03/09/2020 3:34:36 CH - Nhớ Giáo sư Lê Thi

Chặng đường phát triển của ngành Kỹ thuật Máy tính
Cập nhật lúc: 07:53, Thứ Bảy, 26/01/2013 (GMT+7)

Giáo sư Nguyễn Văn Ngọ gắn bó với ngành Điện tử - Viễn thông từ những ngày đầu thành lập ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Với ông, mỗi sự kiện của ngành đều được khắc vào trí nhớ, đặc biệt là trong những bước đi đầu tiên, như một phần lịch sử của nhà trường cũng như của bản thân ông.

Tiền đề cơ bản

Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, Việt Nam cùng lúc phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc Kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, thống nhất đất nước. Trong hoàn cảnh khó khăn chồng chất nhưng GS Tạ Quang Bửu - một nhà khoa học lớn đồng thời là một nhà quản lý có nhãn quan chiến lược - đã sớm thấy tầm quan trọng của việc phát triển nghiên cứu ứng dụng khoa học tính toán với công cụ Máy tính điện tử để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của Việt Nam.

Theo sự chỉ đạo của GS Tạ Quang Bửu, Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, tháng 9-1962 một đoàn thực tập sinh gồm 9 người: Lê Thiện Phố (toán), Nguyễn Ngọc Hoàng (kỹ sư điện tử), Hồ Thuần, Trần Văn Ân (toán), Nguyễn Lãm (toán, Bộ Quốc phòng), Nguyễn Minh Tâm (kỹ sư cơ khí, Bộ Quốc phòng), Trần Nho (kỹ sư điện), Nguyễn Liệu (kỹ sư xây dựng), Trần Văn Tiểu (kỹ sư điện tử) lên đường sang thực tập tại Trung tâm tính toán thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô ở Mátxcơva và Trung tâm tính toán thuộc Viện Hàn lâm Khoa học nước Cộng hòa Uzơbekistan ở Tasken. Đến năm 1964, sau khi hoàn thành khóa thực tập, trừ một số ít người được tiếp tục ở lại làm nghiên cứu sinh, số còn lại trong đoàn về nước công tác.

Với sự giúp đỡ của Chính phủ Liên Xô, trực tiếp là Trung tâm Tính toán thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Việt Nam đã nhận được Máy tính điện tử Minsk-22 (ngày 22-6-1968), loại Máy tính điện tử vào loại hiện đại của Liên Xô lúc bấy giờ (ngoài những máy dùng cho Quân sự và Du hành vũ trụ). Tại Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Chủ nhiệm Lê Khắc, các thực tập sinh ở Liên Xô về nước đã bắt tay vào việc chuẩn bị để tiếp nhận Máy tính điện tử Minsk 22, như: Địa điểm đặt máy và điều kiện bảo quản; Cử đoàn đi tiếp nhận máy; Phổ biến kiến thức và đào tạo người sử dụng Máy tính cho một số ngành.

Để đảm bảo việc vận hành, bảo quản và khai thác hiệu quả Máy tính điện tử Minsk-22, năm 1967 Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước cử một đoàn cán bộ sang thực tập tại Nhà máy sản xuất máy tính điện tử thành phố Minsk thủ đô nước Cộng hoà Belarus.

Để hỗ trợ Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước trong đào tạo chuyên viên về Máy tính điện tử, cũng năm 1967, tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Nguyễn Văn Ngọ và các đồng nghiệp Bùi Minh Tiêu, Phan Anh, Kiều Vĩnh Khánh đề nghị Ban Chủ nhiệm Khoa Vô tuyến điện cho thành lập chuyên ngành Kỹ thuật Máy tính. Đề xuất được chấp nhận và lãnh đạo Khoa phân công Nguyễn Văn Ngọ viết tờ trình Lãnh đạo trường Đại học Bách khoa và Bộ để xin phép. Về việc này, Nguyễn Văn Ngọ bày tỏ quan điểm là nên dùng chiến thuật “vào nhỏ ra to”, trước hết xin trường cho lập một chuyên ngành Kỹ thuật Máy tính trong Bộ môn Kỹ thuật Vô tuyến điện giống như chuyên ngành Vô tuyến-Truyền hình, sau này “ăn nên làm ra” mới tách thành bộ môn riêng.

Mọi thủ tục được tiến hành suôn sẻ. Để chuẩn bị lực lượng giảng dạy, ngoài ông Nguyễn Ngọc Hoàng được cử sang Liên Xô theo đoàn thực tập sinh đầu tiên của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước thì những năm sau, Khoa còn cử thêm hai người nữa là Nguyễn Gia Hiểu (khóa 7) và Lê Văn Thưởng (khóa 9) đi thực tập về Khoa học Tính toán và Máy tính ở nước ngoài.

 Giáo sư Nguyễn Văn Ngọ cho biết: Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước khi đó có nhiều vấn đề cần giải quyết khi nhận Máy tính Minsk 22 từ Liên Xô, đồng thời phải khẩn trương xây dựng đội ngũ và phát triển ngành Khoa học tính toán. Bởi thế, việc mời các ông Trần Văn Tiếu, Nguyễn Ngọc Hoàng về thỉnh giảng ở trường Đại học Bách khoa không thực hiện được, một số cán bộ được cử đi học trước đó cũng không trở lại trường làm công tác giảng dạy vì được phân công về những đơn vị khác. Trước tình hình đó, Ban Chủ nhiệm Khoa Vô tuyến Điện đã đề xuất thuyên chuyển một số cán bộ giảng dạy các môn khác chuyển sang ngành Kỹ thuật Máy tính và cử đi thực tập cả trong và ngoài nước.

Trước yêu cầu cấp thiết của công tác giảng dạy và đào tạo, Nguyễn Văn Ngọ phải tự học về Kỹ thuật Số và Cấu trúc Máy tính bằng tài liệu, sách báo của Pháp mượn ở Thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương, từ đó có thể chuẩn bị chương trình đào tạo cho ngành Kỹ thuật Máy tính.

 Trong Dự thảo Chương trình đào tạo, Nguyễn Văn Ngọ và các ông Bùi Minh Tiêu, Kiều Vĩnh Khánh chủ trương dạy thật kỹ những kiến thức cơ bản về Kỹ thuật số, Cấu trúc máy tính số,.... Còn chuyên đề về “Xu thế phát triển của ngành Máy tính theo những tiến bộ mới của công nghệ điện tử” các ông chủ trương để ngỏ khi giảng dạy. Về giáo trình, những môn khoa học cơ bản và một số môn kỹ thuật cơ sở như Lý thuyết Mạch, Tín hiệu và Hệ thống, Đo lường điện, Bán dẫn và Vi mạch, vẫn học cùng Chương trình với ngành Kỹ thuật Vô tuyến Điện, nhưng bỏ các môn Máy thu, Máy phát, Trường Điện từ, Truyền sóng Vô tuyến Điện, Kỹ thuật Anten, .. để thay vào đó bằng các môn kỹ thuật cơ sở của ngành Kỹ thuật Máy tính.

Lớp Kỹ thuật Máy tính đầu tiên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội được khai giảng vào năm 1971, sau 5 năm đào tạo, năm 1976 sinh viên lớp này tốt nghiệp và được Tổng cục Thống kê nhận về công tác. Và những sinh viên đầu tiên của ngành Kỹ thuật Máy tính có cơ hội sử dụng máy Minsk 32 vào cuộc Tổng Điều tra Dân số năm 1976-1977 mà Tổng cục Thống kê vừa được trang bị.

Từ cuối năm 1976, mặc dù Nguyễn Văn Ngọ được điều chuyển công tác sang Đài Tiếng nói Việt Nam và sau đó giữ chức Chủ tịch Hội đồng Khoa học Ủy ban Phát thanh – Truyền hình nhưng ông vẫn rất quan tâm tìm hiểu và chú ý tới các vấn đề về Kỹ thuật Máy tính. Ông cũng rất chú ý tới công tác đào tạo các thế hệ sinh viên kế tiếp về lĩnh vực này đồng thời xin các nguồn học bổng từ nước ngoài. Trong một chuyến công tác tại Tiệp khắc, khi dừng chân ở Mátxcơva, Nguyễn Văn Ngọ đã gặp một số cán bộ lãnh đạo Đại Sứ quán ta, như ông Phú - Tham tán, ông Trần Võ - Bí thư phụ trách công tác lưu học sinh-thực tập sinh để đề xuất việc nên thương lượng với Bộ Đại học Liên Xô tiếp nhận một số lưu học sinh ngành Kỹ thuật Máy tính của Việt Nam sang học tập. Và năm 1978 phía Liên Xô, lần đầu tiên, chính thức nhận 6 lưu học sinh Việt Nam sang học tập tại trường Đại học Bách khoa Bacu chuyên ngành Kỹ thuật Máy tính. Từ đó, hàng năm Bộ Đại học Việt Nam đều gửi lưu học sinh sang Liên Xô và các nước Đông Âu học về Máy tính và Tin học.

Những thành tựu bước đầu

Từ năm 1985 Việt Nam tham gia khối SEV (khối này giải thể vào năm 1990), Nguyễn Văn Ngọ là Trưởng đoàn đại diện Việt Nam trong Văn phòng Thông tin liên lạc - Phát thanh - Truyền hình của Ban Kỹ thuật khối SEV. Trong các nước thành viên, lúc đó Việt Nam là nước có ngành Thông tin liên lạc lạc hậu nhất, tỷ lệ máy điện thoại trên 100 dân là 0,2. Nguyễn Văn Ngọ là chuyên gia đã từng tiếp xúc và khảo sát kỹ hệ “Viễn thông Liên kết” (gồm cả Thông tin Đối lưu và Vi ba kết hợp) tiếp quản từ chính quyền cũ ở miền Nam, và đã được giao xem xét một Đề án phục hồi và mở rộng hệ Thông tin Đối lưu cũ do các chuyên gia Việt kiều ở Mỹ đề xuất, nên đại biểu các nước trong Văn phòng biết đến và đánh giá cao kinh nghiệm của ông.

 

Một buổi họp Văn phòng Thông tin liên lạc - Phát thanh - Truyền hình của khối SEV

Khoảng cuối năm 1988, được các đại biểu của Cộng hòa Dân chủ Đức, Hungari và Rumani động viên, Nguyễn Văn Ngọ làm một seminar về Sự hội tụ C+C (Computer + Communications) và kiến nghị Văn phòng quan tâm phát triển Thông tin số. Sau buổi trình bày, Trưởng đoàn đại diện của Liên Xô có cuộc gặp riêng Nguyễn Văn Ngọ. Ông nhớ lại buổi trò chuyện năm ấy: “Thoạt tiên, tôi cũng hơi chột dạ, không biết mình đã nói điều gì làm ông phật ý, nhưng ông lại rất thân mật: nước Việt Nam diện tích không lớn, hệ thống TTLL của các đồng chí lại chưa có gì, nay xây dựng mới thì dùng luôn công nghệ số là đúng, nhưng muốn có hệ điện thoại số thì phải có tổng đài số, mà đi mua tổng đài số của các nước tư bản sẽ rất đắt. Theo tôi, cái tổng đài số chẳng qua cũng chỉ là một cái máy tính, tuy phức tạp hơn rất nhiều so với máy tính cá nhân mà các bạn Việt Nam đã từng lắp. Nhưng đừng sợ, cứ làm từ nhỏ đến lớn, chẳng hạn bắt đầu từ cái tổng đài khoảng 1000 số mà đi dần lên. Ý tôi là các đồng chí cần chuẩn bị nhiều chuyên gia về phần cứng máy tính, và cho đi thực tập trước đi… Riêng về phần mềm thì chúng tôi có thể giúp được, nhưng đó là tuyệt mật đấy…”.

Lúc ấy, Nguyễn Văn Ngọ mới nhận ra là những việc ông đeo đuổi bấy lâu cũng không phải vô ích. Những điều mà ông Trưởng đoàn Liên Xô căn dặn “Việt Nam phải sản xuất máy tính điện tử và tổng đài số” thì ngày nay chúng ta đã thực hiện được, nhưng chỉ mới ở cái mức “bắt đầu từ ..” trong lời dặn của ông!

Từ khi theo đuổi và tự bồi dưỡng những kiến thức về Kỹ thuật Máy tính đến nay, GS Nguyễn Văn Ngọ cho biết Việt Nam đã đạt được một số thành tựu khả quan trong mấy lĩnh vực:

Về máy vi tính, ngày 23-9-2004, GS Nguyễn Văn Ngọ chủ trì Hội đồng cấp Nhà nước nghiệm thu Đề tài trọng điểm “Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn máy tính thương hiệu Việt Nam và các giải pháp công nghệ, thiết bị, tổ chức, triển khai việc kiểm chuẩn trong phạm vi toàn quốc”, mã số: KC06-03-CN trong Chương trình “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực” do Công ty cổ phần Máy tính và Truyền thông Việt Nam thực hiện. Kết quả nghiệm thu được Hội đồng đánh giá xuất sắc. Như vậy là từ 9-2004 Việt Nam đã có những định hướng quan trọng cho nội địa hóa máy tính và cấu kiện máy tính, và có hệ thống đánh giá chất lượng máy tính xuất xưởng được Nhà nước công nhận làm cơ sở cho việc phát triển Công nghiệp máy tính Việt Nam.

Sau 8 năm, nhiều xí nghiệp đã sản xuất và đưa ra thị trường nhiều loại máy tính “Made in Vietnam”, và gần đây nhất Hội Tin học Tp.HCM đã đề xuất lên Bộ Thông tin và Truyền thông danh sách bình chọn 5 doanh nghiệp máy tính thương hiệu Việt đạt giải thưởng Top 5 năm 2011.

Về tổng đài, Việt Nam đã chế tạo được các Tổng đài kỹ thuật số (cỡ 1000 line, 6 luồng) và có nhiều nỗ lực để tiến tới làm chủ công nghệ phần mềm để đảm bảo An toàn thông tin. Trên bước đường đó, những người bạn Nga vẫn luôn sát cánh cùng chúng ta.

 

GS Nguyễn Văn Ngọ (thứ 3 từ trái qua phải) tiếp đoàn cán bộ Nga sang trình diễn về An toàn thông tin, 4-2007 

Từ những bước đi đầu tiên khó khăn, nhiều bỡ ngỡ đến khi gặt hái được những thành quả trong lĩnh vực Kỹ thuật Máy tính là một chặng đường dài, là kết quả công sức và nỗ lực của nhiều nhà khoa học thuộc các hội Tin học Việt Nam và Vô tuyến- Điện tử Việt Nam và những đường lối chính sách phát triển đúng đắn của Chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực Thông tin-Truyền thông (ICT).

          Ngẫm lại những bước đi ấy, GS Nguyễn Văn Ngọ vui buồn lẫn lộn, vui vì ngày nay trên thang xếp hạng thế giới, đặc biệt là trong khu vực, về Thông tin Truyền thông Việt nam đã có vị trí đáng tự hào (đặc biệt là về tốc độ phát triển ICT, Việt Nam và Trung Quốc được coi là những nước nhanh nhất thế giới), nhưng buồn vì Công nghiệp Điện tử Việt Nam không theo kịp, Công ty Viettel đã đầu tư triển khai mạng Viễn thông và Internet cho gần 10 nước trên thế giới rồi (Lào, Campuchia, Haiti, Mozambique, Cameroon, Tanzania, Peru, Đông Timor,..) nhưng thiết bị vẫn là mua của các nước có Công nghiệp Điện tử Phát triển! Lời khuyên của ông trưởng đoàn Liên Xô, ta vẫn chưa thực hiện được trọn vẹn.

Nguyễn Thanh Hóa (ghi)

Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin:
close

Thông báo