28/11/2019 2:03:02 CH - Tìm về di sản của cha

21/11/2019 9:05:31 CH - Bật mí sự kiện năm 1951

20/11/2019 9:33:12 SA - Đường vào tuyến lửa

Cải tiến nhỏ, ý nghĩa lớn
Cập nhật lúc: 07:40, Thứ Bảy, 31/08/2013 (GMT+7)

Trăn trở với những bất cập trong công tác xét nghiệm những năm 70 của thế kỷ trước, bác sĩ Bùi Huy Phú đã mày mò cải tiến máy xét nghiệm Shundan và thủ thuật chụp cản quang để tăng hiệu quả khám chữa bệnh. Những cải tiến đó, tuy nhỏ về kỹ thuật nhưng lại có ý nghĩa lớn lao trong phục vụ người bệnh.

Tốt nghiệp xuất sắc ngành Nội khoa trường Đại học Y Hà Nội, sinh viên Bùi Huy Phú được trường giữ lại công tác tại Bộ môn Nội. Năm 1974, ngoài việc giảng dạy tại trường, ông còn cộng tác và làm việc tại Bộ môn Dị ứng đóng tại Khoa Da liễu của Bệnh viện Bạch Mai. Tại đây, có một chiếc máy xét nghiệm Shundan do TS Nguyễn Năng An (Chủ nhiệm Bộ môn Dị ứng) mang từ Liên Xô về năm 1964. Máy Shundan được sử dụng để đo Histamin trong huyết thanh nhằm chẩn đoán mức độ dị ứng của bệnh nhân. Trong quá trình làm việc, ông nhận thấy có chiếc máy này để chẩn đoán bệnh cũng là tốt nhưng máy to, cồng kềnh nên khó di chuyển. Bên cạnh đó, qua nhiều năm sử dụng, máy đã cũ độ chính xác giảm làm ảnh hưởng đến chất lượng chẩn đoán. Từ đó, bác sĩ Bùi Huy Phú nảy ra ý tưởng thiết kế một chiếc máy tương tự nhưng khắc phục được những nhược điểm trên. Khi xem xét cấu tạo của chiếc máy cũ, bằng những kiến thức cơ khí sơ đẳng, ông đã cải tiến hai bộ phận chính: Một bộ phận hiển thị các thông số đo làm bằng bình thủy tinh, và Bộ phận thứ hai có chức năng tiếp nhận bệnh phẩm (huyết thanh) và tiến hành đo. Bộ phận thứ nhất đơn giản hơn, ông xin ở Khoa Da liễu, còn bộ phận thứ hai theo ông là phức tạp hơn cả vì những chi tiết lắp ráp rất nhỏ, ông phải ra Chợ Trời tìm mua và đến các cửa hàng cơ khí đặt làm những bộ phận không có sẵn. Về nguyên lý sử dụng, cấu tạo thì không khác so với máy cũ, nhưng để cải tiến từ một máy to thành một máy nhỏ là điều không dễ với một bác sĩ như ông. Sau một tháng, ông đã chế tạo thành công một chiếc máy tương tự với kích cỡ nhỏ, gọn một người có thể vận chuyển được. Với thành công này, trường Đại học Y Hà Nội đã khen thưởng ông và Bộ môn Dị ứng, phần thưởng là 50đồng. PGS Bùi Huy Phú nói với vẻ tự hào: “Đây là số tiền lớn lúc bấy giờ, nó là thành công bước đầu trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của tôi” [1]. Trong quá trình sử dụng, máy Shundan cải tiến đã cho kết quả  xét nghiệm chính xác, góp phần chẩn đoán đúng để điều trị cho bệnh nhân.

Đến năm 1975 khi làm việc tại tổ Hô hấp (nằm trong Khoa Cấp cứu A9, khi đó chưa có Khoa Hô hấp), bác sĩ Bùi Huy Phú thường xuyên phải chứng kiến nỗi đau và sự sợ hãi của bệnh nhân khi phải sử dụng thủ thuật chụp phế quản cản quang trong quá trình khám và chẩn đoán bệnh nên ông cùng các đồng nghiệp nghiên cứu và đưa ra một thủ thuật mới tạo cảm giác thoải mái hơn cho bệnh nhân.

Bác sỹ Bùi Huy Phú Chụp phế quản cản quang bằng thủ thuật mới

Chụp cản quang phế quản là một thủ thuật cần thiết được áp dụng để phát hiện một số bệnh về đường hô hấp như khối u phổi, giãn phế nang, giãn phế quản. Đây là một thủ thuật không tốn kém nhưng mang lại hiệu quả chẩn đoán rất cao. Tuy nhiên, khi thủ thuật này chưa cải tiến thì bệnh nhân phải được mở khí quản (rạch đoạn nhỏ ở cổ), rồi sau đó mới luồn ống xông và bơm thuốc cản quan vào phế quản. Khi tia điện quang chiếu vào thì phế quản sáng lên, phát hiện những chỗ có hiện tượng bất thường như khối u hay giãn phế quản … Khi thực hiện thủ thuật theo cách này thì việc mở khí quản sẽ rất nguy hiểm, có thể xảy ra tai biến chảy máu và dẫn đến tử vong. Bên cạnh đó, bệnh nhân phải mất một thời gian hậu phẫu thì vết rạch ở cổ mới lành trở lại. Do đó, bệnh nhân đa số đều rất sợ hãi và trốn tránh khi phải chụp phế quản cản quang bằng thủ thuật này. Chứng kiến nỗi đau của bệnh nhân, bác sỹ Bùi Huy Phú nghĩ rằng: phải tìm ra cách thức nào để giảm thiểu tất cả những nhược điểm của thủ thuật này.

Trong quá trình công tác ông gặp nhiều trường hợp phải mở khí quản để cấp cứu, nhiều bệnh nhân phải ăn bằng xông qua đường mũi. Hơn nữa, với kiến thức về Giải phẫu và Sinh lý. bác sĩ Bùi Huy Phú nghĩ: “đường phế quản và thực quản nằm cạnh nhau, tại sao không thử đưa ống xông từ miệng xuống phế quản[2]. Từ đó ông đã mạnh dạn đề xuất với Tổ trưởng Tổ Hô hấp là TS Chu Văn Ý để tiến hành nghiên cứu. Trước đề xuất đó thì cũng có hai luồng ý kiến khác nhau, nhưng khi ông trình bày cặn kẽ về cấu tạo và cách thức làm thì mọi người đã hoàn toàn đồng ý. Bác sĩ Bùi Huy Phú đã cùng kỹ thuật viên Hải thực hiện ý tưởng này. Thủ thuật được thực hiện bằng việc đưa ống xông qua miệng, xuống phế quản mà không cần phải mở khí quản như trước. Với thủ thuật này thì mỗi trường hợp sẽ được thực hiện trong thời gian rất ngắn, không gây nguy hiểm cho bệnh nhân. Sau trường hợp đầu tiên được áp dụng thành công, thủ thuật chụp phế quản cản quang qua đường miệng được ứng dụng rộng rãi. Là người đề xướng thủ thuật này nên thời kỳ đó ông là người làm thuần thục và thành công hơn cả “Không phải ai cũng làm được mà đòi hỏi người bác sĩ phải tinh tế, khéo tay”[3]. Đây là một cải tiến tuy nhỏ nhưng ý nghĩa thì rất lớn, giúp cho việc chẩn đoán bệnh được rõ ràng và chính xác hơn rất nhiều. Sau đó, với mong muốn phổ biến kiến thức mới cho các bệnh viện tuyến dưới như các tỉnh: Thái Nguyên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Ninh, bác sĩ Bùi Huy Phú và các cán bộ Tổ Hô hấp đã kết hợp với Khoa Điện quang, Bệnh viện Bạch Mai thực hiện cuốn phim “Chụp phế quản cản quang” và in tài liệu thực hành bằng hình ảnh kỹ thuật chụp phế quản cản quang. Phương pháp chụp này được áp dụng rộng rãi trong khoảng 20 năm cho đến khi có máy soi phế quản ống mềm, máy chụp cắt lớp thay thế. Nó đã tạo một bước ngoặt lớn trong chẩn đoán bệnh phổi lúc bấy giờ.

Hiện nay, khi khoa học kỹ thuật đang ngày càng phát triển, nhiều thiết bị khám chữa bệnh hiện đại đã thay thế những sáng chế thuở ban đầu, trong đó có sáng kiến của PGS.TS Bùi Huy Phú, nhưng ông vẫn luôn tự hào vì một thời đã góp phần không nhỏ vào công tác chữa bệnh cứu người.

 

Nguyễn Thị Phương Thúy

 Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam



[1] Hỏi thông tin PGS.TS Bùi Huy Phú, ngày 26-8-2013.

[2]Như trên.

[3] Như trên.




Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: