15/11/2019 9:24:45 SA - Gửi trọn niềm tin

07/11/2019 10:01:09 SA - Niềm đam mê và nỗi trăn trở

Tấm gương điển hình về Kết hợp quân dân y phục vụ chiến đấu
Cập nhật lúc: 21:19, Thứ Ba, 26/02/2013 (GMT+7)

Nhân dịp Kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam 27-2-2013, Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam xin giới thiệu bài viết của Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Tuân về những đóng góp của nhiều thế hệ thầy trò trường Đại học Y khoa Hà Nội trong Kết hợp quân dân y phục vụ kháng chiến.

Từ năm 1990 tới nay, kể từ khi hai Bộ Y tế và Quốc phòng kết hợp triển khai Chương trình Y tế số 12 về kết hợp quân dân y với tên gọi: Kết hợp quân dân y xây dựng quốc phòng toàn dân và phục vụ sức khỏe nhân dân, sự kết hợp này ngày càng phát triển và đạt nhiều thành tựu rực rỡ. Năm 2012 vừa qua, nhiều công trình y học nghiên cứu về Kết hợp quân dân y đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ. Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử ngành Y cho thấy: Kết hợp quân dân y Việt Nam hình thành rất sớm, ngay từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, trong đó Trường Đại  học Y khoa Hà Nội (trong Kháng chiến chống Pháp, trường chuyển lên Việt Bắc để giảng dạy) đóng một vai trò nòng cốt.

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, các lực lượng vũ trang được xây dựng và phát triển trong cả nước. Nhu cầu về cán bộ y tế để chăm sóc sức khỏe bộ đội và cứu chữa thương, bệnh binh rất lớn. Tại Hà Nội, sau khi Quân giải phóng từ Thái Nguyên về đóng tại trại Trung ương Vệ quốc đoàn Hà Nội (nay là Doanh trại Bộ đội biên phòng tại phố Hàng Bài), các sinh viên y khoa là những người đầu tiên hàng ngày phát thuốc cho những người ốm. Cuối tháng 9 năm 1945, Ban Y tế Vệ quốc đoàn Hà Nội được thành lập. Ngày 25 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34/SL tổ chức Bộ Quốc phòng, trong đó có Quân y cục (nay là Cục Quân y). Ngày 16 tháng 4 năm 1946, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 12/NĐ quy định nhiệm vụ và tổ chức Quân y cục.

Để có nguồn cán bộ y tế phục vụ trong Quân đội còn non trẻ, Quân y cục đã huy động nhiều lực lượng y tế như các bác sĩ, y sĩ, y tá được đào tạo dưới chế độ cũ; trong đó, lực lượng sinh viên ngành Y có đóng góp quan trọng.

Ngày 1 tháng 10 năm 1946, chỉ hơn 2 tháng trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Hệ Quân y đại học được mở tại Hà Nội. Có 40 sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ năm tham gia, gọi chung là sinh viên Quân y. Những sinh viên Quân y vẫn học theo chương trình chung của Trường, nhưng được Quân đội đài thọ sinh hoạt phí, cấp phát quân trang. Trong ngày khai giảng đã có các sinh viên Đặng Văn Việt, Nguyễn Xuân Bích, Nguyễn Sĩ Quốc, Nguyễn Xuân Ty, Hoàng Như Tố, Võ Tấn, Nguyễn Văn Âu, Vũ Trọng Kính v.v… tham gia. Những sinh viên đầu tiên này đều trưởng thành trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Sinh viên Đặng Văn Việt sau chuyển sang chỉ huy chiến đấu, trở thành người Trung đoàn trưởng nổi tiếng, đánh nhiều trận phục kích táo bạo diệt quân Pháp trên đường số 4, con đường tiếp tế huyết mạch của quân đội Pháp, nối liền hai thị xã Lạng Sơn và Cao Bằng. Các sinh viên khác đều trở thành những cán bộ y dược cốt cán của Y tế Nhân dân và Quân đội.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ đêm 19 tháng 12 năm 1946. Trường Đại học Y phải nhiều lần di chuyển về vùng nông thôn phía Nam Hà Nội, rồi lên Tuyên Quang, lấy huyện Chiêm Hóa làm nơi triển khai giảng dạy và học tập.

Đúng vào ngày 7 tháng 10 năm 1947, ngày thực dân Pháp mở cuộc tiến công lớn lên khu Việt Bắc, thì trong rừng sâu của huyện Chiêm Hoá, Trường Đại học Y tổ chức lễ khai giảng một cách trọng thể. Đại diện của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đã đến dự. Tất cả các giáo sư, sinh viên, nhân viên và cả gia đình đều tập trung ở giảng đường được trang trí bằng hoa rừng lá núi, tuy đơn sơ giản dị, nhưng đậm đà màu sắc, tình người. Giảng đường lúc này còn sơ sài, chỉ là tầng trệt trống trải của nhà tre nứa lá 3 gian; tầng trên là chỗ ở của sinh viên (nhà này gọi là nhà A, để phân biệt với 2 nhà ở khác của sinh viên, gọi là nhà B và nhà C). Ghế ngồi là những cây bương đặt trên cọc gỗ. Các sinh viên quân y được tổ chức thành Hệ Quân y đại học, do bác sĩ Đặng Văn Chung, sau là bác sĩ Vưu Hữu Chánh phụ trách. Gọi là sinh viên Quân y và sinh viên Dân y, nhưng tất cả đều học theo chương trình chung của nhà trường. Khi có yêu cầu ra phục vụ chiến đấu, tất cả sinh viên, không phân biệt Quân y hay Dân y, đều sẵn sàng lên đường.

Đào tạo bác sĩ trong Kháng chiến chống Pháp vẫn được thực hiện theo thời gian 6 năm. Có 6 khóa sinh viên đã được đào tạo trong Kháng chiến chống Pháp là các khóa Y 46 (chiêu sinh ở Hà Nội), Y 47, Y 48, Y 49, Y 50 và Y 52 (đều chiêu sinh ở Việt Bắc). Tuy nhiên, không có sinh viên nào, không có khóa nào được học tập đầy đủ tại Trường. Thường sinh viên chỉ học 2-3 năm tại Trường là được yêu cầu ra phục vụ tại các đơn vị chiến đấu. Giáo sư Phạm Tử Dương nhớ lại: “Lớp sinh viên y khoa khóa 1950 chúng tôi được chiêu sinh vào giữa thời kỳ kháng chiến đang diễn ra khốc liệt, không áp dụng mô hình đào tạo đại học liên tục mà vận dụng uyển chuyển theo yêu cầu của kháng chiến: lúc có điều kiện thì tập trung nỗ lực học tập không nghỉ, lúc cần cho chiến dịch thì tất cả ra chiến trường. Nội dung chương trình đào tạo vẫn theo cơ bản của Đại học Y Hà Nội nhưng có cải tiến hướng vào chủ đích đảm bảo phục vụ tốt cho yêu cầu chiến đấu trước mắt của Quân đội và Kháng chiến toàn dân, để giành thắng lợi hoàn toàn. Vừa học vừa làm, nỗ lực trong giảng dạy và tự học, tự rèn luyện bản thân của mỗi sinh viên là điều cốt yếu”. Qua môi trường kháng chiến, rèn luyện và tự học, các sinh viên khóa Y 50 đã trở thành những cán bộ cốt cán của Y tế nhân dân và quân đội như Phạm Tử Dương, Nguyễn Cảnh Cầu, Trần Đỗ Trinh, Phan Chúc Lâm v. v..

Giao thông liên lạc trong Kháng chiến chống Pháp còn đơn giản và thô sơ lắm. Trường Đại học Y khoa có lúc đóng ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, có lúc ở xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Cục Quân y thì ở khu vực Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, cách Trường Đại học 1-2 ngày đường. Phương tiện liên lạc giữa Cục Quân y và Trường chỉ duy nhất bằng giao thông bộ. Thế nhưng, chỉ cần một thư tay của Cục trưởng Quân y Vũ Văn Cẩn gửi cho Hiệu trưởng Hồ Đắc Di là lớp lớp sinh viên lên đường ra Mặt trận. Đặc biệt, khi bước vào chuẩn bị cho các hoạt động quân sự năm 1954, Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng đã huy động tới cả các sinh viên Y52 dù mới học xong chương trình năm thứ nhất; đa số được tăng cường phục vụ trực tiếp tại Mặt trận Điện Biên Phủ.

Các sinh viên y khoa, dù là Quân y hay Dân y, khi được huy động phục vụ trong quân ngũ, đều trở thành những quân nhân và được giao những trọng trách trong Quân y như  phụ trách các Bệnh viện, Quân y Trung đoàn, Quân y Đại đoàn v. v..

 

Đường vào trường Đại học Y khoa trong những năm kháng chiến

Trong những năm đầu của cuộc Kháng chiến chống Pháp, đã có nhiều sinh viên được phân công làm việc ở các đơn vị Nam Trung Bộ như các sinh viên Nguyễn Văn Âu, Võ An Dậu (Y46). Tại Mặt trận Trị-Thiên, sinh viên Vũ Tá Cúc (Y 45) đảm nhiệm chức vụ Trưởng phòng Quân y Đại đoàn 325. Tại Liên khu 3 có sinh viên Phạm Khuê (Y45) làm Giám đốc Bệnh viện K32, sinh viên Đinh Văn Lạc (Y 45) làm Giám độc Bệnh viện K 34, sinh viên Hoàng Tích Tộ (Y 45) làm Trưởng phòng Quân y Đại đoàn 320, sinh viên Nguyễn Lung (Y 46) làm Phó phòng Quân y Đại đoàn, các sinh viên Nguyễn Kim Đương (Y 47), Nguyễn Duy Tuân (Y 47)  làm Trưởng ban Quân y Trung đoàn v. v.. Tại vùng địch hậu khu Tả ngạn sông Hồng, sinh viên Hà Văn Mạo (Y 48) phụ trách Phòng Quân y. Tại Liên khu Việt Bắc, nhiều Bệnh viện, Ban Quân y do các sinh viên y khoa phụ trách.

Đặc biệt, tại Mặt trận Điện Biên Phủ, đông đảo thày và trò trường Đại học Y có mặt phục vụ chiến dịch. Bước vào chiến dịch, bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ Y tế - giảng viên Trường Đại học Y, được Bộ Quốc phòng mời tham gia trực tiếp vào việc cứu chữa thương binh tại Mặt trận trên cương vị cố vấn Ngoại khoa của Bộ Quốc phòng. Ông trực tiếp công tác ở Đội điều trị 1, chuyên xử trí các vết thương ở đầu và sọ não, là những loại vết thương nguy hiểm nhất. Sự tham gia trực tiếp của bác sĩ Tôn Thất Tùng vào việc cứu chữa các vết thương sọ não ngay tại Mặt trận là hướng đi mới, mở đầu cho việc tổ chức cứu chữa chuyên khoa ngay tại tuyến quân y chiến dịch. Phụ trách Quân y các Trung đoàn, Quân y các Đại đoàn và các Đội điều trị Đại đoàn, trực tiếp tham gia vào việc cứu chữa thương binh bệnh binh, chủ yếu là những sinh viên của Trường Đại học Y, từ các khóa 46 đến các khóa 49, 50: Tại Đại đoàn 308 là các sinh viên Đặng Hiếu Trưng, Vi Huyền Trác, Lê Cao Đài; tại Đại đoàn 304 có sinh viên Nguyễn Văn Nhân; tại Đại đoàn 312 có sinh viên Vũ Văn Phong; tại Đại đoàn 316 có sinh viên Hoàng Trọng Quỳnh; tại Đại đoàn công pháo 351 có sinh viên Nguyễn Báu v.v.. Các Đội điều trị thuộc Cục Quân y được bố trí đứng sau tuyến Quân y Đại đoàn, làm nhiệm vụ Bệnh viện dã chiến chiến dịch, thu dung điều trị toàn bộ thương, bệnh binh của Mặt trận cho tới khi tình trạng ổn định, được trả về đơn vị hoặc chuyển tiếp về các Bệnh viện hậu phương ở Việt Bắc hoặc ở Thanh Hóa. Phụ trách Đội điều trị 1 là sinh viên Đào Bá Khu, phụ trách Đội điều trị 2 là sinh viên Vũ Trọng Kính, phụ trách Đội điều trị 3 là sinh viên Bửu Triều, phụ trách Đội điều trị 5 là sinh viên Trần Mạnh Chu v.v..

Để chỉ đạo và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng chống dịch, giữ vững sức khỏe bộ đội, Đội Vệ sinh phòng dịch Cục Quân y do sinh viên Võ An Dậu (Y 46) phụ trách được điều động trực tiếp tham gia chiến dịch.

Tại cơ quan Quân y chiến dịch, trực tiếp giúp việc cho bác sĩ Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y kiêm Trưởng ban Quân y chiến dịch, có sinh viên Bùi Đại (Y 46).

Theo yêu cầu của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Y tế còn tăng cường cho Mặt trận Điện Biên Phủ một phòng xét nghiệm vi sinh vật - hóa học do sinh viên Hoàng Thủy Nguyên (Y 49) phụ trách, nhằm sẵn sàng đối phó với âm mưu sử dụng vũ khí vi sinh vật, hóa học của Quân đội Pháp.

Trong chiến đấu, thương binh nhiều mà kháng sinh của Quân y lúc đó chỉ có hạn.  Bộ Y tế đã chỉ đạo phòng thí nghiệm của bác sĩ Đặng Văn Ngữ ở Trường Đại học Y đẩy mạnh việc sản xuất nước lọc Penixilin để cung cấp cho Ban Quân y chiến dịch, tăng cường năng lực cho Quân y xử trí chống nhiễm khuẩn vết thương. Việc sản xuất được nước lọc Penixilin ở Chiến khu Việt Bắc là một nỗ lực to lớn của bác sĩ Đặng Văn Ngữ. Chủng nấm được bác sĩ Ngữ mang từ Nhật về; tổ chức nuôi cấy trong điều kiện thiếu thốn ở rừng núi là một thành công lớn. Nước lọc Penixilin đã góp phần hạn chế nhiễm trùng của các vết thương chiến tranh.

Có thể khái quát: Trường Đại học Y, sơ tán trong chiến tranh chống Pháp ở vùng rừng núi của chiến khu Việt Bắc, đã đóng góp to lớn vào việc bổ sung kịp thời cho ngành Quân y còn non trẻ một đội ngũ sinh viên giầu nhiệt huyết, góp phần tích cực vào việc bảo vệ sức khỏe bộ đội và cứu chữa thương binh, bệnh binh.

Kể từ năm 1990, khi Hai Bộ Y tế và Quốc phòng phối hợp triển khai Chương trình Y tế số 12 đến nay, Kết hợp quân dân y được phát triển cả bề rộng, chiều sâu và ngày càng đi vào nề nếp. Kết hợp quân dân y được thực hiện cả ở Trung ương và các địa phương, trên tất cả các mặt công tác bảo đảm y tế, góp phần to lớn vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân và các lực lượng vũ trang, nâng cao khả năng sẵn sàng phục vụ chiến đấu cũng như xử trí trong các tình huống thảm họa của ngành Y. Sự phát triển toàn diện và vững mạnh của Kết hợp quân dân y ngày nay có nguồn gốc xâu xa từ những bước đi ban đầu trong kháng chiến chống Pháp, trong đó có sự đóng góp quan trọng của thày trò Trường Đại học Y khoa.

GS.TS Nguyễn Duy Tuân

Tài liệu tham khảo:

1. Phạm Văn Hựu. Lịch sử Quân y Quân đội nhân dân Việt Nam. Tổng cục Hậu cần xuất bản, 1994.

2. Nguyễn Duy Tuân. Lịch sử kết hợp quân dân y Việt Nam. Nhà xuất bản Y học, 2006.

3. Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam. Di sản ký ức của nhà khoa học. Tập 1. Nhà xuất bản Tri thức, 2011.

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: