28/11/2019 2:03:02 CH - Tìm về di sản của cha

21/11/2019 9:05:31 CH - Bật mí sự kiện năm 1951

20/11/2019 9:33:12 SA - Đường vào tuyến lửa

Miền ký ức sâu thẳm
Cập nhật lúc: 15:25, Thứ Sáu, 13/09/2013 (GMT+7)

Hơn hai mươi năm nay, những ký ức về Anh tưởng đã ngủ yên trong tôi. Vậy mà đến một ngày giữa năm 2011, một chị tự giới thiệu là cán bộ của Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam đến nhà tôi, hỏi có phải đây là nhà GS Trần Linh Sơn không? Tôi hơi ngỡ ngàng, một lúc sau mới định thần lại. Và câu chuyện giữa chúng tôi bắt đầu. Miền ký ức sâu thẳm về Anh thức dậy...

Từ thư sinh trong nhung lụa trở thành chiến sĩ cách mạng

Anh là Trần Linh Sơn – người bạn đời của tôi. Anh sinh năm 1923 trong một gia đình Việt kiều yêu nước ở tỉnh Savanakhet (Lào). Năm 1946 chuyển qua Thái Lan, thân phụ và thân mẫu anh vốn là dân nghèo quê Lệ Thủy, Quảng Bình sang Lào lập nghiệp. Nhờ cần kiệm và lao động cật lực dần khấm khá lên. Khi anh ra đời thì gia đình đã nổi tiếng giàu có và nhân đức.

Anh là con trai duy nhất, lại là con cầu tự nên được bố mẹ đặc biệt nuông chiều, nhưng không sa vào ăn chơi như thường thấy ở các công tử nhà giàu. Anh rất chăm học và học rất giỏi. Xong bậc Tiểu học ở Lào, vì ở đó không có bậc Trung học nên Anh về Huế vào học ở các trường Trung học nổi tiếng tại đó như Phú Xuân, Khải Định, Quốc học. Kết thúc khóa học Anh bị nhỡ giờ thi vì một sự cố nhỏ. Biến cải rủi thành cái may, Anh vội ghi tên vào trường Dòng Pellerin. Chương trình 3 năm chuyên khoa Anh học nước rút trong 1 năm. Nhờ thế sau khi thi đỗ Tú tài toàn phần, Anh kịp ra Hà Nội vào học trường Đại học Đông Dương, Ban Luật, khóa 1942-1946. Đó cũng là khóa Đại học Luật đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Anh và các bạn đồng môn vinh dự được là những Cử nhân Luật đầu tiên của đất nước sau Cách mạng tháng Tám.

Như tuyệt đại đa số Việt kiều sinh sống ở Lào, gia đình Anh tích cực tham gia vào phong trào yêu nước ủng hộ kháng chiến theo lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Đông Dương. Thực dân Pháp biết điều đó nên đàn áp Việt kiều ở Lào rất dữ. Để tránh sự truy sát của chúng, năm 1946 Việt kiều Lào trong đó có gia đình Anh phải tản cư sang Thái Lan nhưng vẫn giữ truyền thống yêu nước.

Bản thân Anh cũng sớm giác ngộ cách mạng. Còn rất trẻ, 20 tuổi Anh đã được tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành Hội Việt kiều yêu nước tỉnh Savanakhet, là đại biểu Ủy ban Việt kiều trong Ủy ban Lào độc lập, tham gia việc vận chuyển vũ khí đạn dược của Việt kiều về nước ủng hộ kháng chiến. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Anh cũng như phần lớn thanh niên lúc đó đã xếp bút nghiên sẵn sàng hòa mình vào cuộc chiến tranh vệ quốc với tâm thế phơi phới của tuổi trẻ sẵn sàng hiến dâng thân mình cho Tổ quốc không một chút do dự. Ngay từ những ngày đầu về nước, Anh đã tham gia vào quân đội để được trực tiếp cầm súng. 22 tuổi anh được cử làm chính trị viên Liên quân Lào – Việt chiến đấu lại Mặt trận Sêpôn đường số 9.

Từ một thư sinh sống trong nhung lụa, Anh đã có những năm tháng một mình một ngựa len lỏi giữa đại ngàn thượng du Thanh Hóa tổ chức công cuộc kháng chiến của vùng dân tộc ít người ở đó với tư cách đặc phái viên quân sự của Ủy ban kháng chiến tỉnh Thanh Hóa. Cũng có lúc Anh tham gia đoàn thanh niên xung phong sản xuất với mong muốn gột rửa những tính cách không hay của tầng lớp Tiểu tư sản như “xa rời quần chúng, ngại lao động chân tay..”. Vượt qua những thử thách đó, Anh được tín nhiệm giới thiệu ra An toàn khu Việt Bắc vào công tác tại Văn phòng Tổng Bí thư Trường Chinh, phụ trách kinh tế - tài chính. Cũng chính từ đó Anh được cử vào đoàn cán bộ khoa học – kỹ thuật trẻ đầu tiên của Việt Nam ra nước ngoài (Liên Xô) học tập và nghiên cứu năm 1951. Đoàn gồm 21 người thuộc nhiều lĩnh vực: Y dược, Mỏ, Địa chất, Kinh tế, Kiến trúc, Nông nghiệp, Công nghiệp..., duy nhất có Anh học về Tài chính.

Không phụ sự kỳ vọng của đất nước, của nhân dân, sau gần 6 năm miệt mài học tập, tất cả đã trở về nước và mang theo hành trang tri thức mới rất có ích cho Tổ quốc. Các anh trở thành những cánh chim đầu đàn, những nhà khoa học hàng đầu trong các lĩnh vực mà mình theo đuổi.

Riêng anh Trần Linh Sơn được phân về Học viện Tài chính Mátxcơva làm Nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế ngân hàng. Lúc đó Anh là người Việt Nam duy nhất trong số nghiên cứu sinh người nước ngoài ở Học viện. Vì vậy, sau khi hoàn thành khóa học Anh trở thành người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Kinh tế tại Học viện và cũng là người Việt Nam đầu tiên có học vị ấy ở nước ngoài. Thời ấy, điều đó được xem như một sự kiện nên 2 báo lớn của Liên Xô và Việt Nam là Sự thật và Nhân dân đã đưa tin trang trọng.

Người thầy đầu tiên của ngành Ngân hàng

Anh Linh Sơn trở về nước năm 1956, làm việc tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Trung ương với cương vị Giám đốc Vụ Tín dụng Công Thương nghiệp với một phần công việc chính nữa là truyền thụ những kiến thức và nghiệp vụ ngân hàng Xã hội chủ nghĩa vừa mang về từ nước bạn mà toàn ngành đang nóng lòng chờ đợi. Trước khi anh Linh Sơn về, ngay cả các cán bộ ngành Ngân hàng lúc đó mới thành lập, cũng chưa thật hiểu chức năng của ngành, thậm chí người ta còn nghĩ về Ngân hàng na ná như một kho bạc. Trong Hồi ký của ông Thanh Duy, một cán bộ Ngân hàng lão thành nhắc tới kỷ niệm: “Trong đợt tuyển chọn cán bộ cho ngành lúc mới thiết lập, đồng chí cán bộ phụ trách việc tuyển chọn nói với họ: Các anh chớ có nghĩ Ngân hàng chỉ là nghề đếm tiền, giữ tiền và ghi chép con số. Chúng ta có một cán bộ có bằng Cử nhân Luật hiện đang học năm sáu năm ở Liên Xô, mỗi lần viết thư về đều kêu học rất khổ, tiếp thu rất khó. Năm 1956, các cán bộ ngân hàng lần lượt về tập huấn nghiệp vụ tại Ngân hàng Trung ương và lúc đó tất cả mới có cơ hội gặp “nhân vật đặc biệt” được nhắc tới trước đây: Đó là anh Trần Linh Sơn kính mến – người thầy đầu tiên của ngành Ngân hàng”. Tác giả Thanh Duy cho rằng “Sau trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, ngành Ngân hàng chúng ta có được Trần Linh Sơn – một cán bộ trẻ vừa 6 năm tây du từ đất nước Lenin trở về quả thật là một niềm tự hào của ngành, của cả miền Bắc Dân chủ Cộng hòa đang lúc “nhân tài như lá mùa thu”.

Anh về năm 1956, cuối năm 1957 chúng tôi làm lễ thành hôn (tối 9-11). Một đám cưới giản dị như bao đám cưới thời đó được tổ chức ngay tại phòng khách của nhà riêng Tổng Giám đốc Lê Viết Lượng... Khách của anh là dăm bạn đồng nghiệp cùng cơ quan, có thêm ông bà Lê Viết Lượng, khách của tôi là mươi cô bạn học cùng lớp cuối cấp ba trường Phổ thông dành cho con em từ vùng kháng chiến về (nay là trường Việt Đức) với vài đĩa bánh kẹo, thuốc lá và ấm trà Thái Nguyên. Cưới xong ai về nhà nấy. Vì ngay sáng hôm sau tôi phải đến trường học để chuẩn bị thi tốt nghiệp THPT, còn anh phải xuống Hải Phòng tiếp tục bài giảng còn dở dang trước hôm cưới.

Các học viên từng dự các lớp bồi dưỡng cán bộ trung cao cấp nghiệp vụ ngân hàng ở Hải Phòng hồi ấy còn nhớ rõ hình ảnh người thầy giáo trẻ sôi nổi, tràn đầy nhiệt huyết và năng lượng, say sưa vừa dịch tài liệu vừa giảng. Lúc đó chưa có giáo trình chuyên môn bằng tiếng Việt, tài liệu anh sử dụng là từ nguyên bản tiếng Nga do các Viện sĩ, Giáo sư nổi tiếng của Học viện Tài chính Mátxcơva viết. Anh nói nhanh như điện với âm lượng rất lớn không cần tới micro. Mỗi tiết học quả thật là một cuộc đánh vật toát mồ hôi đối với cả thầy và trò. Thầy thì mong muốn truyền thụ thật nhanh khối kiến thức đồ sộ về thời kỳ quá độ, về Tiền tệ Tín dụng Xã hội chủ nghĩa, về Tư bản chủ nghĩa, Kinh tế Chính trị học, Triết học... Còn trò ra sức ghi chép, cố hết sức tiếp thu kịp những bài giảng của thầy. Ông Văn Lệ - nguyên Chủ nghiệm Khoa Tại chức trường Nghiệp vụ cao cấp Ngân hàng Hà Nội trong bài viết về anh Trần Linh Sơn nhan đề “Một đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp đào tạo của ngành” kể lại kỷ niệm những ngày ấy: “Thầy Trần Linh Sơn từ Liên Xô về nước, là người đầu tiên đưa lý luận về tín dụng ngắn hạn XHCN vào Việt Nam... Mỗi buổi giảng của thầy nhà trường bố trí một vài giáo viên ngồi nghe, ghi chép để sau đó tập hợp lại, tu chỉnh dần dần, qua hiệu đính cuối cùng của thầy các bộ giáo trình đầu tiên quan trọng nhất là về Lưu hành tiền tệ và Tín dụng XHCN và TBCN đã hình thành hoàn chỉnh. Các bộ giáo trình ấy mang tính chính xác và khoa học cao, được nhiều cán bộ giảng dạy Khoa Tài chính ngân hàng một số trường Đại học tin cậy, sử dụng có hiệu quả...Đến nay ngồi nghĩ lại công trình đào tạo gây dựng cho ngành một đội ngũ cán bộ có trình độ nghiệp vụ trung học, đại học, trên đại học chiếm 50% quân số của ngành, tôi không khỏi cảm kích nhớ đến công lao góp phần đáng kể của cố GS Trần Linh Sơn”.

Sau này, khi đất nước đã hòa bình, ngành Ngân hành phát triển lớn mạnh hơn nhiều, cán bộ ngành được cử sang nước ngoài học tập nâng cao, trình độ trở về nước cùng tham gia giảng dạy nghiệp vụ. Nhưng không ai quên người thầy đầu tiên Trần Linh Sơn. Trong cuốn “Lê Viết Lượng – một nhân cách lớn” của nhà báo Trần Việt có đoạn: “Bậc thầy nổi tiếng nhất còn lưu lại danh thơm trong các thế hệ cán bộ ngân hàng là Trần Linh Sơn, một trợ thủ đắc lực cho Lê Viết Lượng trong sự nghiệp đào tạo hàng vạn cán bộ ngân hàng vừa hồng vừa chuyên... Thật vinh dự cho ngành đã có được một Trần Linh Sơn như một người thầy mẫu mực đã hiến trọn đời mình cho sự nghiệp của ngành”. Năm 1977, anh Trần Linh Sơn được cử giữ chức Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phụ trách lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo. Ngoài công việc ở cơ quan, Anh còn nhận lời thỉnh giảng ở một số trường Đại học lớn và dành thời gian hướng dẫn khá nhiều nghiên cứu sinh trên Đại học làm và bảo vệ luận văn Phó Tiến sĩ, Tiến sĩ. Hàng trăm bài báo Anh viết được đăng ở các báo chuyên ngành trong và ngoài nước.

Năm 1980, trong đợt phong học hàm đầu tiên của Nhà nước Việt Nam XHCN, anh cùng 5 vị chuyên gia kinh tế nổi tiếng là Đoàn Trọng Truyến, Đào Văn Tập, Trần Phương (tức Vũ Văn Dung), Mai Hữu Khuê, Nguyễn Tấn Lập, Nguyễn Ngọc Minh được phong hàm Giáo sư. Cho tới khi anh qua đời (1989) anh là Giáo sư đầu tiên và duy nhất của ngành Ngân hàng.

Những năm cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước, đất nước ta chìm vào một cuộc cơn lạm phát trầm trọng, báo chí gọi là “lạm phát phi mã”, cả nền Kinh tế còn non yếu rúng động chao đảo như ngôi nhà tranh trước cơn bão lớn. Anh được cử phụ trách một nhóm gồm nhiều chuyên gia kinh tế giỏi làm việc trực thuộc Chính phủ để tìm phương án cấp cứu. Anh đã chủ trì cuộc Hội thảo khoa học chống lạm phát. Trong Hồi ký “Chung dòng tưởng nhớ”, ông Thanh Duy viết về những ngày cuối của anh ở Bệnh viện Hữu nghị, ghi lại: “Anh nằm trên giường bệnh, mắt trũng sâu thâm tím vì xuất huyết, phát âm đã đuối sức nhiều. Bất chợt thấy chúng tôi vào thăm, anh cố gắng nhỏm dậy mừng rỡ bắt tay và hỏi luôn “Cuốn sách về cuộc Hội thảo đã in xong chưa? Tốt không? Nhớ chuyển cho mình xem nhé!” (thì ra dù đang mang trong mình trọng bệnh, anh vẫn đau đáu về công việc). Chúng tôi vui mừng thông báo phương án đã được Thủ tướng Đỗ Mười phê duyệt. Anh cười mãn nguyện. Chỉ một thời gian ngắn sau đó con ngựa lạm phát đã bị chặn đứng nhưng Anh không được nhìn thấy thành quả mà Anh và cộng sự có phần đóng góp quan trọng. Bởi vì chỉ 2 ngày sau khi chúng tôi vào thăm, ngày 23-3-1989 Anh đã ra đi mãi mãi”. Anh hẳn đã rất thanh thản nhẹ bước vào cõi thiên thu sau khi dâng hiến trọn đời cho sự nghiệp của ngành Ngân hàng.

Di sản còn mãi

Trong ký ức những người đồng nghiệp, anh Linh Sơn là một người vô tư, bộc trực, sôi nổi, giản dị, không bao giờ thấy anh loay hoay toan tính một âm mưu gì, đặc biệt vì danh lợi, vật chất. Anh giữ mình thanh sạch, liêm khiết.

Ba năm sau ngày Anh mất, các đồng sự làm việc cùng thời với Anh vẫn còn nhắc tới Anh như một hình mẫu về sự liêm khiết, công tâm. Họ dùng từ “hiếm có” để nói về đạo đức của Anh nhất là khi phải làm việc trong một môi trường nhạy cảm, nhiều cám dỗ như ngành Ngân hàng. Cũng với mong muốn các con sống tự lập bằng chính sức lao động của mình, Anh đã từ chối thừa kế khối tài sản lớn bố mẹ đem từ Thái Lan về. Trong một cuốn sổ ghi chép, ngày 8-8-1983 Anh viết: “Hạnh phúc lớn nhất của tôi là: Đưa lại ánh sáng, niềm vui, niềm tin, hạnh phúc, trí tuệ, sự phấn khởi, sự trong suốt, sự ung dung thư thái, ý chí phấn đấu vươn lên phía trước cho mọi người”. Ngày tiễn đưa Anh, dưới trời mưa tầm tã, hàng trăm, hàng trăm học trò của anh nay đã là những cán bộ nắm giữ nhiều cương vị quan trọng trong ngành đã đến vĩnh biệt người thầy kính yêu. Nhiều dòng tưởng nhớ xúc động được ghi trong sổ vàng bày tỏ lòng tiếc thương vô hạn. Ông Dương Đình Di – một học trò cao tuổi của anh đã viết:

“Ba mươi năm trước mới gặp anh

Cảm phục tài ba trí thông minh

Say mê nghiên cứu quên ngày tháng

Như ong nhả mật chẳng nhớ mình

Yêu nước thương nòi anh ra đi

Hiến dâng cho nước nào quản chi

Mọc giữa bùn lầy sen vẫn ngát

Tin nghĩa kiên trung dạ chẳng suy

Anh Linh Sơn hỡi hãy ngủ yên

Ánh dương đã hửng xóa màn đêm

Lịch sử chuyển mình xoay vận nước

Anh cứ yên vui cõi thần tiên”

Trong cuộc sống, thứ Anh yêu thích đến mức đam mê là sách, hàng ngàn cuốn sách đủ các thể loại lĩnh vực: khoa học, văn học nghệ thuật chiếm phần lớn diện tích phòng ở, tràn cả lên giường. Dù đi đâu trong hành lý mang về của Anh đều có sách. Anh dành hơn ½ tiền lương để mua sách. Hồi bao cấp, muốn mua một cuốn sách hay, sách quý cũng phải có thẻ đặc biệt (giống như tem phiếu) Anh xin được một chiếc thẻ như vậy, và cứ sau giờ làm việc, chiều nào Anh cũng xách chiếc xe đạp cà tàng đi ra hai hiệu sách lớn nhất của Hà Nội bấy giờ là Nhân dân và Ngoại văn đều ở phố Tràng Tiền đứng hàng giờ ở các giá sách săn tìm sách mới. Có những cuốn sách Anh phải đặt mua ở nước ngoài mà mỗi cuốn giá bằng cả chỉ vàng (như mỗi cuốn trong bộ Đại từ điển Bách khoa toàn thư của Nga). Mỗi lần mua được cuốn sách hay, Anh hớn hở như bắt được vàng, nâng niu, rồi nhẹ nhàng giở từng tờ như sợ làm đau nó, sau đó đem bọc bìa lại rồi mới đọc. Mượn sách của thư viện về nếu thấy chỗ nào rách, Anh lại xuýt xoa tiếc rồi cẩn thận tỉ mỉ dán lại từng tờ. Hồi học ở Liên Xô về, hành lý của Anh không có quạt máy, radio, máy quay đĩa, tủ lạnh... mà chỉ là mấy tạ sách. Sau ngày giải phóng miền Nam mỗi lần đi công tác ở thành phố Hồ Chí Minh Anh lại tranh thủ thời gian rỗi lùng tìm những cuốn sách quý đã từ lâu mong ước mà miền Bắc trong chiến tranh không có điều kiện xuất bản. Mỗi lần về tới Hà Nội tủ sách của chúng tôi lại được bổ sung một lô sách quý hiếm. Những ngày cuối đời nằm trong Bệnh viện vì mắc bệnh hiểm nghèo, sốt rất cao, đầu đau như búa bổ nhưng nghe nói có quyển từ điển Pháp Việt mới xuất bản, Anh nhắc tôi nhớ mua cho bằng được. Tôi cố gắng làm theo lời Anh dặn, nhân đó lại mua thêm được cuốn Liêu trai chí dị, đem vào khoe. Nhìn vẻ mặt rạng rỡ của Anh, tôi thương trào nước mắt. Đó là hai cuốn cuối cùng gia nhập vào giá sách của chúng tôi khi Anh còn sống. Chính nhờ sách mà Anh có được một khối tri thức rộng lớn, đa dạng. Ngoài kiến thức về Kinh tế, Anh cũng không bỏ qua các lĩnh vực khoa học cơ bản, Văn học, Nghệ thuật, Y Dược, Lịch sử... Là chuyên gia kinh tế nhưng hễ có thời gian rảnh là Anh tranh thủ tham gia hội thảo về các danh nhân văn hóa, danh nhân lịch sử và thường gây ngạc nhiên thú vị cho những người tổ chức.

Chính nhờ vốn hiểu biết phong phú, sau ngày giải phóng miền Nam, Anh dễ dàng tiếp xúc với các nhà trí thức của chế độ Sài Gòn và trí thức Việt kiều về nước. Họ thừa nhận anh có cái đầu “thiên kinh vạn quyển” và chính vì vậy đã phần nào xóa đi định kiến kỳ thị của họ đối với trí thức XHCN.

Anh mất được ít lâu, năm 1993 tôi và các con chuyển đến chổ ở mới. Ngày chuyển nhà phải thuê riêng một chuyến xe tải chở sách. Nhà mới chật và ẩm thấp, tôi buộc phải chất tất cả sách lên gác xép, việc chăm nom không thể thường xuyên. Lũ mối tai ác đã tấn công vào đống sách không thương tiếc. Nhìn đống sách quý trong đó có những cuốn sách vô giá, đặc biệt có tới 3 bộ Đại từ điển Bách khoa toàn thư bằng tiếng Nga xuất bản 3 thời kỳ, Anh mua được 2 bộ lúc học bên ấy và một bộ đặt mua khi đã về nước, mỗi bộ 15, 16 cuốn dầy nặng hàng kilôgam tất cả đã bị mối xông tơi tả thành một đống giấy vụn nát bét, tôi như bị rơi vào vực thẳm, buồn tiếc ngẩn ngơ, cảm thấy có lỗi lớn với Anh.

Thời gian qua đi, sức khỏe tôi ngày một giảm, nhìn đám sách còn lại nhất là mấy bộ giáo trình anh đã kỳ công thuê đánh máy (thời đó việc in ấn còn vô cùng khó khăn) và đóng xén cẩn thận cùng những kỷ vật Anh để lại, những kỷ vật đã cùng Anh đi suốt cuộc đời, là vô giá đối với chúng tôi, tôi thấy lòng trĩu nặng. Chúng sẽ ra sao một khi tôi cũng đi về thế giới bên kia? Điều không may là các con tôi đều ở xa: con gái định cư ở nước ngoài, con trai định cư ở thành phố Hồ Chí Minh. Tôi thầm mong một phép lạ, một sự may mắn nào đó.

Rồi một ngày giữa năm 2011, có một người đàn bà trẻ đến nhà. Câu hỏi đầu tiên của chị: Đây có phải nhà của GS Trần Linh Sơn? làm tôi ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Đã lâu lắm từ ngày Anh mất mới lại có người lạ hỏi thăm. Chị (mà sau này tôi mới biết là Nhà báo Nguyễn Thị Trâm) tự giới thiệu là người của Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam (một cái tên lạ), tôi mới nghe lần đầu. Nhưng không hiểu sao tôi lại dự cảm một điều tốt lành đang đến. Chị cho biết mục đích của Trung tâm mởi mẻ ấy là đi tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của các nhà khoa học Việt Nam và nếu có thể thì thu thập các kỷ vật, di sản của các nhà khoa học ấy để lưu giữ, bảo quản, trưng bày cho mọi người chiêm ngưỡng và nghiên cứu. Quả không nằm ngoài dự cảm của tôi. Vẻ ngoài khả ái và cách nói chuyện chân thành cởi mở, thân ái của chị ngay lập tức gieo vào tôi sự tin cậy. Tôi đã sẳn sàng để làm việc cùng chị. Những kỷ niệm về Anh Linh Sơn ùa về, buồn vui lẫn lộn, tôi không kìm được nước mắt. Tôi kể với chị những điều tôi biết và tôi nhớ về Anh như muốn trút cả nỗi lòng. Sau đó không lâu chị giới thiệu anh Nguyễn Thanh Hóa – một thanh niên còn rất trẻ nhưng làm việc cẩn trọng và đầy trách nhiệm – những phẩm chất không thể thiếu trong loại công việc này. Tôi càng yên tâm và tin tưởng hơn khi biết được lãnh đạo Trung tâm là những nhà khoa học uy tín, tài năng và tâm huyết như GS.TS Nguyễn Anh Trí – Viện trưởng Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương, người có công phát triển phong trào hiến máu nhân đạo lan rộng ra cả nước, cải thiện tình trạng thiếu máu trầm trọng triền miên lâu nay của ngành Y tế Việt Nam. Ông đã được phong Anh hùng lao động; PGS.TS Nguyễn Văn Huy- nhà bảo tàng học nổi tiếng – nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học đã xây dựng Bảo tàng này thành 1 trong 3 Bảo tàng tốt nhất Việt Nam, và mới đây, 2 trong số 3 bảo tàng này đã được một tổ chức du lịch có uy tín xếp vào top 25 bảo tàng tốt nhất Đông Nam Á. Chị Trâm, anh Hóa và tôi làm việc rất ăn ý. Công việc của Trung tâm triển khai rất nhanh với tinh thần chạy đua với thời gian. Chỉ riêng các nhà khoa học trong Đoàn 21 người đi Liên Xô năm 1951 (Trung tâm đặt ký hiệu là nhóm Liên Xô 1951) đã ra đi gần hết. Nay chỉ còn lại hai người là Thiếu tướng Lê Văn Chiểu và Thiếu tướng Phạm Như Vưu nhưng tuổi đều rất cao, sức khỏe không còn tốt nữa. Người thân của các nhà khoa học ấy, những người hiểu rõ nhất về họ cũng đã không còn nhiều và đều sức yếu vì tuổi già, bệnh tật. Trung tâm đã ra hai cuốn lịch treo về các nhà khoa học, cuốn lịch năm 2013 là chuyên đề về nhóm Liên Xô 1951, trong đó có in thư của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô phúc đáp thư của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc tiếp nhận nhóm Liên Xô 51 và lệnh cho các trường Đại học, Học viện tạo điều kiện tốt nhất để cho nhóm hoàn thành nhiệm vụ. Năm 2011 và 2012, Trung tâm đã ra hai cuốn sách khá đầy đặn viết về các nhà khoa học cùng các kỷ vật của họ.

Cuối năm 2011, Trung tâm tổ chức cuộc gặp mặt thân mật các nhà khoa học còn lại trong nhóm Liên Xô 51 và những người thân của các nhà khoa học đã mất. Nhân dịp đó, chúng tôi được đi thăm phòng Trưng bày các kỷ vật, ở đây ác hiện vật nhiều tên tuổi lớn, là niềm tự hào của khoa học Việt Nam. Tận mắt nhìn thấy những kỷ vật được trân trọng bảo quản mang dấu ấn, cái tâm của những người đang lưu giữ, chúng tôi tin rằng các anh ở thế giới bên kia hẳn phải hài lòng. Gánh nặng từ lâu đeo đẳng trong tâm trí tôi như được trút bỏ. Tôi thấy lòng nhẹ nhàng thanh thản lạ kỳ.

Cuộc gặp diễn ra trong một căn phòng nhỏ giản dị, trang nghiệm, không có những bài diễn văn hoành tráng, lời lẽ to tát nhưng không khí trầm lắng tràn đầy cảm xúc. Tôi ngồi lặng lẽ nghe những người thân của các nhà khoa học đã khuất kể lại kỷ niệm về một thời gian khó, khi các anh mải mê với công việc xa nhà liên miên, mọi gánh nặng gia đình đổ lên vai yếu ớt của vợ. Nghĩ tới 2 lần vượt cạn một mình, tôi thấy vô cùng đồng cảm. Lắng chìm vào miền ký ức sâu thẳm, tôi chợt thấy hiện ra những cái tên quen thuộc của các nhà khoa học tên tuổi: Nguyễn Trinh Cơ, Phạm Đồng Điện, Nguyễn Sĩ Quốc, Hoàng Bình, Nguyễn Văn Tuyên, Lê Duy Thước... là bạn cùng đoàn Liên Xô 51 mà sinh thời anh Linh Sơn hay nhắc tới kèm những mẩu chuyện vui vui. Tôi chưa được vinh dự một lần gặp các anh và tiếc là ngày nay họ đều đã lần lượt dắt tay nhau đi vào cõi vĩnh hằng sau khi rút ruột đến sợi chỉ cuối cùng dâng cho đời.

Tôi lắng nghe những lời phát biểu giản dị mà sâu sắc của PGS.TS Nguyễn Văn Huy “Mỗi câu chuyện, mỗi nhà khoa học sẽ trở thành một sợi chỉ trong tấm thảm muôn màu của một giai đoạn lịch sử của các ngành khoa học và lịch sử nước nhà”. Các anh chị ở Trung tâm đang cố gắng hết mình để từng chút từng chút kỳ công gỡ các sợi chỉ ấy gắn kết chúng lại với nhau cho tấm thảm ngày càng rực rỡ, hoàn thiện để các thế hệ mai sau được chiêm ngưỡng, được tự hào học tập và noi theo. Tôi cũng muốn nhắc lại đôi điều về những kỷ niệm đã xa và nhất là về lòng biết ơn đối với Trung tâm. Nhưng niềm xúc động làm tim tôi nghẹn thắt không nói lên lời.

Những việc mà Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam đã và đang làm thật to lớn và đáng quý biết bao. Nó còn đặc biệt có ý nghĩa trong tình hình hiện nay khi mà xã hội còn có những hiện tượng làm đau lòng những người có lương tâm như việc mua bán cả những thứ thiêng liêng cao quý, là bằng cấp học hàm, học vị, vô hình trung trở thành một sự xúc phạm nặng nề đến các nhà khoa học chân chính. Việc Trung tâm kỳ công tìm kiếm những tư liệu xác thực có giá trị một cách đầy tinh thần trách nhiệm để vinh danh các nhà khoa học chân chính khác nào như một cách đúng đắn nhất để phân biệt đâu mới là vàng và đâu chỉ là than.

Cảm ơn Trung tâm đã cho tôi niềm hạnh phúc to lớn và niềm tin vững chắc rằng đời vẫn nhớ tới các anh – các nhà khoa học chân chính, không có ai và không điều gì bị quên lãng. Di sản các anh để lại sẽ còn mãi.

Tháng 9-2013

Phan Việt Liên

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: