thất Tùng đã xử lý hơn 600 trường hợp cắt gan, một con số kỷ lục trong y học thế giới.

Thành công tiếp theo trong y học của Giáo sư Tôn Thất Tùng, đó là biện pháp phẫu thuật kết hợp điều trị miễn dịch để điều trị ung thư gan.

Theo GS Tôn Thất Tùng, ung thư gan là căn bệnh rất phổ biến ở nước ta, cắt được ung thư bằng cách bỏ đi một nửa gan là phương pháp đem lại kết quả tương đối tốt hơn so với các phương pháp dùng tia X hay hóa học. Tuy nhiên nhiều bệnh nhân khi phát hiện bệnh thì các tế bào ung thư phần lớn đã ăn lan ra hai lá gan, và có trên 80% trường hợp khi tiến hành phẫu thuật gan buộc phải giữ nguyên hiện trạng hoặc cố ngăn chặn các tế bào ung thư phát triển bằng cách buộc động mạch gan, hay truyền hóa chất vào người hoặc các mạch gan. Vào những năm 1970, theo các tài liệu của Mỹ, Nhật Bản, Anh thì số những bệnh nhân ung thư gan được điều trị theo các cách trên chỉ có 6% sống không quá một năm và không có ai sống quá hai năm.

Trong thập niên 70 của thế kỷ trước, ở Bệnh viện Việt - Đức số bệnh nhân bị ung thư gan khá nhiều, tương đương với số bệnh nhân bị ung thư dạ dày. Phần lớn bệnh nhân khi được phát hiện, các tế bào ung thư đã di căn cả hai thùy gan. Sau nhiều năm nghiên cứu, đến năm… GS Tôn Thất Tùng và các cộng sự đã đưa ra biện pháp “có thể dùng các thuốc tăng cường miễn dịch phối hợp với việc phẫu thuật cắt bỏ phần lớn của u gan để giảm số tế bào ung thư xuống mức tối thiểu”. Nhưng theo ông, biện pháp này đã đặt ra một vấn đề đó là "phải đảo lộn sự hiểu biết kinh điển về ung thư: người ta cần tuyệt đối cắt một bộ phận ung thư khi bệnh này đã ăn lan ra cả hai bên, vì lý luận kinh điển nói rằng ung thư sẽ phát triển nhanh chóng và sớm giết người bệnh. Nhưng chúng tôi tin vào phương pháp miễn dịch (phối kết hợp điều trị và dùng thuốc miễn dịch) của chúng tôi, có thể diệt các tế bào di căn, cho nên tôi mới đề xướng ra phương pháp cắt đại bộ phận ung thư phối hợp với việc dùng các thuốc miễn dịch”[6]. Kết quả điều trị bệnh qua công trình nghiên cứu của GS Tôn Thất Tùng đã đạt được những thành công mà đến thời điểm đó, như ông cho biết: đó là một kỷ lục chưa bao giờ từ trước tới nay thấy nêu trên các báo y học: 24% bệnh nhân bị ung thư gan sống hơn 1 năm, 12% sống hơn 2 năm, 9% sống hơn 3 năm và 6% sống hơn 4 năm.

Hơn 30 năm miệt mài, nghiên cứu khoa học với những nỗ lực không mệt mỏi, GS Tôn Thất Tùng đã có nhiều những thành công trong lĩnh vực y học. Theo ông, điều đó đã chứng minh rằng một nước lạc hậu, điều kiện vật chất thiếu thốn, nhưng với nhiệt tình cách mạng và cống hiến, người trí thức có thể vượt qua mọi khó khăn và đạt được những thành công không thua kém so với các nước tiên tiến.

Lý giải cho những thành công trong khoa học mà ông đã đạt được, Giáo sư Tôn Thất Tùng khẳng định: “Nhờ nắm vững đường lối của Đảng, tôi đã không nao núng trước những khó khăn hay những lời chỉ trích. Nhiệt tình cách mạng phải kèm theo đạo đức cách mạng để giữ vững sự trung thực của một người làm khoa học, không dễ dàng giao động trước thất bại hay thành công”. Ở một khía cạnh khác, ông nhấn mạnh: “Chúng ta cũng phải nhận định rằng, nhiệt tình cách mạng không phải chỉ là một triết lý trong sách vở, nó là ngọn lửa hồng, chỉ soi sáng những tâm hồn cách mạng, trong một bầu không khí cách mạng”[7].

Giáo sư Tôn Thất Tùng không là một đảng viên, ông là một trí thức được Chủ tịch Hồ Chí Minh giác ngộ và tin tưởng, và chính sự tin tưởng vào đường lối cách mạng cộng với lòng nhiệt huyết của bản thân, ông đã trọn đời đi theo, phục vụ cách mạng với niềm đam mê nghiên cứu, khám phá những chân trời mới, và đã vươn tới những đỉnh cao trong khoa học. Năm 1969 - khi Bác Hồ ra đi về với Tiên tổ, với niềm tin ấy thay mặt lớp trí thức GS Tôn Thất Tùng đã khẳng định: “nguyện làm hết sức mình để góp phần xứng đáng vào việc phát triển nền y học xã hội chủ nghĩa của nước nhà, đền đáp công ơn trời biển của Bác đã từng quan tâm chăm sóc và giáo dục chúng tôi”[8]. Sau khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, thêm một lần nữa ông nhấn mạnh: “Chúng tôi đặt hết cả lòng tin vào sự lãnh đạo khoa học của Đảng, hứa sẽ thành công trong công việc sắp đến là xây dựng một nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa hùng cường, giàu mạnh và hạnh phúc”[9].

Đối với các trí thức hôm nay, những suy nghĩ và hành động của GS Tôn Thất Tùng lúc sinh thời, chắc chắn vẫn là những bài học có ý nghĩa: Trong gian khó, người trí thức chân chính vẫn luôn tìm được nguồn cảm hứng và động lực để vươn tới, chiếm lĩnh đỉnh cao trong khoa học.

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 

Tài liệu tham khảo: 

1. Bản thảo bài tham luận của GS Tôn Thất Tùng về vai trò của trí thức, được viết khoảng 1965-1966.

2. Bản thảo bài phát biểu của GS Tôn Thất Tùng: “Bác đã mất nhưng sự nghiệp của Bác, vị trí của dân tộc Việt Nam càng lên”, 1969.

3. Bản thảo bài tham luận của GS Tôn Thất Tùng được phát biểu tại Hà Nội, trước thềm Đại hội Đảng IV, 1976: “Chúng tôi tin tưởng vào đường lối lãnh đạo khoa học của Đảng”.

4.http://cpd.vn/news/detail/tabid/77/newsid/937/Default.aspx?seo=%E2%80%9CPhuong-phap-Ton-That-Tung%E2%80%9D-den-voi-ban-be-quoc-te.

5. Đường vào khoa học của tôi. H-Kim Đồng, 2003.



[1][1] Bản thảo bài tham luận của GS Tôn Thất Tùng được phát biểu tại Hà Nội, trước thềm Đại hội Đảng IV, 1976: “Chúng tôi tin tưởng vào đường lối lãnh đạo khoa học của Đảng” (Hiện đang lưu giữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam).

[2] Như trên.

[3] Do bác sĩ Lortat-Jacob đề xướng và được công nhận sau Hội nghị khoa học ở Copenhagen năm 1952.

[5]  Như trên.

[6]  Như trên.

[7]  Như trên.

[8] Bản thảo bài phát biểu của GS Tôn Thất Tùng: “Bác đã mất nhưng sự nghiệp của Bác, vị trí của dân tộc Việt Nam càng lên”, 1969.

[9] Bản thảo bài tham luận của GS Tôn Thất Tùng được phát biểu tại Hà Nội, trước thềm Đại hội Đảng IV, 1976: “Chúng tôi tin tưởng vào đường lối lãnh đạo khoa học của Đảng”.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: