03/09/2020 3:34:36 CH - Nhớ Giáo sư Lê Thi

Kỷ niệm về hai người thầy ở Trạm Giải phẫu A
Cập nhật lúc: 15:16, Thứ Năm, 13/12/2012 (GMT+7)

Hai người thầy mà GS Nguyễn Văn Nhân không bao giờ quên trong hai năm thực tập ở Trạm Giải phẫu A tại làng Chuôn (huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông) là GS Hoàng Đình Cầu và GS Nguyễn Hữu.

Ấy là vào năm 1948-1950, khi đó Nguyễn Văn Nhân là sinh viên của trường Đại học Y khoa kháng chiến. Phong cách giảng dạy cũng như cách sống của hai thầy: Hoàng Đình Cầu và Nguyễn Hữu đã thấm sâu vào lớp học trò, trong đó có Nguyễn Văn Nhân, trong suốt quãng đời sau này.

Sau khi thi đỗ tú tài phần II trường Louis Pasteur (năm 1944), Nguyễn Văn Nhân thi vào trường Đại học Y khoa khoá đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 do GS Hồ Đắc Di làm Hiệu trưởng. Học được một năm thì Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12-1946), Nguyễn Văn Nhân đi phục vụ ở Cục Giao thông – Công binh do thầy Hoàng Đạo Thuý làm Cục trưởng, trụ sở ở một ngôi đình cách Vân Đình khoảng 15-17 cây số. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Văn Nhân cũng đã tham gia sinh hoạt trong tổ chức Hướng đạo sinh Việt Nam của nhà giáo Hoàng Đạo Thuý từ Thiếu sinh lên Tráng đoàn Nhị Khê. Nhiệm vụ của các tráng sinh lúc đó là chuyển giao các công văn, mệnh lệnh…, cũng có lúc đi hộ tống bàn giao vũ khí, nhận đạn dược từ Pháo đài Láng, chuyển lên ô tô, đi đêm tiếp ứng cho pháo đài Phùng.

Hướng đạo sinh Nguyễn Văn Nhân (ngồi) tại Văn miếu Quốc Tử Giám

Được tin trường Y chuyển lên Chiến khu Việt Bắc để tiếp tục dạy và học, Nguyễn Văn Nhân xin thôi công tác ở Cục Giao thông - Công binh về Trường Y khoa kháng chiến học tiếp. Ông tự đi tìm trường, qua Tuyên Quang theo đường đi Hà Giang đến cây số 31 rẽ đi chợ Bợ, qua Đèo Gà, lên Chiêm Hoá, vào Ngòi Quẵng.

Học đến năm thứ 4, Trường gửi sinh viên đi thực tập ở một số nơi. Nguyễn Văn Nhân xin về Khu III- nơi có Trạm Giải phẫu lưu động A do thầy Hoàng Đình Cầu phụ trách, Trạm đóng ở làng Chuôn (Ứng Hoà, Hà Đông). Trạm Giải phẫu xây dựng trên cơ sở của Nhà Hộ sinh nhỏ ở làng Chuôn (còn gọi là Chuôn-Tre) nằm ngay trên bờ con sông đào từ Đồng Quan đi Cống Thần-Chợ Đại. Giường bệnh là những chõng tre hoặc phản gỗ…nhưng hầu như lúc nào cũng đầy bệnh nhân. Phụ trách nhà mổ này là ông Khang “già”.

Được ăn ở cùng với nhân viên y tế ngay tại Trạm, các sinh viên thực tập may mắn được coi như sinh viên nội trú không những của Trạm Giải phẫu A mà cả của Nhà Hộ sinh Chuôn. Hồi đó bộ đội, dân quân du kích và nhân dân bị thương ở một phần Hà Nội đều được đưa về xử trí Ngoại khoa ở Trạm Giải phẫu A. Các vết thương chiến tranh đủ các loại rất đa dạng: từ sọ - não đến bụng, lồng ngực, gãy xương, dập nát chi…. Mỗi khi có thương binh, sinh viên được tiếp xúc đầu tiên, thực hiện các khâu khám, sơ cứu, chẩn đoán, dự kiến điều trị…sau đó mới vào làng báo cáo với thầy Cầu và các bác sĩ khóa trên. Khi thầy và các anh lớp trên xem xét, duyệt lại chỉ định của sinh viên rồi mới quyết định hướng điều trị. Các ca điều trị đầu tiên phần lớn do thầy Cầu và các bác sĩ khóa trên trực tiếp mổ, sinh viên thực tập được phụ mổ hoặc đứng quan sát và ghi chép. Thầy Cầu thường xem lại chẩn đoán, thực hiện các quy trình, rồi vào mổ. Trong khi thực hiện ca mổ, thầy rất ít giảng giải. Có lẽ đây là một phương pháp giảng dạy của thầy Cầu, thầy đòi hỏi sinh viên phải tập trung cao độ để theo dõi các thao tác trong quá trình thầy xử trí cho bệnh nhân và phải ghi chép một cách cẩn thận. Những chỉ bảo ngắn gọn, xúc tích của thầy trực tiếp trên thương binh chính là những bài học quý báu cho sinh viên khi theo học nghề này. Nắm được phương pháp giảng dạy ấy, Nguyễn Văn Nhân và sinh viên Đinh Văn Lạc bàn nhau: ai không phải phụ mổ, sẽ đứng ngoài ghi chép, vẽ lại các thì mổ và kỹ thuật mổ. …Cứ thế, sau vài ba ca mổ mỗi loại, sinh viên xem lại các ghi chép của mình và tự soạn ra kỹ thuật và các thì mổ cho từng loại phẫu thuật (ví dụ cắt cụt chi ở từng vị trí, mổ nội tạng bụng, mổ vết thương lồng ngực…) làm tài liệu học tập cho cá nhân.

Tuy thầy và các anh khóa trên ít giảng giải, tài liệu sách vở tham khảo thiếu thốn nhưng hồi đó thương binh nhiều, đủ các loại, lại được trực tiếp khám xét, phụ mổ, theo dõi sau mổ nên sinh viên thực tập có cơ hội ứng dụng, phát triển kiến thức chuyên môn. Khi sinh viên đã ít nhiều học được kinh nghiệm từ thầy Cầu và các anh khoá trên, sau khi thầy Cầu duyệt  chẩn đoán, quyết định hướng xử lý, thầy cho sinh viên được trực tiếp làm một số phẫu thuật cắt lọc, cắt cụt chi ở chi trên và cẳng tay.

Đến năm 1949, thầy Cầu chuyển về làm Hiệu trưởng Trường Y sĩ Liên Khu III và IV, thầy Nguyễn Hữu từ Trạm Giải phẫu B ở Ngọc Bài (Sơn Tây) về phụ trách Trạm Giải phẫu A.

Giáo sư Nguyễn Văn Nhân kể: Ngay từ những năm đầu học trường Y, hình ảnh thầy Nguyễn Hữu đã in đậm trong tâm trí tôi khi được đi theo thầy Di, thầy Tùng điểm bệnh ở tất cả các buồng bệnh của Bệnh viện Phủ Doãn. Các thầy trẻ như: Phạm Biểu Tâm, Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Hữu bao giờ cũng phải có mặt đầy đủ. Khi thầy Di "truy" hỏi gì thì các thầy trẻ lần lượt trả lời. Gặp các vấn đề mà câu trả lời chưa thoả mãn thầy Di lại gọi hỏi thầy Hữu. Và hầu như các câu hỏi mà thầy Nguyễn Hữu trả lời, thường các thầy  hài lòng, dù là thầy Di hay thầy Tùng.

Thầy Hữu và cô Nga - y tá (cũng là vợ của thầy) mượn được một căn buồng nhỏ, cùng ở ngay trong khu vực Nhà Hhộ sinh. Nếu như  phương pháp của thầy Cầu là rất ít giảng giải khi mổ, thì trái lại, thầy Hữu ngay từ những ngày đầu về Trạm Giải phẫu A đã đặt ra nếp học tập: thầy lên lớp giảng cho sinh viên về kỹ thuật xử lý các loại vết thương chiến tranh. Khi có thương binh, vừa làm, thầy vừa nhắc lại, hướng dẫn thực tế từng thì mổ.

Khi phụ mổ cho thầy Hữu, sinh viên vừa thích thú, vừa sợ. Thích thú vì được chỉ dẫn, được gợi nhớ lại kiến thức, cả về giải phẫu và kỹ thuật Ngoại khoa, nhưng cũng sợ vì trước khi chỉ dẫn, bao giờ thầy cũng vặn hỏi và sinh viên chúng tôi rất sợ “lòi” những chỗ dốt của mình trước mọi người. Trong từng bước mổ, thầy thường hay hỏi: cơ gì đây? nhánh gì đây…rồi khi chúng tôi trả lời sai hoặc không đầy đủ thì thầy lại thuyết giảng vanh vách như đọc từ sách ra vậy.

Bác sĩ Nguyễn Hữu (thứ 2, hàng thứ nhất, từ trái sang) cùng nhân viên và sinh viên

trước Nhà hộ sinh Chuôn, Hà Đông, 1949-1950. Sinh viên Nguyễn Văn Nhân đứng thứ 4

Được gần thầy Hữu tôi mới hiểu vì sao thầy giỏi, thầy biết nhiều. Tất cả bắt đầu từ sự ham học hỏi của thầy. Ngay thời gian ngắn sau khi về Trạm Giải phẫu A, thầy đã tìm cách nhờ bên Biệt động thành liên lạc với thầy Phạm Biểu Tâm gửi cho sách vở tài liệu cập nhật. Tôi còn nhớ khi nhận được bộ sách mới Traité de Pathologie chirurgicale, thầy Hữu đã nghiền ngẫm đọc và lập tức tổ chức yêu cầu chúng tôi cùng học thông qua việc thuyết trình lại trước lớp từng phần bài giảng của thầy. Đến giờ học, ngoài những người có ca mổ, còn tất cả sinh viên tập trung học và lần lượt từng người trình bày, thầy yêu cầu người khác bổ sung, rồi sau cùng thầy mới bổ khuyết, nhận xét và kết luận. Một thời gian sau, thầy thay đổi cách học tập bằng cách thầy chỉ đưa ra chủ đề sẽ thuyết trình, sinh viên phải cùng đọc và nghiên cứu. Đến giờ học, từng người bốc thăm, chuẩn bị 10-15 phút và trả lời. Đến bây giờ tôi vẫn còn cảm nhận được không khí những buổi học như vậy: vừa lo âu, vừa hào hứng. Lo âu vì sợ mình quên sót, hoặc chuẩn bị không kỹ. Hào hứng vì cách học rất sinh động, dễ nhớ, bắt buộc mỗi người phải chủ động mà học. Sách chỉ có một bộ mà ai cũng phải đọc và chuẩn bị, chúng tôi đều đóng vở rồi cặm cụi mượn sách ghi chép lại nguyên văn từng bài, từng chương của sách. Có hình vẽ thì vẽ lại, không biết vẽ đẹp thì phải căn ke bằng giấy pơ luya.

Đối với Nguyễn Văn Nhân, thầy Nguyễn Hữu còn là tấm gương sáng về tác phong và phương pháp làm chuyên môn kỹ thuật. Sau mỗi ca mổ, bất kể lớn nhỏ, thầy Hữu ghi chép rất cụ thể, chi tiết các mô tả thương tổn, cách xử trí... Mỗi một bệnh nhân thầy Hữu mổ, những tình hình diễn biến sau mổ của bệnh nhân thầy đều ghi chú bên lề, hoặc dưới phần biên bản phẫu thuật. Thời buổi hiếm giấy viết, thầy "lượm" những vỏ bao thuốc lá, sử dụng mặt sau để ghi chép những phân tích nhận xét, rút kinh nghiệm…                                                                        *

Thầy Hoàng Đình Cầu và thầy Nguyễn Hữu, mỗi thầy có phong cách làm việc, giảng dạy khác nhau, nhưng được làm việc dưới sự hướng dẫn của hai thầy, được học hỏi kinh nghiệm của thầy là cơ hội may mắn hiếm có đối với bác sĩ Nguyễn Văn Nhân. Sau này khi ra trường công tác, học tập và nghiên cứu, ông đều có thói quen ghi chép một cách cẩn thận, tỉ mỉ. Nhờ đó mà ông có thể tổng kết, theo dõi rút kinh nghiệm và thực hiện những đề tài nghiên cứu khoa học khác nhau. Gần 10.000 tư liệu liện vật của GS Nguyễn Văn Nhân hiện đang lưu giữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, gồm nhiều loại hình hiện vật khác nhau: Sổ ghi chép; Bản thảo đề tài, báo cáo nghiên cứu khoa học; Ảnh tư liệu…là minh chứng cho điều đó.

Trong sâu thẳm tâm thức của GS Nguyễn Văn Nhân, được học từ các thầy đầu ngành của ngành Y như: thầy Tôn Thất Tùng, thầy Đặng Văn Chung, thầy Đinh Văn Thắng…là một vinh dự lớn. Trong đó hai năm thực tập ở Trạm Giải phẫu A thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với ông.

Hai năm không phải là dài nhưng những kinh nghiệm quý báu học được ở hai thầy đã giúp GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân đứng vững bên bàn mổ, cứu chữa thương binh, người bệnh, rồi trưởng thành trong những năm tháng công tác độc lập, trở thành chuyên gia đầu ngành Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Ông không bao giờ quên công lao của những người thầy đáng kính dù các thầy đã đi xa: "Tôi coi những gì tôi làm được đều là nhờ sự tài ba, công lao to lớn của các thầy, trong đó có thầy Hoàng Đình Cầu và thầy Nguyễn Hữu".

                Hoàng Thị Liêm

                                                     Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

 

 

 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Số lần đọc tin:
close

Thông báo