02/08/2020 9:08:35 CH - Theo đuổi đam mê

25/07/2020 3:34:16 CH - Phần thưởng cao quý

22/07/2020 10:04:50 SA - Hành trình tin yêu

21/07/2020 11:14:41 SA - Chuyện ông “Trùm chèo”

Tính cách con người Nga đọng mãi trong tôi
Cập nhật lúc: 16:05, Thứ Sáu, 15/02/2013 (GMT+7)

Xứ sở Bạch dương đã đi vào thi ca với những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ và lãng mạn; con người Nga chân thành, nhiệt tình, thẳng thắn là những cảm nhận chung của bất cứ ai đã có cơ hội đến đó. Với GS.TSKH Lê Đăng Hà, đất nước và con người nơi đây còn gắn với biết bao kỷ niệm trong hai lần ông sang học tập, nghiên cứu.

              Hành trình đầu tiên

          Năm 1965, Mỹ tiến hành mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, khi ấy bác sĩ Lê Đăng Hà đưa sinh viên đi sơ tán và thực tập ở Hà Đông. Đang bận rộn với công việc và bệnh nhân ở địa phương thì trường Đại học Y thông báo cho ông trở về Hà Nội làm hồ sơ lý lịch, kiểm tra văn hóa chuẩn bị đi nước ngoài. Bác sĩ Lê Đăng Hà cho biết lúc đó ông có phần bất ngờ vì chưa bao giờ dám nghĩ mình được đi nước ngoài làm nghiên cứu sinh, may lắm là được đi làm thực tập sinh.

          Bắt đầu rục rịch làm hồ sơ từ năm 1965 nhưng khi ấy ở Trung Quốc đang diễn ra cuộc cách mạng văn hóa. Hàng loạt các nghiên cứu sinh và thực tập sinh đang học tập ở Trung Quốc phải trở về nước. Lúc đó Bộ Đại học phải sắp xếp lại các chỉ tiêu đi học nước ngoài, bởi vậy đi làm nghiên cứu sinh ngành Y phải dừng lại một thời gian. Mãi đến tháng 10-1968 Lê Đăng Hà và ba đồng nghiệp mới sang Liên Xô học tập, nghiên cứu. Đó là ông Vũ Nhật Thăng và ông Đỗ Trọng Hiếu - chuyên khoa Sản; bà Nguyễn Thị Đào - chuyên khoa Da liễu. Điều kiện tối thiểu để đi học nước ngoài  thời kỳ đó là phải có lý lịch tốt, công tác tốt.

          Trước khi đi làm nghiên cứu sinh, các đối tượng cùng đợt đi Liên Xô đều được học tiếng Nga tại trường Đại học Ngoại ngữ. Có khoảng 100 người thuộc các ngành khác nhau cùng học chung một lớp. Thời gian đầu học tiếng Nga, Lê Đăng Hà cũng lo lắng vì hồi đại học không được học ngoại ngữ, hơn nữa lại cũng không có thầy giáo dạy tiếng Nga, chủ yếu ông là có ít vốn tiếng Pháp được học từ thời phổ thông. Để khắc phục, cách duy nhất là lao vào học nhưng sau một thời gian ông nhận thấy khi đã biết một ngoại ngữ thì việc học ngoại ngữ thứ hai sẽ dễ hơn, có nhiều từ có gốc giống nhau nên cũng đơn giản hơn. Học được nửa năm các ông đã dần quen và nghe nói được cơ bản, hăng hái xung phong phát biểu trên lớp.

          Ngoài việc học tiếng Nga, bác sĩ Lê Đăng Hà đăng ký xin học thêm một lớp toán thống kê vì nghe nói khi làm nghiên cứu sinh phải dùng rất nhiều toán thống kê - môn mà đại học chưa được học. Hàng tuần 3 buổi tối ông lại đi học lớp toán thống kê ở một giảng đường của Bệnh viện Việt - Đức do thầy giáo Ngô Duy Hòa dạy.

          Mọi người trong đoàn được trang bị giầy, vali và 2 bộ quần áo complê. Đoàn đi tàu hỏa từ ga Hàng Cỏ, lên tới Bằng Tường thì chuyển sang tàu liên vận của Trung Quốc. Lúc này các nghiên cứu sinh mới được phát hộ chiếu.

          Từ Bằng Tường, đi tàu liên vận Trung Quốc, mất 11 ngày thì sang đến Liên Xô (đoàn được nghỉ lại ở Bắc Kinh 3 ngày). Cảm giác lần đầu tiên của bác sĩ Lê Đăng Hà khi tạm xa đất nước hình chữ S thật khác lạ, ở Việt Nam chiến tranh liên miên, sống chết không biết ra sao, cuộc sống đạm bạc, mua bán bằng tem phiếu, sang tới Trung Quốc thấy choáng ngợp, những nơi đi qua như Thâm Quyến, Bắc Kinh, Thẩm Dương,… đều thấy nhộn nhịp. Tàu dừng ga nào đều có đoàn người của Trung Quốc đón chào rất thân thiện. Ở Trung Quốc thấy gì cũng đẹp, cũng sẵn, cũng rẻ, ngồi trên tàu nhìn xuống cảm thấy rất hào hứng và lạ lẫm nhưng cũng không có tiền để mua. Có điều đặc biệt là những đêm ở trên tàu liên vận Trung Quốc, khi ngủ các ông đều được các nữ công an bảo vệ trên tàu chăm lo chu đáo, rất cảm động. Trong những ngày trên tàu đi qua Trung Quốc đoàn được ăn uống đầy đủ, thỉnh thoảng lại được uống bia, thấy cuộc sống vật chất khác hẳn.

Những năm tháng học tập trên Đất nước Xô viết và những bài học quý

Đến biên giới Liên Xô, từ tàu liên vận Trung Quốc, đoàn nghiên cứu sinh Việt Nam lại chuyển tàu để đến Mátxcơva. Bác sĩ Lê Đăng Hà còn nhớ lúc sang tới Mátxcơva, trong khi người Việt Nam vali bằng vải màu vàng nhạt giống hệt nhau, quần áo và giầy giống nhau thì người các nước khác với đầy đủ các loại quần áo, vali màu mè khác nhau, nhìn rất vui mắt. Khi gặp các bạn Liên Xô thì họ thắc mắc rằng sao người Việt Nam nhỏ thế, tốt nghiệp bác sĩ rồi mà trông như cậu bé mười mấy tuổi, tiếng Nga gọi là “Mantríck”. Lúc đó, cảm giác của bác sĩ Lê Đăng Hà có phần buồn tủi nhưng cũng tự nhủ phải quyết tâm học hành  tốt, thể hiện tố chất Việt Nam.

Nghiên cứu sinh Lê Đăng Hà , Mátxcơva, Liên Xô, năm 1970

Đến Mátxcơva, đoàn nghiên cứu sinh Việt Nam tập trung tại Đại Sứ quán và nhận phân công về các trường. Bốn nghiên cứu sinh thuộc ngành Y đều học tại Mátxcơva: Lê Đăng Hà và Vũ Nhật Thăng học tại trường Đại học Y số 2 Mátxcơva, ông Đỗ Trọng Hiếu và bà Nguyễn Thị Đào học tại Viện Hàn lâm Y học Liên Xô. Cán bộ Đại sứ quán ta đưa học viên đến tận trường nhập học. Được học ở Mátxcơva là một may mắn vì nơi đó tập trung rất nhiều nhà khoa học giỏi, thuận tiện mọi mặt cho nghiên cứu, sinh hoạt..

          Thời kỳ đó, các nghiên cứu sinh, lưu học sinh Việt Nam thường được bố trí ở cùng nhau. Nghiên cứu sinh Lê Đăng Hà và Vũ Nhật Thăng cũng như vậy, hai ông ở cùng nhau tại ký túc xá của trường Đại học Y số 2 Mátxcơva. Chính vì thế đã làm hạn chế việc học tiếng Nga của ông, nhất là giao tiếp, phát triển khẩu ngữ.

          Giáo sư Lê Đăng Hà nhớ lại, khi sang Liên Xô ông vẫn chưa hình dung được thế nào là làm nghiên cứu sinh. Ông đến gặp thầy giáo hướng dẫn là GS.VS A.F. Bilibin và được thầy giải đáp khá tường tận. Thứ nhất: nghiên cứu sinh khác với thực tập sinh, thực tập sinh là học để nâng cao tay nghề về mổ xẻ, chẩn đoán, điều trị,…, chuyên về thực hành, còn nghiên cứu sinh thì quan trọng hơn là phải nghiên cứu, phải làm thí nghiệm, phải có những sáng tạo trong quá trình nghiên cứu. Sau khi hoàn thành công trình nghiên cứu, học viên phải bảo vệ thành công đề tài nghiên cứu khoa học thì được cấp Bằng Phó Tiến sĩ, tức là người bắt đầu bước vào ngưỡng cửa khoa học, bắt đầu làm nghiên cứu.

Thứ hai: Làm nghiên cứu sinh thì phải có thực tế, hàng ngày đi thăm khám bệnh nhân, lấy máu, làm thí nghiệm,… ghi chép phải thật đầy đủ và trung thực. Khoa học không được giả dối, nếu như thêm bớt thì không phải làm khoa học, không làm được thì bỏ, làm lại, thiếu trung thực sẽ bị đánh trượt khi bảo vệ.

Thứ ba: Phải tự học, tự thực hành để có kết quả nghiên cứu, phải tự tiến hành tất cả các việc từ đầu đến cuối, đưa ra các nhận định khoa học  từ quá trình nghiên cứu, thầy giáo chỉ là người hướng dẫn phương pháp, góp ý và thông qua luận án.

Thứ  tư: Viện sĩ V.F. Bilibin nhận xét Lê Đăng Hà ngoại ngữ còn kém quá, phải đi học ngay ngoại ngữ. Thầy giáo Bilibin đã gửi Lê Đăng Hà và Vũ Nhật Thăng cho một bà giáo dạy tiếng Nga đã lớn tuổi, mỗi tuần ba buổi đến học thêm tiếng Nga.

Thứ  năm: Bày tỏ tình thương đối với những nghiên cứu sinh Việt Nam, rằng Việt Nam khổ quá, chiến tranh kéo dài, sống khổ sở, vì vậy  thầy giáo hướng dẫn sẽ cố gắng giúp đỡ và tạo điều kiện nhưng học viên Việt Nam phải nỗ lực hết sức.

Trước những lời giải thích, đồng thời cũng là lời khuyên của thầy giáo hướng dẫn, bác sĩ Lê Đăng Hà cũng lo lắng nhưng quyết tâm cố gắng thực hiện luận án của mình. Ông cho biết, năm đầu công việc chủ yếu là học ngoại ngữ, học các phương pháp thí nghiệm, đến bệnh viện, thăm khám bệnh nhân và bắt đầu làm thí nghiệm, lấy số liệu. Các công việc cứ tăng dần lên và nhiều thêm theo thời gian. Hàng ngày, 6h sáng ông thức dậy ra căng tin ăn qua loa, bắt tầu điện ngầm đến Bệnh viện Truyền nhiễm số 2 ở Matxcơva để thăm khám bệnh nhân, lấy máu, sau đó mang đến phòng thí nghiệm và làm thí nghiệm ở đó. Đến trưa, nghỉ giải lao ăn uống độ một tiếng và lại tiếp tục làm thí nghiệm, khoảng 3h chiều ông bắt xe bus, mất khoảng một tiếng đến Thư viện Y học Trung ương hoặc Thư viện Lênin để đọc tư liệu và ngồi lì ở đây đến 8h tối mới về. Ông cho biết ở các thư viện này có các loại tài liệu của Anh, Pháp, Mỹ,…, ông tìm những tài liệu liên quan, đọc và ghi chép lại. Đến khoảng 9h tối về tới ký túc xá, ăn uống xong lại bắt đầu lao vào học, ngồi giở các vấn đề ghi chép ban ngày khi làm thí nghiệm, làm bệnh án cho bệnh nhân ra phân tích, đánh giá, so sánh một cách tỉ mỉ.

Được GS.VS V.F Bilibin gợi ý đề tài luận án, bác sĩ Lê Đăng Hà đã miệt mài lao vào nghiên cứu và làm thí nghiệm. Đề tài luận án của bác sĩ Lê Đăng Hà có tên: Ý nghĩa lâm sàng những biến đổi các men đặc hiệu trong bệnh BOT Kin (Viêm gan do virut). Cứ 3 tháng bác sĩ Lê Đăng Hà phải báo cáo trước bộ môn một lần, trình bày các kết quả thí nghiệm đã làm được, các phân tích đánh giá của bản thân. Khi đó các thầy giáo người Nga chỉ ra những điểm chưa được, những chỗ thiếu sót, hoặc làm thí nghiệm sai để bác sĩ Lê Đăng Hà làm lại. Ông cho biết, người Nga có thói quen khen chê, góp ý rất thẳng thắn, không lệ thuộc vào mối quan hệ tình cảm. Ông còn nhớ có biểu đồ vẽ trong luận án bị phê bình gay gắt, bởi kết quả bị sai do quá trình vận chuyển máu bệnh nhân mang tới phòng thí nghiệm, làm vỡ ống nghiệm khiến cho kết quả thí nghiệm bị sai lệch. Ông phải làm lại thí nghiệm và đưa ra những phân tích, đánh giá mới cho chính xác. 

Sau 3 năm nghiên cứu, đọc tài liệu, thu thập số liệu, làm thí nghiệm trên các bệnh nhân, Lê Đăng Hà bắt tay vào viết luận án. Hoàn thành bản luận án. ông trình bày thử trước Bộ môn Truyền nhiễm và nhận được rất nhiều phản hồi và yêu cầu chỉnh sửa. Khi nhận được nhiều câu hỏi và ý kiến, bác sĩ Lê Đăng Hà lo lắng đến gặp thầy hướng dẫn. GS Bilibin nói rằng những góp ý như vậy  là rất tốt để hoàn thiện, để khi ra bảo vệ chính thức ít bị bắt bẻ, thắc mắc. Ý nghĩa của luận án là phát hiện ra các men mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh viêm gan. Luận án có ý nghĩa thực tiễn ở chỗ giúp cho việc phát hiện bệnh viêm gan B một cách dễ dàng, đưa ra các tiên lượng nhằm điều trị bệnh hiệu quả và chính xác hơn.

Đối với bác sĩ Lê Đăng Hà đó là bài học đầu tiên để hiểu thế nào là nghiên cứu sinh và thế nào là cách làm khoa học. Bài học về đức tính khiêm tốn, trung thực trong khoa học được ông ghi tâm khắc cốt hơn trong khoảng thời gian trở lại Liên Xô làm luận án tiến sĩ của mình.

          Vào thời điểm năm 1983, bác sĩ Lê Đăng Hà đang giữ chức Phó Chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm, trường Đại học Y Hà Nội, đồng thời là Phó Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Bạch Mai, vừa làm công tác giảng dạy, vừa chữa bệnh và hướng dẫn sinh viên thực tập. Cũng trong năm này, PTS - bác sĩ Lê Đăng Hà trình đề cương thông qua Bộ Y tế gửi sang Liên Xô để xin đi thực tập sinh cao cấp và được chấp nhận. Ngày 28-12-1983, bác sĩ Lê Đăng Hà đặt chân đến Mátxcơva.

          Sang thực tập sinh lần này, PTS Lê Đăng Hà được phân công học tại Viện Nghiên cứu Dịch tễ Trung ương Mátxcơva, thuộc Viện Hàn lâm Y học Liên Xô. PTS Lê Đăng Hà đến gặp GS.VS V.I. Pokrobski và xin thầy tham vấn đề tài luận án nhưng thầy nói rằng không có đề tài nào cho ông cả, chỉ gợi ý một số vấn đề và yêu cầu ông đến thư viện tìm tài liệu, đọc sách để tự xây dựng đề tài. Sau một tháng đọc và nghiên cứu tài liệu, PTS Lê Đăng Hà đến trình bày với thầy giáo nhưng chưa được thông qua, thầy yêu cầu tiếp tục đọc và tìm vấn đề khác. Bác sĩ Lê Đăng Hà lại tiếp tục đi thư viện, tìm đọc tài liệu và một tháng sau lại báo cáo với thầy giáo của mình, lần này đề tài của ông được chấp nhận,với tên gọi: Ý nghĩa lâm sàng- sinh bệnh học của các nucleotid vòng trong bệnh nhân Viêm gan do virut. Ông lao vào học, làm thí nghiệm và đọc sách. Được sự giới thiệu của GS V.I. Pokrobski, Lê Đăng Hà đến trường Đại học Lômônôxốp để làm thí nghiệm cho các vấn đề của luận án, vì chỉ ở đó mới có đủ trang thiết bị và cơ sở vật chất. Vấn đề khó khăn nhất là việc tìm được các cơ chất dùng trong thí nghiệm (chất hóa học), mà cơ chất này chỉ có ở Mỹ nhưng họ lại không bán cho Liên Xô vì quan hệ giữa hai nước vẫn trong giai đoạn căng thẳng. Ông đến trường Đại học Lômônôxốp thì các thầy giáo của trường cho biết ở Hà Lan có bán cơ chất này, khuyên Lê Đăng Hà cứ về nghiên cứu tài liệu, khoảng vài tuần sau sẽ báo có mua được cơ chất không. Một thời gian ngắn sau, Lê Đăng Hà được báo đến làm thử các thí nghiệm ở trường Lômônôxốp. Sau khi làm thử các thí nghiệm ông trình bày với GS.VS V.I. Pokrobski, thầy  hướng dẫn đã trực tiếp gọi điện sang trường Lômônôxốp để kiểm tra xem Lê Đăng Hà đã làm đúng hay chưa, có khả thi không. Đó là điều quan tâm đặc biệt của các thầy giáo người Nga mà có lẽ ông chẳng bao giờ quên ơn.

          Giống như lần thứ nhất ở Liên Xô, hàng ngày thức dậy, ông đến Viện Nghiên cứu Dịch tễ Trung ương Mátxcơva để thăm khám bệnh nhân và lấy máu, ghi bệnh án, sau đó bắt xe bus đến trường Đại học Lômônôxốp làm thí nghiệm tới chiều, rồi tiếp tục lại đi thư viện đọc sách đến 8h-9h tối mới trở về phòng, ăn uống và lại phân tích tổng hợp các kết quả ban ngày. Sau hơn 2 năm, luận án tiến sĩ của Lê Đăng Hà được bảo vệ tại Viện Nghiên cứu Dịch tễ Trung ương Mátxcơva, được 100% phiếu xuất sắc của các nhà khoa học trong Hội đồng. Luận án được đánh giá cao về mặt lý thuyết, đã làm rõ ý nghĩa lâm sàng- sinh bệnh học của các nucleotid vòng trong bệnh nhân viêm gan do virut, mở ra quá trình chẩn đoán và điều trị đối với các bệnh nhân bị viêm gan. 

          Hai lần đi Liên Xô học tập, nghiên cứu để lại những ấn tượng khó phai nhòa trong tâm trí của bác sĩ Lê Đăng Hà. Ông chia sẻ: “Tôi đã học được tính trung thực, khiêm tốn, chân thành từ họ. Tôi cho rằng người Nga tốt vô cùng, rất thẳng thắn nhưng thật lòng, họ thực sự yêu quý nhân dân Việt Nam, giúp một cách vô tư và nhiệt tình, không tính toán, so đo gì cả”. Với ông, những thầy, cô giáo, những người bạn Nga thân thiết như cha mẹ, anh em trong gia đình của mình. Chính họ đã rèn luyện và góp phần không nhỏ tạo nên một nhà khoa học Lê Đăng Hà.

Nguyễn Thanh Hóa

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin: